Người tốt - Việc tốt

Người trung thực đều kính yêu Hồ Chí Minh

Không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới các nhà nghiên cứu lịch sử về Việt Nam, nhiều người dành cho Chủ  tịch Hồ Chí Minh những tình cảm kính trọng chân thành nhất. Khó có thể nêu hết tất cả những người trong một bài báo ngắn này. Nhân dịp kỷ niệm 125 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu, xin chép lại những tình cảm của hai người phụ nữ Mỹ là bà Lady Borton và bà Josephine Stenson. Cả hai người là nhà khoa học, nhà văn, nhà báo đã dành thời gian dài, đi đến những nơi lưu trữ sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, và cho ra đời những công trình có giá trị lớn về Hồ Chí Minh, nhằm cung cấp cho độc giả các nước trên thế giới, đặc biệt cho độc giả ở Mỹ.

Nhà văn LADY BORTON trong triển lãm ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp Ảnh: Internet

Nhà văn LADY BORTON trong triển lãm ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp Ảnh: Internet

Bà J. Stenson kém Bác Hồ gần 50 tuổi, là một nhà nghiên cứu lịch sử. Bà đã nói: “Tôi dứt khoát phải trở thành người yêu của Hồ Chí Minh”, trong bài phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội tháng 5-1990.

Bà J. Stenson nay đã là một giáo sư tiến sĩ sử học của trường Đại học Florida Atlantic ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ.

Bài tham  luận  tiếng Anh, nhan đề “Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại” của bà sau đã được in tại kỷ yếu của hội thảo (do Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản). Đây là một bài tham luận rất hay, có nhiều điểm mới mẻ, đặc biệt, cho thấy một cái nhìn khác, một quan điểm mới mẻ thông thoáng và đôi chút tế nhị, táo bạo, nhạy cảm về chuyện đời tư, phụ nữ, tình yêu của Bác Hồ, với một góc nhìn từ người ngoài, một phụ nữ, một trí thức Hoa Kỳ.

Toàn văn bài tham luận của bà J. Stenson:

“Xin cho phép tôi được mặc chiếc áo dài của người mẹ Việt Nam, người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại chống ngoại xâm để bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình. Và thời nay, có một người mẹ đã sinh ra thiên tài Hồ Chí Minh. Bà cũng đã mặc tà áo này.

Hôm nay tôi mặc tà áo này không phải để chưng món quà sang trọng của bạn bè Việt Nam tặng cho tôi. Đây là sự ngưỡng mộ một sắc phục dân tộc mà chưa có một sắc phục phụ nữ nào lại đẹp, có văn hóa, bề dày truyền thống và thanh lịch như chiếc áo dài Việt Nam.

Từ Hoa Kỳ, tôi sang Thái Lan và vào Thành phố Hồ Chí Minh, thấy ngỡ ngàng khi nhìn thấy nữ sinh các trường đều mặc áo dài – những chiếc áo dài tuyệt đẹp. Tôi như bị thôi miên cứ đứng nhìn ngây ngất những tà áo dài mềm mại trên thân hình rất đẹp của các nữ sinh.

Trong khi đó một cảm giác buồn tương phản đột nhiên xâm chiếm trong lòng tôi một cách bất ngờ khi tôi nhìn thấy nhiều chị em khác cũng tại thành phố này mặc những bộ đồ mà người phụ nữ Mỹ chúng tôi đã bỏ từ thập kỷ 60 sang thập kỷ 70. Khi ra Hà Nội tôi hiểu được bề dày của nền văn minh sông Hồng, nhưng không giống như Thành phố Hồ Chí Minh, phụ nữ ít mặc áo dài, phần lớn họ mặc quần áo giống như phụ nữ Bangkok và Philippines.

Hồ Chí Minh là người mà tôi dành nhiều thời gian nhất trong đời nghiên cứu lịch sử của tôi để tìm hiểu cho được đích thực tính cách của ông. Tôi thuộc tuổi con cháu Bác Hồ Chí Minh. Cho phép tôi được ca ngợi lời ca ngợi muộn màng của người hậu thế.

Tôi đã bỏ tiền túi ra để đi từ Mỹ sang Pháp và Liên Xô cũ: Những nơi mà Hồ Chí Minh đã đặt chân tới đó, để tìm những di tích gốc về Hồ Chí Minh. Tôi đã ở Liên Xô một thời gian tương đối lâu để nghiên cứu về ông. Khi về Mỹ, tôi lại từ New York đến các đảo lửa vùng Đông Bắc châu Mỹ, nơi Cụ Hồ đã đi tàu xuyên đại dương đến đó. Tôi quyết tâm tìm cho được lai lịch văn hóa Hồ Chí Minh, mặc dù ngày đó người ta đã thừa nhận cụ là danh nhân văn hóa của thế kỷ.

Rất tiếc, lâu nay Việt Nam chỉ cung cấp cho chúng tôi lai lịch chính trị của Hồ Chí Minh, ngoài ra không cung cấp những tư liệu gì đối với những vấn đề khác. Và tôi cũng hết sức ngạc nhiên và khó hiểu không biết tại sao Việt Nam cứ tuyên truyền rằng Cụ Hồ sinh ra trong một gia đình nghèo khổ? Đã nghèo thì làm sao có điều kiện ăn học và làm quan như cụ thân sinh ra ông và trình độ học vấn như ông.

Ngoài ra Việt Nam còn tuyên truyền rằng ông Hồ làm phu khuân vác ở Bến Nhà Rồng, bồi bàn dưới tàu Pháp, bồi bếp ở khách sạn Luân Đôn và làm thợ nhiếp ảnh… chỉ toàn là những lao động cơ bắp, không thấy trí tuệ Hồ Chí Minh ở chỗ nào cả! Có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Nam lo ngại khi nói đến trí tuệ của ông Hồ Chí Minh thì ảnh hưởng đến đường lối giai cấp của Đảng Cộng sản chăng, vì sợ quần chúng hiểu rằng Bác Hồ là thành phần thuộc tầng lớp trên chứ thực chất không phải là bần cố nông và thợ thuyền, giai cấp lãnh đạo cách mạng?

Xin lưu ý, bất cứ quốc gia nào coi rẻ và khinh miệt trí thức thì nhất định sẽ thất bại, lịch sử đã từng chứng minh thực tế đó.

Qua nghiên cứu tôi thấy rằng:

-       Bác Hồ chọn việc bồi bàn trên tàu là để có điều kiện đi đến nhiều quốc gia.

-       Bác Hồ chọn việc làm ở khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc được với nhiều chính khách.

Thế nhưng người ta hiểu sai rằng Bác Hồ làm đủ mọi nghề chỉ để kiếm sống, không đúng!

Tôi đã đến Luân Đôn tìm hiểu và thấy Nguyễn Ái Quốc kết thân với một số nhà đại văn hào, các nghệ sĩ danh tiếng như Romans, Darwin, vua hề Charlie (Sác-lô)…

Người ta đồn rằng Cụ Hồ biết 28 thứ tiếng, nhưng theo kết quả tìm hiểu của tôi thì cụ biết khá sành sỏi 12 thứ tiếng.

Tôi xin dâng tặng những lời ca đẹp nhất về Hồ Chí Minh, sau khi tôi đã đi đến những nơi có dấu chân ông đã đi qua, gặp lại những người biết về ông và đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh lúc còn trẻ là một thanh niên… rất đẹp trai, cho nên hiện giờ tôi vẫn cứ mơ ước về ông. Nếu tôi cùng thời với ông thì dứt khoát phải trở thành người yêu của ông. Ông không chấp nhận, tôi cũng theo đuổi đến cùng… Tôi ngưỡng mộ ông cả bằng đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của một người con gái hậu thế.

Khi tôi đã yêu ông và tôn kính ông ở góc độ khoa học thì tôi nghĩ ngay đến tượng Nữ thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do.

Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng tượng thần Tự do như mọi chính khách sau khi đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng rằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế và ánh sáng tự do… Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự do, nhưng chỉ nhìn dưới chân và ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”.

Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức tượng Thần Tự do. Chính vì thế mà hôm nay tôi đến đây tìm đến con người này – Hồ Chí Minh – để xem giữa lời nói và việc làm của ông có tương phản không?

Hồ Chí Minh quả thật con người nói và làm đi đôi. Tôi đã vào nhà của ông.

Lục tìm của riêng của ông. Ông không có của riêng. Thật rất lạ và hiếm thấy, chính khách nào khi cầm quyền đều ban hành sắc lệnh tôn trọng và bình đẳng cho phụ nữ nhưng khi sắc lệnh ký xong thì bản thân họ lại vào nhà thổ, cho phép phát triển kỹ nghệ “đàn bà”. Thậm chí có một vị Tổng thống có đến 3 – 4 tình nhân. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành đứng trước tượng thần Tự Do ghi những điều trên khi mình còn lầm than, rồi khi mình làm Chủ tịch một nước và khi qua đời, trên giường ông vẫn vắng hơi ấm của đàn bà. Con người khi làm Chủ tịch nước 24 năm đến lúc qua đời trên giường không có hơi ấm đàn bà.

Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân, ông càng vĩ đại hơn ở chỗ ông là một con người bình thường sống hòa lẫn vào trong cuộc sống của xã hội chứ không phải siêu phàm.

Tôi đọc nhiều tư liệu về ông và biết ông được nhiều phụ nữ yêu thương. Bà Lared theo đuổi Nguyễn Ái Quốc nhiều năm. Trong những đêm đi họp chi bộ về hai người đi bên nhau trên bờ sông Seine, bà tỏ tình mà Nguyễn Ái Quốc không mềm lòng. Khi bà qua đời, để lại cuốn nhật ký, tôi được đọc quyển nhật ký đó và hiện giờ con gái bà đang giữ. Con bà cũng nói với tôi: “Mẹ tôi yêu Nguyễn Ái Quốc”. Đấy, tôi phải đi tìm cho được những bằng chứng như vậy mới đủ cơ sở khẳng định nhân cách một con người của thời đại. Đúng, Hồ Chí Minh là nhân cách của thời đại.

Tôi cũng đến khách sạn Boston, ở Đông Bắc nước Mỹ, nơi Nguyễn Tất Thành ở đó làm thợ nặn bánh mì gần một năm trời và sau này chính các nhà đại văn hào châu Âu qua Mỹ đều ở khách sạn này. Nguyễn Tất Thành đã ghi lại tất cả những chính khách đến ở trong khách sạn Boston.

Tại đây có một cô gái quốc tịch Mỹ gốc Pháp tên Colét đã yêu say đắm Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành rất thích nghe hát và xem kịch, nhất là kịch cổ điển. Được biết Hồ Chí Minh rất yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ thuật rất phong phú, nhưng Nguyễn Tất Thành rời nước ra đi không phải để hoạt động chính khách mà ông đi tìm đường cứu dân tộc. Colét khuyên dụ ông đi với bà và tỏ ý muốn kết hôn với Nguyễn Tất Thành, nhưng ông đã tìm cách an ủi Colet để từ chối. Sau đó một thời gian, Colet trở thành một nhà văn lớn có tên tuổi. Nguyễn Tất Thành tâm sự và bà Colet kể lại: “Nếu tôi muốn có một văn bằng thì tôi đã thi năm 1904 ở trong nước, vì lúc đó tôi có một người con gái quê nhà yêu mà đành bỏ lại trên bến cảng để ra đi”.

Vừa rồi, tôi có đọc một bài hồi ký đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự của Viện quân sự Hoa Kỳ, do một số sĩ quan Anh – Mỹ trong quân đội của Đồng Minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng. “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Họ kể lại, có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ hỏi:

-       Không phải tò mò mà trên danh nghĩa là người đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh không lấy vợ, không lập gia đình?

Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: “Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

Tôi đã đi Quảng Châu và tôi biết Nguyễn Ái Quốc còn có một người yêu nữa tên Lý Phương Liên (bí danh) thư ký của Đông Phương bộ thuộc Cục Phương Nam là vợ của Lý Thụy (Cụ Hồ) ở phố Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc.

Thực tiễn cuộc sống có những việc nhìn thấy tận mắt chưa hẳn là thật. Khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số người trong tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sang dự một khóa học chính trị tại nhà số 13 phố Văn Minh cũng tưởng Lý Phương Liên là “vợ” của Lý Thụy, nhưng sau mới biết thực tế không phải như vậy, đây chỉ là việc ngụy trang để che mắt mật thám.

Tôi không coi vấn đề này quan trọng, tuy vậy, thời gian tôi đến Liên Xô, tôi cũng biết có một cô gái Nga yêu ông, yêu tới mức bà ta không lấy được Nguyễn Ái Quốc và suốt đời ở vậy cho đến già rồi chết. Có một nhân chứng người Nga được bà ta tâm sự kể lại với tôi rằng: “Hai người yêu nhau nhưng không dám lấy. Nguyễn Ái Quốc nói lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, làm cha và rồi thế nào mật thám cũng phát hiện ra, cho nên Nguyễn Ái Quốc không lấy vợ và tôi cũng không lấy chồng”.

Dân tộc Việt Nam mãi mãi nên tự hào về Hồ Chí Minh, nền văn minh nhân loại của thế kỷ XX này luôn tự hào có một vĩ nhân được cả thế giới, đại diện bởi UNESCO phong tặng Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương về nhân cách một người thời đại cho mọi thế hệ tiếp theo”.

Josephine Stenson

Hà Nội, tháng 5 năm 1990.

Với bà Lady Borton:

Mấy chục năm nay, Lady Borton đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.

Nhiều người đọc tác phẩm “Tiếp sau nỗi buồn”, viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời hậu chiến của Lady Borton, nghe kể về bà làm độc giả quý mến người phụ nữ Mỹ này vô cùng.

Bà trở lại Việt Nam trong vai đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Bà Lady Borton kể: Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington DC. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ.

“Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng 9 năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng thương tiếc khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.

Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi hai nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hóa quan hệ. Vậy nên khi mà hai nước đã bình thường hóa thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình”.

Nói về tác phẩm “Hồ Chí Minh – Một hành trình”, bà cho biết: Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh), tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với những dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết “Hồ Chí Minh – Một hành trình”, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.

Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ XX.

Được hỏi là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh? Bà trả lời: “Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp…

Hơn nữa, ảnh hưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới”.

Về vấn đề cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay, đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, bà Lady Borton cởi mở: “Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó ở mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.

Bà Lady Borton không chỉ viết nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà như bà nói đã đi nhiều nơi sưu tầm tư liệu về Hồ Chí Minh. Lần bà đến Anh Quốc rồi Hồng Kông năm 2000 nhằm quyết tìm tài liệu vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông (1931-1933), vụ án nổi tiếng trong lịch sử tòa án Hồng Kông. Qua nhiều ngày tìm tòi tra cứu bà đã phát hiện ra những tư liệu quan trọng được lưu trữ về vụ án này. Bà đã photo 250 trang tài liệu quý này để mang về Hà Nội tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tới lúc đó Việt Nam chưa có tư liệu gốc về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong, ngoài những điều do chính Bác Hồ tự truyện trong tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện”. So sánh hai nội dung rất khớp nhau. Qua đọc tư liệu do bà Borton tặng các nhà nghiên cứu của Việt Nam đã nhận thấy rất sâu sắc lúc đó Bác Hồ đã đối mặt với đầy nguy hiểm và Người khôn khéo, tài tình, bản lĩnh vượt qua những âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp muốn Anh giao Nguyễn Ái Quốc cho họ đưa đi một nơi nào đó thủ tiêu.

Câu chuyện của bà J. Stenson và Lady Borton làm cho chúng ta hiểu đầy đủ hơn về nhân cách của Bác Hồ, tỏa rộng đến mọi người, dù họ chưa từng được vinh dự gặp Bác lần nào. Điều này cũng cho mọi người thấy rõ, bất cứ ai, khi họ có cái nhìn trung thực về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh thì họ cũng tìm thấy những điều rất cao cả và sẽ quý trọng nhân cách con người Bác như hai bà J. Stenson và Lady Borton.

Rất cảm ơn hai bà đã dành tình cảm cao kính trọng lãnh tụ Hồ Chí Minh của nhân dân Việt Nam, người bạn tốt của những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó hai bà có một vị trí đặc biệt.

Nguyễn Hải Phú