Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nguồn cảm hứng từ Hà Nội Xưa và Nay

Tập phóng sự Hà Nội Xưa và Nay (1) của cố tác giả Bạch Diện Nguyễn Văn Cư là một văn liệu có giá trị quí báu đối với giới Hà Nội học và những người nghiên cứu khoa học nói chung. Tác giả tự bạch: “Viết cuốn sách này, chúng tôi cũng noi gương Phạm Đình Hổ và Trần Danh Án là tác giả các cuốn Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút, hy vọng góp một số tài liệu phục vụ cho công việc khảo cứu, sau cuộc tiến bước nhảy vọt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, vị anh hùng cứu quốc được nổi tiếng khắp năm châu thế giới” (Lời tác giả).

“Những sự kiện này, chúng tôi đã được các vị lão thành và bè bạn kể cho nghe, nay đem cống hiến cho bạn đọc để góp vào những điều mà sách, sử nói về Hà Nội nhưng không đề cập đến” (Lời tác giả, tr.5).

Pho-co-Ha-Noi-xua
Phố cổ Hà Nội xưa.

Đó là những lời khiêm tốn của tác giả. Nhưng thực ra, tác giả dẫn dắt chúng ta tiếp cận với nhiều sự tích lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của người Hà Nội xưa nhưng vẫn có ý nghĩa rộng rãi vượt ra ngoài bạn đọc chốn Hà thành. Ông Thái Thành Đức Phổ trong Lời bạt, nêu lên hai từ rất thông dụng nhưng qua Cụ Bạch Diện, ông mới hiểu nguồn gốc như từ thông tầm (làm thông tầm, thông cao), xuất phát từ tầm tầm mà ta gọi là từ tam tam (cái trống trong tiếng Pháp) hoặc xuất xứ của từ nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò lại có nguồn gốc từ trật tự thi cử thời xưa (xem trang 394). Chỉ riêng về ngôn ngữ, ta được biết căn nguyên của rất nhiều từ thông dụng nhưng có nguồn gốc rất đáng ghi nhận như bánh quẩy. Thực ra, gốc chữ Hán là dầu chao quải nghĩa là cối bỏ vạc dầu, có sự tích từ lịch sử Trung Hoa. Thời Tống, rợ Kim (ở phía ngoài Vạn Lý Trường Thành, kéo vào đánh quân Tống. Tướng nhà Tống là Tống Nhạc Phi, một tướng giỏi, chỉ huy quân chiến đấu rất anh dũng. Quân Kim thua liên tục. Sau chúng biết trong triều nhà Tống có Tần Cối là Tể tướng đứng đầu trăm quan rất có quyền thế lại rất tham lam. Người Kim liền đem vàng ngọc đến nhà riêng Tần Cối đút lót. Tần Cối làm giả chiếu nhà vua đòi Nhạc Phi về triều. Tống Nhạc Phi về triều liền bị Tần Cối giam vào ngục rồi giết đi. Giết xong Tống Nhạc Phi, Tần Cối xướng lên thuyết chủ hòa với người Kim. Các đại thần nào không theo Tần Cối cũng bị giết. Rồi nhà Tống đầu hàng, nộp cống xưng thần. Người Kim chiếm được Trung Nguyên là nhờ có sự phản bội của Tần Cối. Sau khi Tần Cối chết, người dân Trung Hoa mới biết thực chất của Tần Cối, rất căm giận. Bấy giờ dân gian mới kết tội vợ chồng Tần Cối phải bỏ vạc dầu. Họ làm thứ bánh bằng bột mì có hai phần như hai sợi chão xoắn vào nhau, bỏ vào dầu chiên lên, khi ăn phải xé ra. Sau này người ta làm đơn giản hơn: nặn cục bột mì hình khối chữ nhật, dài khoảng gang tay rồi gạch nhẹ một đường ở giữa theo chiều dọc, thả vào chảo mỡ, nó chín phồng lên như là hai cái bánh nhỏ cặp vào nhau. Tôi nhớ có một sự tích là trên mộ Tần Cối có dựng tượng, cũng gần mộ Nhạc Phi (chắc cũng gần như mộ Cụ Võ Trường Toản cách mộ Phan Thanh Giản vài trăm mét). Người đời đến thăm viếng Nhạc Phi, khi qua mộ Tần Cối thì nhổ nước miếng hoặc gõ lên đầu Tần Cối đến nỗi đầu tượng Tần Cối bị lõm đi. Nguyễn Du khi đi sứ, trong Bắc hành tạp lục có bài Tần Cối tượng… (2). Qua một từ mà hiểu cả sự tích lịch sử. Ngày nay, có mấy thứ quà từ bánh quẩy: quẩy nóng chấm tương ớt, cháo quẩy, tô phở cũng kèm theo dĩa quẩy, tùy ý khách… Nhưng chắc thực khách ít khi để tâm đến hình thức người Hoa kết tội vợ chồng Tần Cối. Nhân chuyện canh cửi (trồng bông trồng dâu dệt vải) của người Hà Nội xưa, thực ra cũng là của cả nước. Bởi quê lụa Tân Châu (An Giang) có gốc gác từ người Hà Đông vào. Kẻ hậu sinh xin thưa góp một vài giai thoại. Ngày xưa, tạm kể từ khoảng 1950 trở về trước, các nhà trung lưu ở nông thôn đều trồng bông trồng dâu, tùy điều kiện từng nhà từng nơi. Nhà nghèo thì không thể trồng bông trồng dâu được, vì phải đầu tư nhiều. Bông ta hay bông cỏ, phân biệt với bông luồi mới nhập sau này. Xưa nhà nào trồng được dăm sào hay một mẫu bông là khá giả lắm, vì bông rất kén đất. Cuối năm âm lịch trồng bông nhưng đến tháng 5, giữa hè mới được thu hoạch, gọi là hái bông. Hái bông sợ nhất trời mưa, coi như hỏng lứa bông. Bông hái về phải nhặt kỹ, phơi khô, cho vào chum đậy thật kín. Tháng 7, tháng 8 mưa thâm gió bấc là mùa cán bông. Có những người chuyên đi cán bông thuê vào mùa này. Dụng cụ cán bông (tách hạt bông ra khỏi múi bông gọi là sa cán bông. Bông hạt cán thành bông xơ. Nhà không có điều kiện kéo sợi thì bán bông xơ. Từ bông xơ phải làm cho sợi bông tơi ra, gọi là cung bông. Không biết trong các bảo tàng có nơi nào sưu tầm được cái sa cán bông và cái cung bông? Từ khế hợp của nhà Phật được vận dụng vào chế tác sa cán bông và cây mật (dụng cụ ép mía cổ xưa. Nguyên liệu bắt buộc là gỗ Nghiến, nay hiếm thấy. Cung bông thực ra là dùng một dây tơ rất căng như dây cung dây nỏ đập vào đống bông xơ. Thường người thợ cung bông dùng cái đùi gỗ đập vào dây cung, dây tơ căng, có lực làm cho bông xơ tơi ra thành những sợi nhỏ mịn. Từ bông mịn này mới xe thành con cúi. Từ con cúi, qua cái sạ kéo sợi để bông ở dạng kết hợp tản mác thành sợi. Kéo sợi cũng là một nghề đòi hỏi sự khéo tay, tinh tế, kiên nhẫn. Rất khéo tay mới có được sợi nhỏ, đều, săn. Đêm trăng mùa thu các cô gái thường họp nhóm với nhau ở sân một nhà nào đó, vừa kéo sợi, vừa trò chuyện. Khi đã có được những bắp sợi, phải nối chúng lại với nhau bằng cái guồng sợi để chuyển những bắp sợi thành những tay sợi. Có được những tay sợi, phải qua hồ sợi để cho sợi cứng lên, mới lên go được. Hồ sợi là trộn cơm tẻ, nóng, dẻo với một số tay sợi cho vừa một cối (một mẻ), rồi dùng dùi đỗ đập, đảo sao cho nhựa cơm thấm đều vào sợi. Cối đập sợi thường bằng đá, lòng phẳng, tròn, đường kính khoảng 1m, thành cao độ một gang tay (khoảng 25cm). Sợi hồ xong, phơi khô, lại ngâm nước giũ sạch, phơi khô để lên go mới đến công đoạn dệt. Trình độ dệt cao nhất thời xưa là khung cửi. Một khung cửi choán hết gần gian nhà, trên dưới 10m2. Khung cửi là một chuyện hay và vui, nhưng dài dòng. Người Lê ở đảo Hải Nam – Trung Quốc dệt thổ cẩm không có khung cửi mà dùng thân người: hai chân duỗi thẳng và phía thắt lưng tạo thành một “khung cửi”. Khung cửi thông thường ở Việt Nam tuy là thủ công nhưng có sự tính toán khoa học. Phải tính toán độ rộng của tấm vải (vuông vải) vừa với thời gian đưa thoi, chuyền con thoi từ tay này sang tay kia, hai chân đạp bàn go. Thoi dệt thường bằng sừng trâu hình thoi, khoét rỗng ở giữa để cái suốt vải. Người con gái ngồi dệt vải tưởng nên thơ nhẹ nhàng nhưng thực ra rất vất vả: hai tay đưa thoi, chân đạp bàn go, mắt nhìn vào tấm vải. Thi thoảng bị đứt sợi phải dừng lại nối. Quanh năm ngồi như thế, về già sinh lắm bệnh tật. Thơ Nguyễn Du có câu:

Gieo thoi trước chẳng giữ ràng
Rồi ra xấu thiếp hổ chàng bởi ai.

Cây dâu có nhiều ở các vùng ven bãi sông. Thương hải tang điền (Bãi biển biến thành nương dâu). Trong bộc trên dâu (chỉ sự tình ái không đoan chính)… Mãi đến trận lũ khủng khiếp năm 1971, suýt trôi cả cầu Long Biên, lớp học viên Tuyên giáo chúng tôi về mấy xã thuộc huyện Mỹ Đức, hồi ấy thuộc Ứng Hòa, Hà Tây, nay thuộc TP. Hà Nội, mới hiểu tại sao nghề dâu tằm lại phát triển ở vùng bãi ven sông. Hôm ấy ông Bí thư huyện Mỹ Đức nói: Nước lũ ngập lâu, các cây trồng trên bãi đều chết, chỉ có cây dâu là sống được, nước rút, lá dâu lại mọc ra. Có lẽ vì thế mà từ xa xưa ông cha ta đã lợi dụng đặc tính của cây dâu, nên ven sông thường là những bãi dâu. Phần khác, bãi sông sau mỗi vụ lụt, phù sa bồi thêm, còn hơn cả phân đạm bây giờ. Trồng dâu thì dễ nhưng nuôi tằm thì khó lắm: Làm ruộng ăn cơm nằm / Nuôi tằm ăn cơm đứng. Còn có câu: Ăn như tằm ăn rỗi. Phải chạy ngược chạy xuôi lo đủ dâu cho tằm vào kỳ ăn rỗi. Xa quê lâu ngày thèm miếng dưa lê (Yên Định – Thanh Hóa). Làng ấy có thứ rau cải muối dưa tuyệt ngon. Chỉ muối dưa thôi, nấu các món khác, không ngon. Nước lũ rút, khô đất là cày lên, trồng dâu hoặc ngô xen rau cải. Khi rau cải vừa ăn, ngô, dâu cũng mọc cao vừa lứa cỏ đầu. Nhổ rau cải xong nhân tiện vun gốc cho dâu, cho ngô. Giống rau cải muối dưa này là sản phẩm đặc hữu của vùng ven sông Mã, cả tả ngạn và hữu ngạn. Thân mẫu của GS. Hà Minh Đức người làng Bồng Trung – Vĩnh Tân – Vĩnh Lộc, phía tả ngạn, thọ hơn trăm tuổi, mới qua đời mươi năm nay, nghe nói là người muối dưa ngon nổi tiếng. Từng được đem tiến vua. Cọng dưa vàng khươm, thơm nức, vị đậm bùi dơn dớt chua. Bát dưa, đĩa ba chỉ luộc, nắm lạc rang với cút (1/4 lít) rượu nếp, hoặc bát cơm nguội chan nước dưa lúc đói bụng lỡ bữa, còn hơn đặc sản bây giờ.

Mot-goc-cho-tren-pho-co
Một góc chợ trên phố cổ.

Chuyện trồng bông dệt vải cũng có giai thoại vui vui. Xưa có anh thợ cung bông chết trẻ. Vợ còn trẻ mà đẹp lắm. Có anh hàng xóm đa tình mê mẩn người quả phụ mất chồng chưa con. Sau lễ trăm ngày, anh ta đem cây đàn bầu ra bắt chước chàng Trương đi mấy khúc cảm hoài. Bỗng nhiên cô hàng xóm khóc nức nở. Anh chàng khấp khởi chạy sang an ủi vuốt ve: Nàng ơi! Nàng đừng quá đau buồn. Nàng hãy san sẻ với ta… Người quả phụ càng gào lên: Ối anh ơi là anh ơi!… Rồi quay lại nói với anh hàng xóm:

- Nghe tiếng đàn của anh lại nhớ tiếng cung bông của chồng tôi…

(Tiếng cung bông thường phát ra mấy âm: Phựt! Phựt! Phựt! Pheng!… Tiếng Phựt là dây cung chìm trong đống bông xơ để làm tơi bông ra. Tiếng Pheng là người thợ nhấc dây cung lên, đập mạnh một dùi cho xơ bông bay ra khỏi dây, rồi bắt đầu lại theo nhịp điệu Phựt phựt phựt Pheng!).

Xưa, làm mền (chăn) bông, may áo bông đều phải qua đoạn cung bông. Quả thật, phóng sự của Cụ Bạch Diện làm ta liên tưởng đến nhiều chuyện đúng là chưa thấy có trong sử sách. Tôi rất chú ý đến mấy nhân vật này: Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhượng Tống, Hoàng Kim Quy và Bá hộ Kim.

Ta thường đọc trong sách báo rằng Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương thuyết trực trị – nghĩa là người Pháp trực tiếp cai trị như thuộc địa Nam kỳ. Còn Phạm Quỳnh chủ trương thuyết lập hiến trung quân. Nhưng tôn quân hay quốc quân cũng không rời bảo hộ mà thành lập được (Thượng Chi văn tập) (3).

Nhưng căn cứ của thuyết trực trị là từ đâu. Các nhà sử học cả hai ba phía đều không thấy nói. Nhưng có lẽ “thuyết” của Cụ Bạch Diện là có lý.

“Báo Trung Bắc tân văn ngày xưa là tờ báo xuất bản hàng ngày tại Hà Nội, được coi là cơ quan tuyên truyền của thực dân Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh quen thân với bọn cai trị Pháp như Crayssac, Veyrac và nhiều tên nữa, nên tha hồ vùng vẫy và kiếm tiền như hốt rác. Tuy nhiên, năm 1915, hắn suýt bị Khải Định chém đầu. Năm ấy, giữa lúc cuộc đại chiến Thế giới lần thứ I (1914-1918) đang ác liệt, thực dân Pháp thua đậm, cần mộ thêm lính Việt Nam sang Pháp để làm bia đỡ đạn cho chúng. Chúng đưa Khải Định ra Hà Nội để lấy danh nghĩa ông vua Việt Nam khuyến khích nông dân Việt Nam đi lính cho Pháp… Nguyễn Văn Vĩnh lấy tư cách là nhà báo, mặc Âu phục, đeo cà-vạt như một số phóng viên và chủ báo Pháp. Khi Khải Định vào đến ga, mọi người đứng thành hai dãy gọi là “hàng rào danh dự” chào đón. Khải Định lần lượt bắt tay từng anh Tây mụ đầm, bọn quan lại ta thì quỳ sụp xuống đất, chắp hai tay giơ lên khỏi trán lạy chào. Riêng Nguyễn Văn Vĩnh đứng lẫn với bọn Tây nhà báo cũng giơ tay ra để bắt tay Khải Định. Bọn quan tùy tùng liền hỏi: “Người này là thế nào?”. Vĩnh đáp: “Nhà báo”. Bọn quan lại hỏi: “Nhà báo là hàng quan phẩm trật thứ mấy?”. Một nhà cố đạo bạn của Vĩnh đáp: “Nhà báo là dân thường, không phải là hàng quan”. Viên quan tùy tùng bẻ luôn: “Anh là dân thường dám chen lấn vào đây bắt tay vua, như thế là phạm thượng, tội đáng xử tử”. Rồi viên quan ấy đòi giữ Vĩnh lại để đình nghị. Mấy anh Tây bạn với Vĩnh nói: “Nguyễn Văn Vĩnh là người An Nam ở Hà Nội thuộc quyền Pháp, chớ không phải dân bảo hộ”… Có mấy người Pháp giảng giải nên việc lôi thôi chấm dứt, dân Hà Nội đồn đại về việc này rất nhiều. Về sau này Nguyễn Văn Vĩnh viết luôn mấy bài đăng trên mục xã thuyết của Trung Bắc tân văn chủ trương thuyết trực trị, gây thành cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong” (Sđd. Trg.277-278).

Chắc chắn là không qua mắt Cụ Đầu xứ Tố, nên cụ thâm thúy hơn: “Đánh bài Tây đấy, không phải đánh bốc đâu (Tạp văn Ngô Tất Tố).

Giới văn chương thường nhắc đến Nhượng Tống như là một dịch giả sáng giá với Nam Hoa Kinh và mấy bài thơ Đường. Nhượng Tống vốn là con nuôi của Phạm Bùi Cầm, làm cộng tác viên cho Thực nghiệp dân báo ở Ninh Bình, tên là Hoàng Phạm Trân, có viết quyển truyện Sóng hồ Ba Bể. Nhưng ông bố nuôi cho đăng lên Thực nghiệp dân báo và ký tên mình là Phạm Bùi Cầm. Rồi xin cho con nuôi vào làm cho Thực nghiệp dân báo. Từ đấy Phạm Hoàng Trân lấy bút danh là Nhượng Tống. Nhượng Tống có tham gia Quốc dân đảng, sau vụ Yên Bái, bị đày ra Côn Đảo, vẫn theo tư tưởng Tam Dân chủ nghĩa (Quốc dân đảng). Nhóm tù nhân Quốc dân đảng ở Côn Đảo rất thù những người tù Cộng sản. Họ mưu tính ám sát Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng… để tiêu diệt Cộng sản ngay tại Côn Đảo. Những yếu nhân của Quốc dân đảng như Phạm Tuấn Tài thì muốn cải tổ lại Quốc dân đảng. Những người khác như Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo (Trung tướng Nguyễn Bình sau này) ngả sang phái Cộng sản. Nguyễn Phương Thảo bị tay chân của Đội Lãng, một nhân vật Quốc dân đảng cực đoan, lừa đêm đang ngủ đâm bàn chải răng vào mắt Nguyễn Phương Thảo, làm ông bị chột một bên mắt. Nhượng Tống sau này chết ở Côn Đảo. Nhưng ít người nói đến (4).

Còn Hoàng Kim Quy vốn con người gác bảo tàng, học hết lớp nhì thì bỏ học đi xin việc nhưng không được. Nhân đi chơi nhà bạn, nhìn trộm qua vách học được cách pha sơn làm sơn mài của một người Nhật. Quy biết vẽ, mua các đồ thủ công nho nhỏ về đánh sơn mài, bán rất đắt hàng, giàu có lên. Sau này vào Sài Gòn mở nhà máy làm dây kẽm gai bán cho quân đội Mỹ (Sđd. Trg.205-206).

Còn nhân vật Ba Kim hay Bá hộ Kim, trước đây có nhà báo ở Hà Nội (nếu không nhầm là ông Vương Tâm), có bài viết về Ba Kim như là nhà hằng tâm hằng sản, đã đứng ra lo liệu chôn cất cho Cụ Hoàng Diệu khi thành Hà Nội bị thất thủ lần thứ hai. Nhưng qua Cụ Bạch Diện thì đây là nhân vật bất hảo. Nguyên là Chánh tổng Hà Nội. Khi Pháp phá thành Hà Nội, Ba Kim cũng vào vơ vét được nhiều. Còn Cụ Nghè Ngô Văn Dạng mới là người đứng ra lo liệu đám tang cho Cụ Hoàng Diệu khi ấy. Về việc con gái Ba Kim mắng nhiếc một anh sinh đồ trong kỳ thi Hương 1886, bị một số bạn học đến vây nhà Ba Kim. Ba Kim nhờ người Pháp dưới Đồn Thủy (Bệnh viện 108 ngày nay) lên giải vây. Nhưng quân Pháp không can thiệp. Tri huyện Thọ Xương cho lính đến giải vây, nhưng thấy học trò đông quá cũng không dám can thiệp. Viên huyện Thọ Xương phải mời cụ Đốc học đến. Khi cụ Đốc học đến mọi người mới có trật tự. Cụ Đốc mắng cả hai bố con Ba Kim và anh học trò. Bắt hôm sau phải làm lễ tạ tội ở Văn Miếu (Ba Kim phạm tội làm nhục sỹ lâm). Cụ Đốc bắt nọc anh học trò và Ba Kim ra giữa sân phạt mỗi người 30 roi. Đám lính lệ vốn ghét Ba Kim nên đánh rất đau. Còn với anh học trò thì nâng lên hạ xuống cho có lệ.

Còn rất nhiều điều thú vị và hữu ích khi đọc phóng sự của Cụ Bạch Diện. Đến đây tôi xin mượn lời văn hào Lép Tônxtôi để xin lỗi quý bạn đọc: Không có sự tóm tắt nào bằng đọc chính ngay tác phẩm đó. Vâng, xin mời bạn đọc đến với HÀ NỘI XƯA VÀ NAY.

9-7-2017

Lưu Nguyễn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 461

————————————
(1) Hà Nội Xưa và Nay. Phóng sự của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. Thái Thành Đức Phổ nhuận sắc. NXB Hội Nhà văn – 2015.
(2) Nguyễn Du toàn tập. Tập 2. Trg.678-679. NXB Văn học – 2015.
(3) Thượng Chi văn tập. Phạm Quỳnh. NXB Văn học – 2006.
(4) Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975. Trg.111. Nguyễn Đình Thống – Nguyễn Linh – Hồ Sĩ Hành. NXB Tổng hợp, TP.HCM – 2015.