Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn gốc câu “Truyện Kiều còn…”

(Tiếp theo số báo 474, ngày 2-11-2017)

Kỳ 3
Chánh Học Cùng Tà Thuyết Có Phải Là Vấn Đề Quan Hệ Chung Không?

(Chiêu tuyết những lời bài báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời)

Huỳnh Thúc Kháng

Báo Phụ nữ tân văn số 67, ra ngày 28-8-1930 có đăng bức thơ của ông Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong trả lời cho ông Phan Khôi về câu chuyện Học phiệt. Trong thơ ông Quỳnh có kể chuyện ông Ngô Đức Kế ngày làm chủ bút báo Hữu thanh có bài công kích ông về Truyện Kiều. Bài ông nói đó tức chỉ bài Chánh học cùng tà thuyết của ông Ngô đăng báo Hữu thanh số 21, ra ngày 1er Septembre 1924 (1-9-1924), là một bài tuyệt xướng có giá trị nhứt trong quốc văn, báo giới ta vào khoảng vài mươi năm nay, mà đồng bào ta ai đã đọc đến cũng in sâu vào trong não, không khi nào quên được. Thế mà năm, sáu năm nay không nghe ông Quỳnh có câu gì biện bác bài ấy hay dở, phải không thế nào. Nay ông Ngô đã qua đời rồi, nhân ông Phan Khôi chỉ trích sự không trả lời ấy, ông Quỳnh mới giở mối hiềm riêng chất chứa lâu nay, công nhiên phô giữa công chúng rằng bài báo ấy là “câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi, không quan hệ đến học vấn, tư tưởng gì cả…”. Ông lại bươi những chuyện riêng giữa ông Ngô với ông, hai người đối đãi nhau lúc bấy giờ, để làm chứng câu nói “cá nhân quyền lợi” của ông, mà buông lời thô bỉ như là “hàng thịt nguýt hàng cá”, “thỏa lòng ác cảm”, “đạo đức hương nguyện”… bôi lọ đến danh dự một người chí sĩ đã qua đời.

Những lời nói trên mà xuất tự một người văn sĩ xằng nào thì không đủ trách, song tự lỗ miệng và ngòi bút một người tân nhân vật, nghiễm nhiên tự nhận cái gánh gầy dựng một nền văn hóa mới cho nước nhà, lại chủ trương một cái cơ quan ngôn luận trong nước mười mấy năm nay, mà có lời thô bỉ tỏ cái tâm sự hiềm riêng mà nói xấu cho một người thiên cổ thì không thể bỏ qua được.

Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên; nếu như ông có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia, mượn lối văn chương để tiện đường mua giàu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hy sanh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đọa mà cứ khăng khăng một mực cho đến ngày đậy nắp hòm. Trong sự nghiệp trước tác của ông, bài Chánh học cùng tà thuyết nói ở trên chỉ là một bài trong ngàn bài khác.

(Kiểm duyệt thời Pháp thuộc)

(…) Lịch sử cay đắng của ông, đã nhiều người rõ, tôi không cần phải nhắc lại. Nay tôi xin gác lịch sử cá nhân ra ngoài mà chỉ tựu trong bài Bác Kiều của ông Ngô cùng bức thơ Học phiệt của ông Quỳnh mà biện bạch cho luận điểm có giới hạn để độc giả cùng xem.

a. Bài Bác Kiều đầu tiên đại ý nói: chánh học cùng tà thuyết có quan hệ đến vận nước: chánh học xướng minh thì thế đạo nhân tâm phải tốt mà nước được cường thạnh; tà thuyết thạnh hành thì thế đạo nhân tâm phải xấu mà vận nước cũng suy đồi… Đoạn giữa nói đến Truyện Kiều thì cho là một truyện phong tình, không đường nào tránh khỏi cái án tám chữ “ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi” (thương, dâm, sầu, oán, mở đường tà dục mà tăng mối buồn rầu), dầu văn có hay cũng là một thứ văn mua vui (chính ông Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều cũng tự nhận thế) chớ không đem ra mà dạy đời được; sau ông mới bài bác những người tán dương Truyện Kiều rằng “quốc hồn quốc túy” đem làm sách dạy quốc văn, cho là giả dối, là hoặc thế vu dân… Toàn bài đại cương như thế, nói về nghĩa lý thì quang minh chánh đại, thật là một bài quan hệ trong học giới rất to tát, mà về lời biện bác thì lời nghiêm, nghĩa chánh, có một cái mãnh lực như sét phang trước trán, nước xối sau lưng, khiến cho ai đọc đến cũng tỉnh giấc hôn mê. Độc giả thử xem một bài biện luận xác đáng rạch ròi như vậy, sao lại gọi là câu chuyện cá nhân quyền lợi mà không quan hệ đến học vấn tư tưởng? Sao gọi là lập luận thiên di? Như vậy mà cho là không quan hệ, thì những lối văn trèo tường trổ ngõ, quạt ước trăng thề, ép liễu nài hoa, cắp hương trộm ngọc kia mới là quan hệ với học vấn tư tưởng sao? Lập luận ấy mới là chánh sao?

b. Ông nói làng văn, làng báo cãi nhau là thói con buôn thì câu nói rất trái lẽ mà không có cân lường. Phàm học vấn tư tưởng có biện chiết mà sau chân lý mới được rõ ràng; thuở nay những nhà học giả cãi biện nhau là một điều thường thấy; huống đã là nhà báo thì có cái nghĩa vụ truyền bá chân lý, miễn là cãi biện nhau không ra ngoài luận điểm thì thôi. Nay ông nói cãi nhau là “hàng thịt nguýt hàng cá” thì làng văn, làng báo cứ vây hùa nhau, làm con sâu nhái tiếng cho nhau mà không xét đến luận thuyết có phải cùng không hay sao. Hàng rau hàng thịt cãi nhau là chỉ bọn thù vặt nói thàm kia chớ không đem điều ấy mà che cái vấn đề “chánh học tà thuyết” nầy được.

Ba-bang-Kieu-co-cua-Thu-vien-Khoa-hoc-tong-hop
Ba bản Kiều cổ của Thư viện Khoa học tổng hợp.

Ông nói bài kia không phải phẩm bình Truyện Kiều thì bài ấy nói chuyện gì? Ông tưởng hai mươi triệu đồng bào đều không có tai, có mắt mà tin như lời ông nói sao?

c. “Đạo đức hương nguyện” là đạo đức thế nào? Cứ như lời ông Mạnh Tử đã giải thích thì hương nguyện là chiều đời dua tục, không nói trái với ai, chính là chỉ bọn nhu mị. Như con đĩ Kiều kia và cả cái Truyện Kiều nữa mới gọi là nhu mị. Thế mà cho kẻ bác học Kiều là đạo đức hương nguyện, thì cái chuyện phong tình ấy đạo đức gì?

d. Ông nói: “Ông Ngô thấy người ta hoan nghinh Kiều mà có ý căm tức nên viết bài phản đối”. Phải, căm tức là chính phải. Con đĩ Kiều kia có giá trị gì? Người tô vẽ Kiều kia có công đức gì mà hoan nghinh? Ông đã đề xướng chánh học thì đối với sự bất chánh đáng ấy mà phản đối chính là vì nhân tâm thế đạo mà sanh lòng công phẫn, chớ có cái gì gọi là thù riêng? Chính ông Quỳnh cũng tự nói rằng: họ Ngô cùng ông không có hiềm khích gì kia mà!

e. Ông nói không phải nhu nhược, bị người ta công kích không biết đối phó, thì thật là câu độn từ mà không phải lời nói của một nhà học giả. Đã là nhà học giả thì phải yêu chân lý, người ta công kích mình (bất kỳ việc làm hay lời nói) mà hợp với chân lý, không chỗ chối cãi được, thì mình phải phục tòng, nếu như người ta công kích mà trái lẽ, mình cứ lấy lẽ mà biện bác lại, ấy là thái độ chơn chính của một người học giả. Bằng như người ta công kích mình, mình không xét phải hay là không, mà cứ công kích lại, người ta nói mình “văn sĩ lóp lép” thì mình tặng lại họ tên nọ, tên kia… Ấy là biết đối phó mà không nhu nhược sao? Còn nói ông Ngô có cái lịch sử mười năm Côn Lôn nên ông không ngang sức thì thật là vô lý! Mười năm Côn Lôn là một vấn đề, bác học Kiều là một vấn đề khác, hai điều có dính líu gì đâu? Vả trong bài chánh học của ông Ngô, ông có đem mười năm Côn Lôn mà khoe với ai đâu? Ông có làm Côn Lôn du ký mà tuyên bố để mua danh đâu? Lúc ấy ông Ngô còn, ông không đối phó, mà đợi đến nay ông Ngô đã khuất rồi viện cớ nầy bươi lẽ nọ để giành lại sự phải cho ông, thật là đủ chứng hai chữ nhu nhược ông nói trên.

Về sự bác Kiều mà ông Quỳnh không trả lời, lâu nay tôi vẫn kính trọng, tấm lòng phục thiện của ông rõ là thái độ quân tử. Phải như ông Phan Khôi hỏi điều ấy mà ông Phạm Quỳnh cho là chuyện cũ, chỉ lược giải mấy câu, không nói phạm đến danh dự người chí sĩ đã qua đời thì cái lòng quang minh lỗi lạc của người học giả, người thức giả ai chẳng kính phục thêm. Nay cứ như bức thơ ông trên thì rõ cái mối thù riêng hiềm vặt, đối với chuyện công kích ấy chất chứa trong trái tim ông đã năm, sáu năm nay, nhơn ông Phan Khôi khêu mối mà ông kéo dây ra, toàn bức thơ ông không chỗ nào “gãi ngứa” vào bài Chánh học cùng tà thuyết kia mà chỉ là những lời nhạo báng. Cái lối nặc oán ấy là tâm lý gì?

Độc giả thử xem bài Chánh học của ông Ngô cùng bức thơ Học phiệt của ông Quỳnh mà so sánh thì đủ rõ ai là kẻ có lòng ác tâm riêng.

Nguon-goc-cau-Truyen-kieu-con
Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải; Giáo sư Đặng Thai Mai; Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu; Giáo sư Phong Lê

Sau nầy tôi xin chánh cáo cùng anh em trí thức trong nước rằng: Truyện Kiều chẳng qua chỉ là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học, mà nói cho đúng Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại. Ở xã hội ta từ có kẻ tán dương Kiều, truyền bá học Kiều đến nay, đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi bể tình, vứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mối ham mê của mình. Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều, gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít. Vậy ngày nay mà được trăm ngàn người học Kiều thì khắp trong xã hội ta không thấy cái gì ích mà chỉ thấy cái hại, mà nếu được một người “đạo đức hẹp hòi” như ông Ngô Đức Kế thì không khác gì cột đá giữa dòng sông lở, ngọn đuốc trong khoảng đêm trường, có công với thế đạo nhân tâm không phải là ít. Vì cái mãnh lực của ông đủ kéo được biết bao kẻ sa hầm sụp hố kia.

Tiếng dân, số 317, ngày 17-9-1930

(In trong Tranh luận về Truyện Kiều. Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm. NXB Văn học. H.2014. Từ trang 190)

Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải

Cụ Khải cho biết cụ có đọc Nam Phong, nhưng ngay từ đầu đã chống Nam Phong, Phạm Quỳnh vì lập luận thân Tây và bênh quan lại của tờ báo. Đó cũng là thái độ chung của các nhà Nho thời bấy giờ.

- Tại sao có một số nhà Nho như Nguyễn Đôn Phục, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến… đã viết cho Nam Phong?

- Những cụ đó là bạn của tôi, các cụ đó cũng biết dụng ý chính trị của Marty nhưng vì có bài không có báo nào để gửi đăng nên phải gửi Nam Phong, và nhất là sinh kế, các cụ cũng như tôi lúc đó nghèo lắm. Nhiều lần ông Phạm Quỳnh gặp tôi có mời tôi viết cho Nam Phong, nhưng tôi không nhận.

- Theo cụ, các cụ lúc đó có chịu ảnh hưởng gì của Nam Phong?

- Các cụ Nho ở thành phố Hà Nội ít đọc vì biết quá rõ tờ báo, nhưng có lẽ các cụ Nho ở thôn quê có đọc. Còn đám tân học, họ chịu ảnh hưởng Pháp văn khi viết văn rõ rệt như nhóm Hoàng Tích Chu…

- Cụ có biết về vụ án Truyện Kiều do cụ Ngô Đức Kế gây nên không?

- Tôi với cụ Kế là bạn thân, vì cụ không thạo quốc văn lắm, nên viết gì cũng đem bàn bạc với tôi và tôi sửa cho cụ như thể chúng tôi viết chung vậy, tuy bài báo ký tên cụ. Cái bài Luận về chánh học cùng tà thuyết cũng làm như thế.

- Nếu vậy, hiện nay cụ là chứng nhân độc nhất còn sống có thể cho biết chủ đích thực sự của các cụ khi bài bác việc suy tôn Truyện Kiều của Phạm Quỳnh và Nam Phong. Trong Nam ngoài Bắc các nhà văn học đều tranh luận về thực chất của vụ án này. Một lập luận vẫn thường được nêu lên để giải thích vụ án là lập luận cho rằng đây là một tranh luận về văn học giữa hai quan điểm: quan điểm đạo đức bảo thủ, chật hẹp của các nhà Nho với quan điểm nghệ thuật cởi mở, rộng rãi của phái tân học; một lập luận khác cho rằng, đây là một tranh đấu chính trị trên địa hạt văn học. Các cụ Nho không đả Truyện Kiều, mà là đả Phạm Quỳnh, đả việc suy tôn Truyện Kiều có tác dụng chính trị tai hại cho vận nước. Cụ cho biết ý định của các cụ lúc đó thật sự thế nào?

- Thật là lầm quá nếu coi đó là một tranh luận văn học. Lúc bấy giờ, chúng tôi thấy không thể chịu nổi, ngày này qua ngày khác Phạm Quỳnh đem Truyện Kiều ra mà suy tụng. Thấy rõ những dụng ý chính trị của việc suy tụng, cụ Kế đã lên tiếng công kích. Lời văn dữ dội như thế nào chứng tỏ nỗi lòng phẫn uất của chúng tôi lúc đó. Truyện Kiều, về văn chương thì nhất rồi, ai không thích? Nếu chống là chống cái việc suy tôn, cái dụng ý chính trị mà thôi, ngoài ra còn chống cả bản thân Phạm Quỳnh, chống thái độ tự đắc tự kiêu của ông tự cho mình là “thanh gươm trăm rèn nghìn đúc mới được như thế”.

Cũng vì chuyện chống này mà sau đó, ông Phạm Quỳnh thù tôi mách Tây bỏ tù tôi vì tập thơ Chơi xuân Nhâm Thân xuất bản hồi 1932, thuật lại một cách ám chỉ tất cả chuyện Yên Bái. Tập thơ in 5.000 cuốn và bán hết 3.000 cuốn trong một tuần. Tòa án kết tội là đã dùng những chữ phỉ báng người Pháp hoặc xúi giục làm loạn như “hổ báo, xé yến, bay cờ” trong bài Lời Trưng Trắc khuyên Trưng Nhị đánh Tô Định.

(Trích Trường hợp Phạm Quỳnh. GS. Nguyễn Văn Trung. Phụ lục Luận chiến văn chương. Q.3. NXB Văn học – 2015. Trg.381-382) 

Giáo sư Đặng Thai Mai

“Sau đó sự tiến bộ của Tiếng Việt trong thời gian 1920 – 1940 thì cũng là thành tích của nhiều nhóm nhà văn mà phần đông có tinh thần yêu nước và vẫn chống đối với tư tưởng văn chương của Phạm Quỳnh. Nhưng trong vấn đề bồi dưỡng văn học tiếng Việt này, Phạm Quỳnh đã có đóng góp được công lao gì? Phạm Quỳnh đã làm báo, nhưng chương trình “phục hưng” tiếng Việt của tay chủ bút tờ Nam Phong là thế nào? Trong văn chương của Phạm Quỳnh có gì có thể gọi là chủ trương đúng đắn, là lý luận vững chắc? Phạm Quỳnh đã làm Thượng thư bộ Học, nhưng trong thực tiễn “cụ Thượng Học” đã làm được gì? Trước sau mười mấy năm, Phạm Quỳnh chỉ khai sinh cho cái bằng sơ học yếu lược. Cái cấp học quốc ngữ ba năm ấy đâu phải là đạo bùa cải tử hoàn sinh cho tiếng Việt! Ấy là chưa nói đến nội dung của cái chương trình sơ học yếu lược của y. Ngay từ hồi đó, có người đã phê phán chủ trương của Phạm Quỳnh và cho rằng: nó chỉ làm chậm bước tiến của học sinh. Ý kiến trên đây có phần đúng là ở chỗ Phạm Quỳnh thực tế chỉ nối giáo cho bọn thực dân kìm hãm học tiếng Việt vào cấp sơ học mà thôi. Cuối cùng còn lại một câu nói của Phạm Quỳnh mà ngày nay vẫn còn có người khoái trá ngâm nga: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Một câu lập dị, mới nghe ra tưởng chừng sâu sắc lắm! Nhưng lập dị muốn cảm động, muốn thuyết phục thì ít ra cũng phải có một chút sự thật! Đằng này không! Mọi người có chút lương tri đều biết rằng: nước ta có còn thì tiếng ta mới còn và tiếng ta có còn thì Truyện Kiều mới còn! Phạm Quỳnh sợ nói như thế vì y chỉ là người phát ngôn của phòng nhì phủ Toàn quyền. Phạm Quỳnh đã ngụy biện, đã nói dối để che đậy một lập trường chính trị bán nước hại dân. Chân lý giản dị hơn, chân thật hơn, nhưng y không dám nói, vì hoạt động của y sẽ vả vào miệng của y ngay lập tức!”.

(Trích Đặng Thai Mai – Tuyển tập. NXB Văn học – 1984. Tập 2. Trg.90-91)

Giáo sư Phan Đình Chú

Câu nói của chủ bút Nam Phong: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” là hoàn toàn chân lý, mặc dù có lúc đã bị hiểu lầm mà phủ nhận. Cần thấy rằng một dân tộc, một quốc gia là gồm có: lãnh thổ, giống nòi, chính thể, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và ngôn ngữ. Nếu không may bị ngoại xâm chiếm đóng thì mất gì cũng có thể lấy lại được. Chứ mất đến ngôn ngữ, tiếng nói thì sẽ là mất vĩnh viễn.

(Cõi người ta. Tập 1. Trg.145. NXB Hồng Đức và Hội Kiều học – 2015)

Giáo sư Phong Lê

“Trước đó 20 năm (1924), có một câu nói gây tranh cãi gay gắt: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Sự thể quả khó tránh bởi nó được phát ngôn vào một thời điểm không thích hợp. Nhưng xét rộng ra và nhìn vào hành trình dài của lịch sử, câu nói đó không phải không có một phần sự thật”.

(Tạp chí Thơ – Hội Nhà văn Việt Nam, số 11 – 2015. Trg.53)

Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu

“… Thượng thư bộ Học Phạm Quỳnh… con người của những tuyên ngôn lay động lòng người: “Muốn xây dựng quốc gia phải bắt đầu bằng xây dựng văn hóa”, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”.
(Những người thầy… – Văn Nghệ, số 29, ngày 16-7-2016)

(Còn tiếp)

 Năm Châu Đốc (sưu tầm)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 475

Ý Kiến bạn đọc