Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn gốc câu “Truyện Kiều còn…”

KỲ 2:

Luận Về Chính Học Cùng TÀ Thuyết Quốc Văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du
Ngô Đức Kế

Vận nước thịnh hay suy quan hệ tại đâu? – Tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cỗi gốc tại đâu? – Tại học thuyết tà hay chính.

Rộng xét năm châu, trải xem lịch sử, dọc ngang mấy vạn dặm, trên dưới mấy ngàn năm, từ Đông đến Tây, từ xưa đến nay, hễ nước nào khi vận nước thịnh cường tất là khi ấy trong nước chính học sáng rệt; nước nào khi vận nước suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành. Chính học sáng rệt thì thế đạo nhân tâm phải tốt, mà vận nước cũng theo chính học mà nổi lên; tà thuyết lưu hành thì nhân tâm thế đạo phải hư, mà vận nước cũng theo tà thuyết mà đắm mất.

Khi chính học đương quang minh, thì tà thuyết không có chỗ nào xen vào được; tà thuyết lưu hành trong nước như gió lướt cỏ, như nước vỡ đê, không ai ngăn cản, thì thường vào lúc chính học đã suy đồi, mà nhất là cuộc đời biến cải, việc nước đổi thay, quốc thị mơ màng, nhân tâm bỡ ngỡ, nền cũ đã đổ, nhà mới chưa thành, bậc hiền nhân quân tử thì kín tiếng giấu tăm, nằm co ở nơi thảo dã; mà bọn bỉ phu tục tử thì khua chuông gõ mõ nhảy nhót ở trên vũ đài, lúc ấy chính là lúc tà thuyết thừa cơ mà lấn lướt chính học.

Thầy thuốc ta nói rằng: khi trong mình mà chính khí hư nhược, thì ngoại tà nhân dịp mà xâm vào, làm cho người phát bệnh, dần dần do biểu mà nhập lý thì thành bệnh khó trị. Thầy phù thủy nói rằng: khi trong mình mà chính thần không bảo hộ, thì quỷ tà nhân dịp mà ám vào, cũng làm cho người phát bệnh, dần dần thì người hóa ra ma. Tà thuyết cũng như thế, vì chính học suy cho nên tà thuyết thịnh; tà thuyết đã thịnh thì chính học phải đến tiêu vong, hai đàng ấy tiêu, trưởng, tồn, vong, dù đất nào thời cũng không sai một sợi tóc.

Anh-minh-hoa---Nguon-goc-cau-Truyen-Kieu-con---ky-2---Anh-3
Trong như tiếng hạc bay qua… Nguồn: dehoctotvan.com

Vả lại cái tính loài người, theo điều phải thì khó khăn như trèo ngược núi, theo điều xằng thì dễ dàng như nước chảy xuôi. Vậy cho nên lúc vận nước đã suy thì trăm ngàn người phò trì chính học mà không đủ, một người xướng lên tà thuyết mà hãm hại nhân tâm thế đạo có thừa, gớm ghê thay! Cái tà thuyết làm sa đắm lòng người không biết đến đâu mà nói. Một người xướng mười người họa, cho đến trăm nghìn người họa, dần dần phong hành cả nước, lấy trái làm phải, lấy xấu làm đẹp, lấy thối làm thơm, mà thế đạo nhân tâm hiện ra một tấn xú kịch: nước không thành nước, người không thành người. Thầy Mạnh Tử sinh ra đời Chiến quốc, vì lúc ấy cái học thuyết họ Dương, họ Mặc, thịnh hành trong thiên hạ mà ngài phải lo cự họ Dương, họ Mặc; giảng minh cái học Chu, Khổng, để chữa đổi lòng người. Đời sau khen ngợi cái công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm không thua gì công vua Vũ tháo nước lũ đuổi muông dữ để cho thiên hạ được an cư lạc nghiệp. Vì sao mà nói thế? Là vì cái hại tà thuyết mê đắm lòng người có kém gì cái hại nước lụt trôi người, muông dữ ăn người đâu, mà lại thậm hơn nữa.

Nước Việt Nam ta, vài nghìn năm nay, học chữ Hán, theo đạo Khổng, Hán văn tức là quốc văn. Khổng học tức là quốc học, tuy rằng giang sơn biến cải, triều đại đổi thay có mấy mươi lần, cơn hiểm nguy biến loạn đã nhiều, mà chính học một dòng vẫn không sa sút; nhân tâm, phong tục, đạo đức, chính trị đều bởi đó mà ra; nước nhà giống nòi, cũng nhờ đó mà vững được. Từ khi Âu trào tràn khắp thế giới, nước ta có cuộc bảo hộ, mà cái học “chi, hồ, giả, dã” mới đổi sang “a, b, c, d”. Đem Âu học mà đổi Hán học không phải là có hại, song thiên hạ việc gì cũng thế, phá cái cũ thì dễ mà chống, lập cái mới thì khó mà lâu. Âu học chưa vin được ngọn ngành, mà Hán học đã đứt cả cỗi rễ; những người chân chính Âu học, có kiến thức tư tưởng, thì còn trông mong ao ước ở đâu chưa thấy, mà những người chân nho chính sĩ Hán học thì đã quá nửa mòn mỏi điêu linh. Chính phủ thì chỉ có thể chăm lo tác thành lớp nhân tài trong các học đường mà thôi, còn ngoài ra miễn là không phạm đến chính trị thì tha hồ ngôn luận; nhà in đã sẵn, sở báo cũng nhiều, khi ấy bọn văn sĩ giả dối mới ứng thời xuất hiện. Những người học thức kiến văn chưa được một nắm, nhân cách giá trị chẳng đáng là bao, mới lom lem những học thuyết ông Mạnh (Montesquieu), ông Lư (Rousseau), bập bẹ những cách ngôn họ Trang, họ Liệt, thì đã nghiễm nhiên tự lập làm một đấng văn hào, tự xưng khai hóa quốc dân, mà không ngó lại mình đã khai hóa hay chưa; thôi thì bài diễn văn chất đống, sách du ký đầy thùng, thôi thì tán xằng tán nhảm, nói bậy nói càng, không còn nghĩa lý chính đáng chi nữa.

Thương hại thay! Trong nước kẻ học thì ít, kẻ không học thì nhiều; học mà có kiến thức thì ít, học mà không kiến thức thì nhiều; những văn chương nhảm nhí, ngôn luận càn xiên ấy đã tràn khắp cả nước, làm cho phải, chẳng điên đảo, đen, trắng lẫn phèo, rồi ra lấy dốt làm thông, tôn nịnh làm thánh, đá vũ phu mà cho là ngọc, nàng Vô Diệm mà cho là sắc khuynh thành; đạo đức càng ngày càng suy đồi, nhân tâm càng ngày càng theo về đường hư ngụy. Cái xã hội Âu chẳng ra Âu, Hán chẳng ra Hán này há không phải bởi các nhân vật giả dối Âu chẳng ra Âu, Hán chẳng ra Hán ấy múa bút khua lưỡi mà gây nên ư? Tác giả có phải cố ý bài bác người đời để mua hờn chuốc oán làm chi; thiệt là trông ra gai mắt, nghĩ đến đau lòng, muốn nói cũng chẳng nói hết đâu, hãy dẫn ra sau này một chuyện:

Kim Vân Kiều là sách gì? Chưa nói sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc đến cái tên sách, thì nghe đã không thể nào ngửi được. Vì sao thế? – Phàm bộ truyện nào dẫu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân, sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi; nay truyện ấy là sự tích cô Vương Thúy Kiều mà tên sách đặt ba người, một người thì lấy chữ họ mà mất tên, hai người thì lấy chữ tên mà mất họ, thì thiệt là dốt vô cùng. Cái tên ấy chắc là tự nhà khắc bản in đặt ra, chứ ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế; dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi. Nói đến sự tích, thì phàm truyện tiểu thuyết đều là lấy một chút sự thực trong lịch sử, hoặc là tự ý nhà văn sĩ bịa ra chứ bất tất có chuyện thiệt, truyện Thanh Tâm tài nhân (tức là Truyện Kiều) là một bộ tiểu thuyết tầm thường, không có giá trị gì. Xem trong bộ Tình sử của Tàu, biết bao nhiêu truyện ly kỳ hơn nữa. Vả dù sự tích ấy mà có thiệt đi nữa, thì một đôi thiếu niên nam nữ, đêm thanh vắng, trèo tường trổ ngõ, ước hội chuyện trò với nhau, đối với phong hóa đạo đức đã là việc bất chính; mở đầu quyển sách như thế, dù sau có tô vẽ hiếu nghĩa gì đâu nữa cũng không đủ làm gương tốt cho đời.

Anh-minh-hoa---Nguon-goc-cau-Truyen-Kieu-con---ky-2---Anh-4
Người nách thước kẻ tay đao… Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Nói về văn chương quốc âm của ông Nguyễn Du, thì vẫn là hay thiệt, song cái lối văn vần, ngâm nga ngợi hát, chỉ là một lối trong đạo văn chương. Văn tuy hay mà chuyện là chuyện phong tình, thì cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi, tám chữ ấy không tránh đằng nào cho khỏi. Cái bản ý ông Nguyễn Du làm truyện Đoạn trường tân thanh ấy (tức là Truyện Kiều) chỉ là mượn chút văn chương mà ngụ chút tâm sự mình, cho nên ông đã có câu: “Lời quê góp nhặt dông dài – Mua vui cũng được một vài trống canh”. Xem thế thì biết truyện ấy chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn thì đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu.

Ngày trước các cụ tiền bối thường cấm con em xem Truyện Kiều; trong xã hội, ai hay đọc Kiều nghêu ngao, thì cho là kẻ đàng điếm. Ý các cụ nghĩ rằng: các gã thiếu niên, chí khí chưa định, tình dục đang nồng, xem truyện thì mê, rồi sinh cái tư tưởng trộm ngọc cắp hương, khêu hoa ghẹo nguyệt, say đắm trong trời tình bể ái, mà mềm nhũn cái gan lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa. Cái phép gia đình giáo dục của các cụ như thế, thiệt phải lắm. Vì cái tính trộm ngọc cắp hương, say hoa đắm nguyệt, người sinh ra không dạy cũng biết, vẫn cấm mà không được, huống chi lại thấy trong sách, trong truyện, ngâm nga ngợi hát, thành ra một việc rất phong nhã, rất hào hoa!

Thế mà ngày nay đức văn sĩ giả dối ta biểu dương Truyện Kiều lên để khai hóa cho quốc dân, đem Truyện Kiều làm sách Quốc văn giáo khoa (sách dạy), làm sách Sư phạm giảng nghĩa (sách thầy). Văn sĩ thường nói rằng: “Học Hán văn là học mướn, học Pháp văn là học mướn, học quốc văn mới là học nhà, Truyện Kiều tức là sách ta đó”.

Ôi! Học làm quốc văn thì học thế nào? Bài này chưa có thể nói được; song có phải là học nghĩa lý, danh từ về các khoa học, luân lý, cách trí, chính trị, cùng là phép luận lý, phép ký sự, để xem các sách vở ngôn luận của ta cho hiểu, để đem tư tưởng sở đắc trong Pháp học mà phát ra làm trước thuật ngôn luận của ta cho thông không? Hay là học cái lối thơ phú ca ngâm, nắn một chữ cho hay, dùng những điển cho lạ, rung đùi lắc gối, như lối học ngày xưa, đã vì thế mà người ngu nước yếu, nay lại đổi ra chữ Nôm ư? Hay là những cái danh từ “tài tử giai nhân, ba sinh duyên nợ, gương thề quạt ước, liễu dựa hoa kề, rày ước mai ao, thầm yêu trộm nhớ”, xưa nay không ai dạy mà không mấy ai không thuộc lòng, trong các bức thư hoa tình không câu nào không Kiều, mà nay còn phải dạy nữa cho thêm giỏi, thế là học quốc văn ư? Một anh giả dối lóp lép, đứng đầu sùng bái Kiều, mà một bọn u mê hờ hững gào hơi ráng sức để họa theo; còn một lớp người chỉ nghe lỏm nhìn mồm thì vỗ tay tán thưởng, khiến người phải bịt tai bưng mũi, phải nhức đầu long óc vì những tiếng to: “Quốc văn!!! Kim Vân Kiều!!! Nguyễn Du!!!”.

Cứ như ý họ, thì nước ta ở thế kỷ này mà muốn chế cái tễ thuốc “Thập toàn đại bổ” cho dân cho nước, thì không chi bằng quyển sách “Trăm năm trong cõi người ta”. Cứ như lời họ, thì từ lúc Gia Long lại nay, nước Nam ta có cái của rất quý báu mà người mình ngu dại không biết là quý, nay nhờ đức văn sĩ có cái đại nhãn, đại thức mà phát minh cái của báu ấy cho dân cho nước được nhờ, kể cái công phát kiến không kém gì ông Kha Luân Bố (Colombus) tìm được Mỹ châu vậy!

Vậy cho nên, trong nước ngày nay, nào là bình phẩm văn chương Kiều, nào là phê bình nhân vật Kiều, nào là chú thích Kiều, nào là thơ vịnh Kiều, cho đến hát tuồng Kiều, diễn kịch Kiều, chớp ảnh Kiều, trong nhà ngoài đường, trên trời dưới đất, đâu đâu cũng Kiều. Cứ xem hiện trạng ấy thì nước Việt Nam ngày nay gọi tên là Kim Vân Kiều quốc, nòi giống Việt Nam ta gọi là đại Kim Vân Kiều tộc, cũng đúng lắm chứ không sai!

Xem trong bộ Tùy Viên thi thoại có nhà làm bài thơ vịnh Quan Công dùng sự tích Vân Trường bỉnh chúc (là lúc Quan Công cầm đuốc suốt đêm đứng hầu nhị tẩu) mà ông Tùy Viên chê rằng đem sự tích tiểu thuyết mà làm vào thơ là người vô học. Bộ Tam quốc chí là bộ tiểu thuyết nhất danh tiếng, sự tích Quan Công ai chẳng tin thật mà kính thờ, thế mà người ta còn cười đem tích tiểu thuyết làm thơ. Truyện Thanh Tâm tài nhân là tiểu thuyết hèn mạt bên Tàu, mà nay nước Việt Nam tôn phụng làm chính kinh chính sử, thiệt là rước lấy một cái đại sỉ nhục.

Thậm chí sùng bái Truyện Kiều mà nói rằng: “Truyện Kiều là quốc hoa, là quốc hồn, là quốc túy của Việt Nam” – không biết có còn quốc gì nữa không? Xưng tụng ông Nguyễn Du mà nói rằng: “Nguyễn Du dịch Kiều từ đời Gia Long”, thế thì từ Gia Long về trước, chưa có Truyện Kiều, thì nước ta không có quốc hoa, không quốc túy, không quốc hồn, thế thì cái văn trị vũ công mấy trào Đinh, Lý, Trần, Lê sáng chói rực rỡ đó, đều là ở đâu đem đến cho bọn “học thuê viết mướn” ấy mà thôi; thế thì những bậc đại hào kiệt, đại huân nghiệp, cứu dân giúp nước, tái tạo giang sơn, mở mang bờ cõi cho nước ta ngày xưa, không ai làm được vẻ vang cho giống nòi, không ai đáng kỷ niệm cả, mà chỉ ông văn sĩ “Trăm năm trong cõi” là làm vẻ vang giống nòi, là đáng kỷ niệm mà thôi”. Giống nòi ta vẻ vang ra thế nào?

Thậm nữa lại nói rằng: “Truyện Kiều quan hệ văn hóa Việt Nam, Truyện Kiều quan hệ quốc vận Việt Nam, nếu không có Truyện Kiều thì tình trạng dân tộc Việt Nam chưa biết đến thế nào”, thiệt là “Con oanh học nói” xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng, tà thuyết mê dân đến thế là cực. Mà có ai cho là tà thuyết đâu, nay đã nhà treo một bức, cửa yết một tờ, kèn trống rước vào, hương hoa cúng lễ rồi! Truyện Kiều là văn hóa Việt Nam, Truyện Kiều là sách học quốc văn, in vào trong óc, thấm vào trong lòng, tỉ như ngoại tà đã nhập đến ngũ tạng, quỷ tà đã ám mất linh hồn, thì dù lang y hay giỏi đến đâu, pháp sư cao tay đến đâu, cũng không cứu được nữa!

Trịnh Khải ở đời Đường, vì tiếng hay thơ mà làm quan đến Tể tướng (cụ lớn), anh ta lấy làm ái ngại mà tự nói rằng: “Trịnh Khải mà làm Tể tướng thì cuộc đời chẳng nói cũng biết rồi”. Ôi! Than ôi! Kim Vân Kiều mà cai trị nước Việt Nam, thì xã hội nước Việt Nam không nói cũng biết rồi!…

Hữu thanh, số 21, ngày 1-9-1924

(In trong Tranh luận về Truyện Kiều. Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm. NXB Văn học. H.2014, từ trang 76).

(Còn tiếp)

Năm Châu Đốc (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc