Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nguồn gốc câu “Truyện Kiều còn…”

Kỳ cuối
(Tiếp theo số 475, ngày 9-11-2017)

Vĩ thanh về Phạm Quỳnh

Sự trình bày sơ lược trên đây chứng tỏ một thực tế đáng lo ngại trong nghiên cứu văn học và cả trong sử học mà chúng tôi sẽ đề cập vào một dịp khác: Đó là sự không trung thực đối với tài liệu trích dẫn để biện luận theo tư tưởng của người nghiên cứu, nó không phản ánh đúng tư tưởng của đối tượng nghiên cứu. Câu đầy đủ của Phạm Quỳnh ý nghĩa khác hẳn với câu trích dẫn của các vị Nguyễn Đình Chú, Phong Lê và Phạm Ngọc Chiểu. Đương nhiên người nghiên cứu phải có quan điểm của mình. Nhưng quan điểm đó phải được thể hiện trên các luận cứ rõ ràng minh bạch, không làm sai lệch nội dung của văn bản, cứ liệu được trích dẫn. Có như thế mới không làm nhiễu sinh hoạt khoa học và sự tiếp nhận của bạn đọc.

Trước khi dừng lại câu chuyện Phạm Quỳnh, chúng tôi muốn tìm đến nguồn gốc tư tưởng chính trị và văn hóa của ông, cái quyết định mọi hoạt động và cũng là cơ sở để “định luận” một con người có tài nhưng đã đi lạc đường.

Thực dân Pháp không đếm xỉa đến học thuyết và những điều cầu xin của Phạm Quỳnh. Phát xít Nhật đã kết thúc sự nghiệp của ông sau ngày 9-3-1945. Ngày nay cần tìm hiểu để đánh giá đúng về ông. Vậy đâu là nguồn gốc tư tưởng chính trị và văn hóa của Phạm Quỳnh?

Có thể nói đấy là tư tưởng tôn thờ bạo lực, sức mạnh là chân lý, là lẽ phải: “Muôn sự ở đời đều lấy sức mạnh mà giải quyết hết… Công lý công nghĩa chẳng qua là những tiếng khẩu đầu” (1). “Sức mạnh không cần lý luận… Không có sức mạnh tất phải nhẫn nhục theo cách ôn hòa” (2). Trước Phạm Quỳnh quan niệm sức mạnh chỉ là sức mạnh vật chất. Đứng trước một nước Pháp giầu mạnh, chỉ có thể là ôn hòa, xin được xích lại gần nhau, chung sống với nhau: “Quý ngài có tất cả sự giầu mạnh về tinh thần và vật chất với kỹ thuật tân kỳ. Chúng tôi là một khối dân tộc còn yếu kém nhiều mặt… Hãy giúp cho dân chúng tôi phát triển, tiến bộ, giầu có để tự nó loại trừ mọi tình trạng bất ổn nhiễu nhương đáng tiếc…” (3).

Từ vị thế của kẻ yếu Phạm Quỳnh thần phục nước Pháp chỉ dám xin điều này điều kia, hơn thế, còn biện hộ, tô vẽ cho chủ nghĩa thực dân Pháp: “Và sự đi lấy thuộc địa cũng có nhiều cách. Lấy đất của người ta mà nô lệ, bác tước người ta là phi nhân đạo. Lấy đất của người ta mà ra công dìu dắt cho người ta bước mau trên đường tiến hóa, vị tất đã là việc phi nghĩa. Pháp lấy thuộc địa, dù là Algeria, Tunisia, Madagasca, Maroc, Tây Phi châu hay Ấn Độ, China (Đông Dương) này nữa, đều tuyên bố lấy khai hóa làm chủ nghĩa, hiệp tác làm phương châm. Thế thì cũng không phải là xa với nhân đạo vậy” (4); “Nước Pháp là đóa hoa quý… Nó đã xâm chiếm (thuộc địa) hoàn toàn chẳng vì mục đích thỏa mãn những nhu cầu bành trướng không có thật, mà chỉ nhằm tìm kiếm vinh quang, bởi vì đây chính là điểm yếu của nó, cái dân tộc này nó thích vinh quang” (5). Năm 1924 mà nói “… nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ” thì còn hơn là lập dị, ngụy biện, mà là cố tình che lấp sự thật. Năm 1930, Pháp thẳng tay khủng bố, dìm phong trào đấu tranh yêu nước trong máu mà viết như thế thì dư luận đương thời và sau này phê phán, lên án Phạm Quỳnh là xác đáng (6).

Nguon-goc-cau-Truyen-Kieu-con---Anh-3
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai – Ảnh: saimonthidan.com

Khi người Pháp thất thế, người Nhật mạnh hơn, Phạm Quỳnh lại theo người Nhật.

Về văn hóa, Phạm Quỳnh cũng bị nô lệ bởi tư tưởng Pháp. Khôi phục quốc hồn, tài bồi quốc học, tôn vinh Truyện Kiều, tiếng ta… là gặp gỡ và lặp lại tư tưởng của Ernst Renan, một nhà văn Pháp: “Nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une ame, un principe spirituel). Hồn ấy còn là nước còn, hồn ấy mất là nước mất…” (7). “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà cái mất đó mới thực là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa” (8). Tư tưởng nô lệ về văn hóa này rất phù hợp với âm mưu đánh lạc hướng phong trào yêu nước bằng các hoạt động văn hóa, điển hình là việc kỷ niệm Nguyễn Du và đề cao tuyệt đối tiếng ta trong câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…” mà đương thời, năm 1924, cụ Ngô Đức Kế đã phê phán. Tư tưởng nô lệ văn hóa này biểu hiện tập trung trong công thức của Phạm Quỳnh: đối với dân tộc này, phải giải phóng tinh thần trước khi giải phóng chính trị (9). Là phải học để biết đọc, biết viết… biết thế nào là tự do, biết nghĩa vụ làm người tự do. Khi đã có ý chí tự do rồi thì không ai có thể cướp được tự do (10)… Đơn thuần học thuật là duy tâm, duy ý chí. Nhưng vấn đề phức tạp hơn nhiều. Đối với con người hiện đại, nhận thức đi trước hành động. Nhưng nó chỉ có sức sống khi nó phản ánh đúng nhu cầu của một thực tại nhất định. Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng (Lênin). Phạm Quỳnh không nhìn thấy hay không thừa nhận nhu cầu của thực tại đương thời: Phải giải phóng dân tộc về chính trị mới có tiền đề cho giải phóng “tinh thần và luân lý”. Đó là sai lầm của Phạm Quỳnh về nhận thức luận. Phạm Quỳnh không thiếu năng lực để hiểu mối quan hệ này, khi ông nói rất nhiều và rất hay về truyền thống lịch sử của dân nước Nam. Thực ra người Pháp thấy rõ và tâm đắc với tư tưởng chống Cộng của Phạm Quỳnh. Năm 1930, Phạm Quỳnh đã báo động nạn dịch hạch Cộng sản (11). Trên lĩnh vực văn hóa, Phạm Quỳnh là cái loa đắc lực của thực dân Pháp, do Phòng chính trị Phủ Toàn quyền trực tiếp điều khiển. Dư luận đương thời xem Phạm Quỳnh là phản quốc cũng không phải là không có cơ sở (12).

Tuy vậy, văn hóa có tính độc lập tương đối. Mục đích của Phủ Toàn quyền chỉ cần giới thiệu đúng giá trị văn hóa văn minh Pháp là họ đã thành công (13). Cho nên giá trị khách quan khi giới thiệu văn hóa Pháp, là điều mà chúng ta nên ghi nhận. Bởi các giá trị cổ điển Pháp, cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… là của chung nhân loại.

Trong công trình nghiên cứu rất có giá trị: Cách tân nghệ thuật văn học phương Tây, NXB Khoa học Xã hội – 2017, GS. Phùng Văn Tửu đã ghi nhận ngay từ 2017, Phạm Quỳnh đã dịch một số bài thơ của Baudelaire và trong nhiều số Nam Phong các năm tiếp theo đều có dịch thơ, văn của Chateaubriand, Lamartin, Musset… Cách nhìn của GS. Phùng Văn Tửu là rất phù hợp cho sự nhìn nhận chữ quốc ngữ nói chung và Nam Phong nói riêng:

“Khi Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam năm 1858, thì chữ quốc ngữ từ chỗ chỉ là công cụ để truyền giáo đã nhanh chóng trở thành công cụ chính trị trong tay thực dân Pháp để chinh phục nước ta… Nhiều phát ngôn của các chính khách Pháp thời đó có liên quan đến vấn đề này… mà tiêu biểu hơn cả là ý kiến của tướng Pennequin lúc đó đang chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương: Quốc ngữ là công cụ thật sự để đưa tư tưởng chúng ta xâm nhập vào dân An Nam.

Chữ quốc ngữ nhanh chóng trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam… Theo chúng tôi, ngược lại với ý đồ của thực dân Pháp, nhìn từ góc độ tiếp nhận, chúng ta lúc đó đã chớp lấy quốc ngữ như là công cụ đắc lực để thoát khỏi ý thức hệ phong kiến phương Bắc từ bao đời và để tiếp thu có lựa chọn tinh hoa của phương Tây (Phùng Văn Tửu. Sđd. Trg.235).

Nguon-goc-cau-Truyen-Kieu-con---Anh-4
Rằng hay thì thật là hay – Ảnh: saimonthidan.com

Như vậy, dù theo ý đồ chính trị của Phủ Toàn quyền, nhưng khi giới thiệu được các tinh hoa văn hóa phương Tây – chủ yếu là của Pháp – thì đó là những việc hữu ích cho văn hóa và chữ viết quốc ngữ.

Sự phát triển của chữ quốc ngữ là một quá trình lâu dài. Chữ quốc ngữ đến nay đã có 400 năm lịch sử. Đóng góp của Phạm Quỳnh và Nam Phong là một thời đoạn trong quá trình đó. Chính Phạm Quỳnh đã thừa nhận: Các nhà Nho Trung Hoa vào đầu thế kỷ XX đã tiếp thu văn hóa phương Tây và dịch các tác phẩm của Darwin, Kant, Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot sang tiếng Hán, được truyền sang Đông Dương và các nhà Nho Việt Nam đã “đọc ngốn ngấu”, “họ bèn dịch lại từ tiếng Hán sang tiếng Nam không chỉ tác phẩm của Rousseau, Montesquieu, Kant và Darwin, mà cả những sách giáo khoa thường thức khoa học do các tác giả Trung Hoa viết cho các trường học mới ở Trung Quốc, và khi dịch như thế họ dùng luôn chữ quốc ngữ. Nhờ đó tiếng Nam trở nên phong phú” (14). Phạm Quỳnh còn nhấn mạnh: “Cần phải ghi nhớ một thực tế hiển nhiên là: trước khi ở nước tôi có tầng lớp Tây học có khả năng dịch sang tiếng Nam các tác phẩm Pháp, có khả năng phổ biến bằng tiếng mẹ đẻ những tri thức khoa học mới thì các nhà Nho lớp cũ đã làm việc đó nhờ cảm hứng từ các sách Trung Hoa” (15); “Các tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ ngày càng nhiều… Hàng chục tờ báo và tạp chí bằng chữ viết mới được xuất bản ở Hà Nội và Sài Gòn” (16). Rất gần gũi với Trần Trọng Kim: Chữ quốc ngữ đã phổ thông cả trong nước – trước 1920 (17). Đóng góp của Phạm Quỳnh và Nam Phong về văn hóa như thế là đã rõ. Phủ nhận hết hay đề cao quá mức đều là bất cập.

Câu chuyện Phạm Quỳnh đã rõ ra như thế thì có thể dừng lại. Trước mắt đang có nhiều việc cần hơn. Nhà bác học Stephan Hawking cho rằng, nếu khai thác tài nguyên và sản xuất như hiện nay thì Trái Đất chỉ có thể chịu đựng được 200 năm nữa. Gần đây ông nói chỉ 100 năm nữa. Nhà kinh tế học Ba Lan Kolodko, trong Thế giới đi về đâu, nói phải cần đến hai Trái Đất! Nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận nói con người đang tự đào bới nơi sinh sống của mình… Đúng là con người hiện nay đang tự phá hủy môi trường sống của mình. Lũ lớn gây vỡ đê sông Cầu Chày và sạt lở đê sông Chu ở Thọ Xuân (Thanh Hóa) vừa rồi đều do rừng bị chặt phá và hút cát dưới lòng sông. Năm mươi năm trước, sông Cầu Chày không có đê. Còn sông Chu mùa mưa mùa cạn đều đặn theo quy luật thời tiết khí hậu. Nay mưa to thì lụt lớn. Mùa đông thì cạn kiệt, nước ô nhiễm cá lồng cũng không sống được. Con người sử dụng quá mức nhu cầu dù ở mức độ nào cũng là tàn phá, hủy hoại môi trường và sức khỏe của chính mình. Hàng hóa kéo theo sự tha hóa. Sự ngăn cách giữa các tầng lớp dân cư “kẻ ăn không hết, người lần không ra” ngày càng lớn là một trong các nguyên nhân của tệ nạn xã hội.

Nền sản xuất theo quy luật giá trị thặng dư, thị trường tự do là nguồn gốc của thảm họa đã và đang đến với loài người. Nó cũng chứng tỏ sự yếu ớt của con người: không thắng được cảm giác bản năng, lại bị nền sản xuất này mở rộng, kích thích bản năng, sản xuất ra các nhu cầu đến vô tận. Chỉ có trở lại tinh hoa Nho giáo, Phật giáo và truyền thống dân tộc, xây dựng nếp sống thanh đạm, giản dị, tiết kiệm… cùng với nền sản xuất khoa học hợp lý. Ở đây vai trò quản lý của Nhà nước theo tư tưởng của Lênin – Nhà nước tự quản, Nhà nước tiêu vong – mới đáp ứng được. Một nền sản xuất phi lợi nhuận phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội. Đó mới thật sự là một xã hội Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Đấy là điều chúng tôi tin tưởng tuyệt đối. Nếu ngược lại, nghĩa là con người vẫn ở trạng thái bị tha hóa – con người không thắng được chính mình. Mà cụ thể hơn, như ý kiến của nhà văn Vũ Hạnh: “Phải nói đến sự thèm muốn thư giãn sau những năm dài căng thẳng ở trong chiến cuộc, cùng sự đòi hỏi bù đắp về những thiếu thốn đã qua khiến con người buông lỏng quản lý đối với chính mình để cho cá nhân chủ nghĩa phục hồi, trỗi dậy một cách quái gở…” (Tham luận tại Hội thảo Văn học – nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh 30 năm đổi mới. Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 472, ngày 19-10-2017. Trg.13).

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10-2017

Năm Châu Đốc (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 476

_______________________

(1-4-10): Thượng Chi văn tập. Văn học – 2006. Các trang 1107, 85, 271.
(2-7-8-11): Nam Phong, các số tháng 7-1926, số 164/7-1931, số 101/1925, số 154/9-1930.
(3-12): Giải oan lập một đàn tràng. Tâm Nguyện – Hoa Kỳ – 2001. Các trang 42 và 339.
(5-9-14-15-16): Tiểu luận bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932. Tri thức – 2007. Các trang 396, 458, 433.
(6-13): Phụ lục Luận chiến văn chương. Quyển 3. NXB Văn học – 2015.
(17): Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược. Văn học – 2015. Trg.24.

Ý Kiến bạn đọc