Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn gốc câu “Truyện Kiều còn…”

Có nhiều sự bình luận khác nhau, thậm chí đối lập nhau về câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Cần phải tìm đến văn bản đầy đủ và bối cảnh ra đời của nó mới hiểu đúng thực chất. Chúng tôi xin gửi đến quí bạn đọc mấy văn liệu sau để cùng tham khảo:

- Phim Truyện Kiều và tôn vinh Truyện Kiều của cố tác giả Bạch Diện Nguyễn Văn Cư in trong Hà Nội Xưa và Nay.

- Bài diễn thuyết bằng quốc văn của Phạm Quỳnh, năm 1924.

- Luận cùng chánh học và tà thuyết của Cụ Ngô Đức Kế, năm 1924.

- Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? của Cụ Huỳnh Thúc Kháng, năm 1930.

- Ý kiến của Cụ Á nam Trần Tuấn Khải và Giáo sư Đặng Thai Mai.

- Hai ý kiến đối lập của các GS. Nguyễn Đình Chú và GS. Phong Lê, đều là học trò của GS. Đặng Thai Mai, để thấy “con hơn cha…” thời hiện đại!

Sau đây chúng tôi giới thiệu phần trích của cố tác giả Bạch Diện Nguyễn Văn Cư và toàn văn bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh.

Phim Truyện Kiều và tôn vinh Truyện Kiều…
(Trích từ Hà Nội Xưa và Nay. NXB Hội Nhà văn. H.2015. Trg.155-156). Phụ đề của người sưu tầm.

Năm 1940, khi Nhật mới kéo vào Đông Dương, Pháp xây đài kỷ niệm Alexandre de Rhode nhân có phong trào truyền bá Quốc ngữ, để tỏ cho người Nhật biết rằng người Việt Nam vẫn gắn bó với Pháp. Thực dân Pháp thường hay lợi dụng phong trào để tuyên truyền và để ru ngủ dân Việt Nam. Từ năm 1924 trở đi, dân chúng Việt Nam khắp nơi dấy lên phong trào yêu nước chống Pháp, do chịu ảnh hưởng về các bài báo của Cụ Nguyễn Ái Quốc từ Pháp đưa về. Tiếp đó đến các cuộc diễn thuyết của cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn, rồi đến dịp làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Hà Nội. Phong trào nổi lên bột phát, thực dân Pháp liền sai Phạm Quỳnh tổ chức phong trào “Bình luận văn chương Truyện Kiều” trên báo Nam Phong, tổ chức các cuộc diễn thuyết về Truyện Kiều tại trường Trí Tri phố Hàng Quạt, làm lễ kỷ niệm cụ Nguyễn Du tại Hội quán Hội Khai trí Tiến Đức. Chúng còn trợ cấp cho công ty Pon-ma-ray quay cuốn phim Truyện Kiều. Người đóng phim không có, bọn Pháp dùng ngay các đào kép rạp tuồng Quảng Lạc, huấn luyện qua quýt mấy tuần lễ rồi quay phim: đào Liên đóng Thúy Kiều, đào Cưỡng đóng Thúy Vân, kép Thứ đóng Vương Quan, đào Tám Long đóng Đạm Tiên, đào Đính đóng Hoạn Thư, đào Giáo đóng mụ Tú bà; kép Ngân đóng Mã Giám Sinh, kép Lộ đóng quan phủ, kép Sáu Phủ đóng Từ Hải, kép Giò đóng Vương ông. Vai Kim Trọng do một ông giáo tỉnh nhỏ, nhân tình của đào Liên xin đóng. Các vai phụ khác thì thay đổi, như đào Tám Long vừa đóng vai Đạm Tiên lại vừa đóng vai Mã Kiều, kép Vân vừa đóng vai Mã Giám Sinh lại đóng vai Thúc Sinh. Kép Giò vừa đóng vai Vương ông lại đóng vai Thúc ông. Vì thiếu người đóng nên một đào hay một kép phải đóng mấy vai, riêng vai Thúy Kiều không thay đổi, còn vai Kim Trọng thì ông giáo nọ không chịu đóng các vai phụ khác. Phong cảnh đều mượn các nơi chung quanh Hà Nội: hội Đạp Thanh mượn nghĩa địa Quảng Đông của Hoa kiều ở làng Láng Trung; hiên Lâm Thúy mượn cái vườn cảnh của con cháu Nguyễn Bá Kim, thường gọi là Thương Kim, ở nhà số 29 phố Hai Bà Trưng ngày nay. Vườn này hồi bấy giờ rất rộng và đẹp, trồng nhiều cây cảnh và một số cây quả, có giả sơn, có đình tạ; nhà thanh lâu của Tú bà thì mượn cái phòng khách trên gác nhà mụ Bé Tý, ở nhà số 74 phố Hàng Bạc. Ở đây có sẵn bàn ghế gụ và trắc làm theo kiểu cổ và đặc biệt có đôi câu đối khảm xà cừ “Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí phách; Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài”(*). Sông Tiền Đường mượn cảnh Hồ Tây; thảo am nơi Thúy Kiều đi tu mượn đền Voi Phục. Phim Kim Vân Kiều mới đem chiếu được nhiều người xem, vì là phim một truyện ai cũng thuộc lại do người Việt Nam đóng. Tuy nhiên, phong trào truyện Kiều do Phạm Quỳnh gây nên và phim Truyện Kiều chẳng làm giảm được phong trào yêu nước của nam nữ thanh niên hồi bấy giờ.

(*) Đôi câu đối rút trong bài hát của nhà thơ Tú Xương, có nghĩa là thú phong lưu rất mực ở đời là khí phách kẻ giang hồ; Cái phẩm giá cao quý nhất của người đời là tình giăng gió. Theo quan niệm xưa thì đôi câu đối này đối với đàn ông là hay, nhưng đối với đàn bà thì ngụ ý bảo người ta là con đĩ. Chẳng rõ cụ nhà Nho nào xui mụ Bé Tý nhắm đôi câu đối này để treo ở nhà mụ.

Anh-minh-hoa---Nguon-goc-cau-Truyen-Kieu-con-1
Trong như tiếng hạc bay qua… – Nguồn: dehoctotvan.com

———————————–

Bài diễn thuyết bằng Quốc văn
(Đọc tại lễ kỷ niệm Nguyễn Du, nhân ngày mất (10 tháng 3 âm lịch), do Ban Văn học Hội Khai trí tổ chức)

Thưa các ngài,

Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên Điền Nguyễn tiên sinh, là bậc đại thi nhân của nước Nam ta, đã làm ra bộ văn chương tuyệt tác là Truyện Kim Vân Kiều.

Ban Văn học Hội Khai Trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ niệm để nhắc lại cho quốc dân nhớ đến công nghiệp một người đã gây dựng cho quốc âm ta thành văn chương, để lại cho chúng ta một cái “hương hỏa” rất quý báu, đời đời làm vẻ vang cho cả giống nòi.

Chúng tôi thiết nghĩ một bậc có công với văn hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ niệm chung của cả nước.

Hiện nay suốt quốc dân ta, trên từ hàng thượng lưu học thức, dưới đến kẻ lam lũ làm ăn, bất cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết Truyện Kiều, ai ai cũng thuộc Truyện Kiều, ai ai cũng kể Truyện Kiều, ai ai cũng ngâm Truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công nghiệp của cụ Tiên Điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ cụ và nghĩ đến cái ơn của cụ tác thành cho tiếng nước nhà.

Muốn cảm cái ơn ấy cho đích đáng, hẵng thử giả thuyết cụ Tiên Điền không xuất thế, cụ Tiên Điền có xuất thế mà quyển Truyện Kiều không xuất thế, quyển Truyện Kiều có xuất thế mà vì cớ gì không lưu truyền, thời tình cảnh tiếng An Nam đến thế nào, tình cảnh dân tộc ta đến thế nào?

Văn chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc, ví lại khuyết nốt thì dân tộc ấy đến thế nào?

Than ôi! Mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng sốt, rụng rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ dịp rung đùi, lên giọng cao ngâm:

Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

Hay là:

Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo túi cơm sá gì.

bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!…

Có nghĩ cho xa xôi, cho thấm thía, mới hiểu rằng, Truyện Kiều đối với vận mệnh nước ta có một cái quý giá vô ngần.

Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn tự văn khế phân minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở hữu chính đáng. Mãi đến thế kỷ mới rồi mới có một đấng quốc sĩ, vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực, “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên, rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân một cõi sơn hà gấm vóc.

Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy:

Gẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!

Báu ấy là lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên của Cụ. Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh vắng vẫn thường tỉ tê thánh thót trong lòng ta, như: Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà vậy.

Cái áng văn chương tuyệt tác cho người đời đó, ai tri lại không phải là một thiên lịch sử thống thiết của tác giả?

Truyện Kiều quan hệ với thân thế cụ Tiên Điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng Kim sẽ diễn thuyết tường tận để các ngài nghe.

Nay tôi chỉ muốn biểu dương cái giá trị của Truyện Kiều đối với văn hóa nước ta, đối với văn học thế giới, để trong buổi kỷ niệm này đồng nhân cảm biết cái công nghiệp của bậc thi bá nước ta lớn lao to tát là dường nào.

Đối với văn hóa nước nhà, cái địa vị Truyện Kiều đã cao quý như thế; đối với văn học thế giới, cái địa vị Truyện Kiều thế nào?

Không thể so sánh với văn chương khắp các nước, ta hẵng so sánh với văn chương hai nước có liên tiếp quan hệ với ta, là văn chương Tàu và văn chương Pháp. Văn chương Tàu thật là mênh mông bát ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với Truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như Truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay cụ Tiên Điền ta biến hóa hẳn, siêu việt ra cả lề lối văn chương Tàu, đột ngột như một ngọn cô phong ở giữa đám quần sơn vạn hác vậy. Có người sánh Truyện Kiều với Ly tao, nhưng Ly tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi đát thảm thương, so với Cung oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây sương, nhưng Tây sương là một bản hát, từ điệu có véo von, thanh âm réo rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn chương chân chính. Cứ thực thì Truyện Kiều dẫu là đằm thắm cái tinh thần của văn hóa Tàu, dẫu là dung hòa những tài liệu của văn chương Tàu, mà có một cái đặc sắc văn chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự “kết cấu”. Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ văn nho nhỏ, ngăn ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên tập, không sành cách kết cấu. Biên tập là cóp nhặt mà đặt liền lại; kết cấu là thu xếp mà gây dựng nên, thế nào cho thành một cái toàn bức các bộ phận điều hòa thích hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn bức như thế, mà là một bức tranh thế thái nhân tình vẽ sự đời như cái gương tày liếp vậy.

Xét về cách kết cấu thì văn chương nước Pháp lại là sở trường lắm. Cho nên Truyện Kiều có thể sánh với những áng thi văn kiệt tác của quý quốc, như một bài bi kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể tài văn chương. Còn về đường tinh thần thời trong văn học Pháp có hai cái tinh thần khác nhau, là tinh thần cổ điển và tinh thần lãng mạn. Tinh thần cổ điển là trọng sự lề lối, sự phép tắc; tinh thần lãng mạn là trọng sự khoáng đãng, sự ly kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh thần ấy, vì vừa có cái đạo vị thâm trầm của Phật học, vừa có cái nghĩa lý sáng sủa của Nho học, vừa có cái phong phú tiêu dao của Trang, Lão, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần bí của nhà chùa, sự khoáng dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như Truyện Kiều, vì Truyện Kiều có những cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”. Phàm đại văn chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng lưu học thức mới thưởng giám được, kẻ bình dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, “lẩy” Kiều để ứng dụng trong sự ngôn ngữ thường, kẻ thông minh hiểu cách thâm trầm, kẻ tầm thường hiểu cách thô thiển, nhưng ngâm nga lên thảy đều thấy làm vui tai, sướng miệng, khoái chí, tỉnh hồn.

Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa? Tưởng dễ chỉ có một Truyện Kiều ta là có thể tự cao với thế giới là văn chương chung của cả một dân tộc mười tám, hai mươi triệu người già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều hay cả.

Như vậy thì Truyện Kiều không những đối với văn hóa nước nhà, mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý.

Văn chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ vang với thiên hạ, tưởng cũng là một cái kỳ công có một trong cõi văn thế giới vậy.

Cái kỳ công ấy lại dũ kỳ nữa là ngẫu nhiên mà dựng ra, đột nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột ngột giữa trời Nam như cái đồng trụ để tiêu biểu tinh hoa của cả một dân tộc. Phàm văn chương các nước, cho gây nên một nền thi văn kiệt tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao công lục lực, vun trồng bón xới mới thành được. Nay bậc thi bá nước ta, đem cái tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng bạc trong non sông, một mình làm nên cái thiên cổ kỳ công đó, dẫu khách thế giới cũng phải bình tình mà cảm phục, huống người nước Nam được trực tiếp hưởng thụ cái ơn huệ ấy lại chẳng nên ghi tạc trong lòng mà thành tâm thờ kính hay sao?

Cuộc kỷ niệm hôm nay là chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái cảnh mộ cụ Tiên Điền ta; lại có các quý hội viên Tây và các quý quan đến dự cuộc là để chứng kiến cho tấm lòng thành thực đó. Nhưng còn có một cái ý nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc sĩ, Thác là thể phách, còn là tinh anh, áng tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập chừng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây. Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!”.

Nam Phong, số 86, tháng 8-1924
(In trong Tranh luận về Truyện Kiều, Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm. NXB Văn học. H.2014. Từ trg.11)

———————————–

Chú dẫn của người sưu tầm:

Năm 1919, Phạm Quỳnh có bài khảo cứu rất dài về Truyện Kiều, trong đó có nhận định: “Bao giờ bán đảo Đông Dương này còn có người Việt Nam ở, người Việt Nam còn biết nói tiếng Việt Nam, thì truyện Kiều còn có người đọc, truyện Kiều còn có người đọc thời cái hồn cụ Tiên Điền còn phảng phất mãi trong sông núi đất Việt Nam không bao giờ mất được”. Đó là một nhận định rất đúng, rất khoa học. Câu “Truyện Kiều còn…” năm 1924 là ngược hẳn lại. Giáo sư Đặng Thai Mai cho là một câu lập dị. Đọc phần trích “Hà Nội Xưa và Nay” của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư sẽ giúp hiểu được sự thay đổi của Phạm Quỳnh.

(Còn tiếp kỳ sau)

Năm Châu Đốc (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 473

Ý Kiến bạn đọc