Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Người thầy thời chiến

“Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa / Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”, những câu thơ cháy bỏng của nhà thơ Tố Hữu như còn vọng lại trong tôi thuở còn ngồi ghế phổ thông. Hình ảnh bộ đội vượt Trường Sơn tôi đã nghe rất nhiều qua âm nhạc, hội họa, câu chuyện và cả những lần cha, chú, bác họp mặt gia đình cũng hay kể. Và trong tôi óng ánh một Trường Sơn huyền thoại, một Trường Sơn “lấy sức người vượt sức thiên nhiên” (nhạc sĩ Trần Hoàn).

Có người vượt Trường Sơn ra Bắc với nhiệm vụ học tập hoặc chiến đấu; có người vượt Trường Sơn vào Nam để phục vụ chiến trường miền Nam đánh Mỹ, tiếp tế lương thực thực phẩm, vũ khí và cả diệt giặc dốt… Bao người đi, bao kẻ về, chiến công oanh liệt và lặng thầm cứ lên xanh như rừng thản nhiên ra hoa đơm trái dâng đời vô tư.

Cuối năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – Ngụy ở miền Nam sắp bị phá sản. Nhân dân ta đã làm chủ một vùng giải phóng rộng lớn ở nông thôn và rừng núi. Yêu cầu củng cố và phát triển toàn diện vùng giải phóng đặt ra rất cấp thiết. Vì vậy, Trung ương đã cấp tốc điều động một lực lượng lớn cán bộ dân chính chi viện cho miền Nam. Về giáo dục, ngoài lực lượng chi viện cho giáo dục phổ thông và bổ túc văn hóa còn có yêu cầu thành lập Trường Đại học Giải phóng để đào tạo cán bộ và đấu tranh văn hóa giáo dục với địch. Hơn 10 cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Tổng hợp đã được triệu tập để làm nòng cốt cho việc mở trường đại học này, trong đó có ông Nguyễn Đức Ánh.

“Tôi lúc bấy giờ đang là cán bộ giảng dạy Tâm lý học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng có tên trong danh sách về miền Nam công tác tại Trung ương Cục. Tuy đang học tiếng Nga để chuẩn bị đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh nhưng trước tiếng gọi khẩn thiết của miền Nam, tôi sẵn sàng gác lại việc đi học để lên đường làm nhiệm vụ thiêng liêng đó. Không thể nào tả xiết nỗi vui mừng và hăm hở của chúng tôi – những đứa con miền Nam tập kết ra Bắc, nay lại được trở về góp phần giải phóng quê hương” – Ông chính là Nguyễn Quốc Bảo, tức Nguyễn Đức Ảnh, sinh năm 1935 tại Quy Nhơn – Bình Định. Từ sau giải phóng đến nay, ông sống ở 55 Nguyễn Văn Thủ, quận 1; hiện tại ở số 71, Lê Trung Nghĩa, P.12, Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, bồi hồi kể chuyện xưa.

Anh-minh-hoa---Nguoi-thay-thoi-chien

Kể từ khi đi B, ông Bảo, người chiến sĩ trên mặt trận giáo dục và là cán bộ cốt cán của Tiểu ban Giáo dục miền Nam kiên cường lặn lội khắp vùng Tây Nam bộ, Đông Nam bộ, rồi Phước Long, Củ Chi, vùng tranh chấp, vùng giải phóng, vùng “Tam giác sắt”, dọc ngang trên đất Sài Gòn – Gia Định xưa không ngại hiểm nguy giữa lằn ranh sống chết của bom đạn chỉ với mục đích tối hậu: xây dựng phong trào giáo dục cách mạng, tuyên truyền đồng bào hiểu sự tàn ác của giặc và vùng dậy giải phóng.

Đi theo tiếng gọi miền Nam, nhà giáo – chiến sĩ Nguyễn Quốc Bảo đã chia tay vợ và hai con thơ dại. Giữa chiến trường ác liệt, nhưng nhờ có sự động viên của vợ hiền qua hơn 500 bức thư trong suốt thời gian tham chiến, nên ông Bảo đã an tâm cống hiến trí lực vì đồng bào miền Nam dưới ngọn cờ Đảng quang vinh.

Công việc đầu tiên mà ông Quốc Bảo được Trung ương Cục miền Nam giao là cùng nhóm anh em tu chỉnh và biên soạn lại chương trình và sách Giáo khoa cấp 1. Điều khó khăn đã đến với ông. Một là, ông đang dạy đại học; hai là, không có sách chuẩn để tham khảo; ba là, làm sao dùng từ ngữ và cách giảng dạy cho phù hợp với lứa tuổi cũng như đối tượng là học sinh miền Nam trong thời chiến tranh; bốn là in ấn khó khăn và sau cùng việc vận chuyển sách, tài liệu dạy và học đến giáo viên và học sinh vô cùng gian khổ trong thời điểm chiến tranh gay gắt ngày càng ác liệt giữa ta và Mỹ – Ngụy.

Nhắc lại câu chuyện trí vận, ông Nguyễn Quốc Bảo chia sẻ rằng: “Trong chiến tranh ác liệt, việc duy trì trường lớp là quan trọng số một. Chúng tôi xác định yêu cầu cơ bản đối với học sinh cấp 1 là đọc thông viết thạo và làm nhanh bốn phép tính, vận dụng các phương pháp trực quan, vừa sức, động viên các em khắc phục khó khăn cố gắng học chăm, học giỏi. Về giáo dục, hết sức chú ý phương pháp thuyết phục, nêu gương người tốt việc tốt trong phong trào kháng chiến để giáo dục lòng yêu nước căm thù địch, chống lại những âm mưu xảo quyệt của chúng”. Chẳng vậy mà nhà giáo – chiến sĩ ấy đã có rất nhiều buổi nói chuyện với nhiều tầng lớp bà con nông dân, học sinh, trí thức thời bấy giờ về văn hóa, văn chương, tư tưởng,… hầu hết được mọi người hưởng ứng. Khi nói chuyện, ông Bảo xưng là cán bộ của xã, nhiều người trầm trồ: “Cán bộ xã mà đã nói hay như vậy, thì người của Trung ương sẽ còn hay hơn cỡ nào. Kiểu này Mỹ – Ngụy phải thua thôi!”. 

Như vậy, từ Long Định, Ấp Bắc, Mỹ Lợi, Chợ Gạo, Vàm Cỏ cho tới giáp ranh Campuchia, Mã Đà, Bình Dương, rồi quận, huyện Sài Gòn đều có dấu chân người lính trên mặt trận giáo dục ấy, góp phần tạo niềm tin và hạnh phúc cho nhân dân vùng giải phóng. Nhiều bà má rất hạnh phúc khi đã đánh vần và đọc được thư của con trai gửi từ chiến trường về. Những người vợ nhận tin chồng còn bình an nơi chiến trường, là động lực để hậu phương tăng gia sản xuất làm hậu thuẫn cho tiền tuyến…

Rất nhiều lần may mắn vượt thoát làn tên mũi đạn của Mỹ – Ngụy, tinh thần phấn khích hơn qua những bức thư giữa ông với người vợ đảm đang chung thủy Đặng Thị Hảo. Ông Bảo cho tôi xem bức thư cũ ố vàng năm cũ, có đoạn ông viết cho vợ:

“Hảo em, anh xuống đây đụng hai trận càn lớn của “liên quân Việt – Mỹ” rồi. Trận Kiến Phong ta đánh chìm ba mươi bảy tàu trên kênh Nguyễn Văn Tiếp B đấy. Chà, ai đời thuở lại dại như thằng Mỹ, cái kênh Nguyễn Văn Tiếp B chỉ rộng có sáu mươi, bảy mươi thước tây mà dám đem hàng chục tàu vô. Đến lúc ta bắn, chúng không còn xoay ngang xoay dọc vào đâu được nữa. Cứ thế mà chịu ăn đòn thôi… Trong trận này có đồng chí chiến sĩ bắn chín quả đạn B41 hạ bảy tàu, diệt hơn bốn trăm thằng. Vừa rồi anh lại bị một trận càn của bọn lính “trâu điên” (cái tên kỳ quá – chúng đặt tên này cho đơn vị của chúng). Chuyện buồn cười là “trâu điên” bị trâu Đồng Tháp chém chết hai thằng. Đến con trâu của ta cũng ghét chúng. Đồng bào ta nhìn thấy thằng Mỹ thua đã rõ ràng…”.

Trong đoạn thư ấy và rất nhiều bức thư nữa, hầu như ông chỉ kể về tình hình chiến đấu, công tác, việc chung là trên hết, tình yêu thương được ém chặt trong lòng. Ông chờ ngày giải phóng sum vầy! Trong thư, người đọc hình dung được tình hình giữa ta và giặc, giữa tinh thần ta với tinh thần giặc lúc bấy giờ…

Có lần, ông Nguyễn Quốc Bảo được lệnh trở về Tiểu ban Giáo dục R. Chia tay anh em đồng đội, ông đã một mình vượt sông Sài Gòn, nhưng phải mất đến 8 đêm mới qua được sông. Vì lúc này, đêm thì địch phục kích, có đêm thì bị pháo bầy, lại có những đêm chúng dùng “cán gáo” soi (một chiếc soi đèn, một chiếc bắn) và có đêm thì tàu địch tuần tiễu gắt gao. “Lúc qua được sông Sài Gòn mới biết mình thoát chết” – ông Bảo nói.

Thế rồi, trên khắp miền Nam những năm 1969 – 1970, chiến tranh giữa ta và Mỹ – Ngụy diễn ra hết sức ác liệt. Phong trào giáo dục lắng xuống, sau các Chỉ thị 22/CT và 23/CT của Trung ương Cục, phong trào mới dần khôi phục. Tuy nhiên, địch tiếp tục đánh phá dữ dội, chúng lấn chiếm đóng đồn bót khắp xóm ấp, lập bộ máy kềm kẹp, giáo dục lại gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình thế đó, Trung ương Cục đã vận dụng Chỉ thị 01 về việc phá kế hoạch “bình định cấp tốc” và “bình định đặc biệt” của địch và từ thực tiễn của phong trào giáo dục, Tiểu ban Giáo dục R đã đề ra chủ trương “Giáo dục tham gia đánh phá bình định”. Giáo dục phải chuyển hướng hoạt động, phải tiến hành công tác trên cả ba vùng: giải phóng, tranh chấp và đô thị.

Lúc này, vùng giải phóng của ta bị thu hẹp nhiều, chỉ còn rừng núi và các “lõm” giải phóng, ta chủ trương “một người cũng dạy, một người cũng học” và “giải phóng đến đâu trường mở lớp đến đó”.

Ở những vùng địch bình định, hình thức đấu tranh rất phong phú: khống chế, chi phối nội dung giảng dạy trong các trường do bọn “bình định” lập ra; cài người của ta vào dạy trong trường địch; đưa người của ta đứng ra xin phép mở trường (sử dụng tài liệu giáo khoa của địch nhưng bỏ những phần chống cộng, phản động, lồng những nội dung tiến bộ vào dạy cho học sinh); cảnh cáo, lên án những giáo viên “bình định” phản động, diệt bọn ác ôn đầu sỏ… Nhiều nơi địch phải lùi bước, “giáo viên bình định” phải rút chạy, ta đã làm chủ được nhiều trường với nhiều mức độ khác nhau. Trong giai đoạn này ta đã đưa một số lực lượng ra hoạt động hợp pháp và bán hợp pháp ở vùng tranh chấp và đô thị.

Còn vùng ven, hình thức hoạt động giáo dục của ta cũng giống như vùng bình định địch, chủ yếu là nắm và chi phối trường của địch bằng cơ sở hợp pháp và bất hợp pháp của ta. Có nơi, cơ sở hợp pháp và bất hợp pháp của ta đấu tranh mở được trường lớp.

Tuy vậy, yêu cầu của mỗi vùng có khác nhau: vùng giải phóng thì tập trung xây dựng nền giáo dục cách mạng, vùng tranh chấp thì vừa xây dựng giáo dục cách mạng vừa đấu tranh, vùng tạm bị chiếm (đô thị) thì vừa đấu tranh chống văn hóa giáo dục của địch, vừa xây dựng lực lượng cách mạng.

Trong khoảng thời gian này, người chiến sĩ giáo dục Nguyễn Quốc Bảo đã có điều kiện tham khảo nhiều tài liệu liên quan đến giáo dục từ nhiều nguồn khác nhau. Từ nguồn tin tức (tài liệu của Thông tấn xã), nguồn sách, báo của Sài Gòn cho đến nhiều nguồn tư liệu sống qua tiếp xúc trực tiếp với các nhân sĩ trí thức tham gia Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, giáo sư Nguyễn Ngọc Thưởng, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa… Chính những vị này đã cung cấp giúp ông Bảo có những kiến thức về các tổ chức giáo dục Mỹ – Ngụy, thấu đáo hơn về bộ máy của Bộ Giáo dục – Thanh niên và các viện đại học của Sài Gòn. Đồng thời, ông cũng hiểu rõ hơn về tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc của các trí thức Sài Gòn và các đô thị miền Nam.

Thầy giáo Bảo cười hiền, tháo gọng kính và nói vui: “Vượt Trường Sơn mới biết rõ con người mình như thế nào. Vì trong gian khó đó bao nhiêu tính tình bộc lộ hết. Lần đầu vượt Trường Sơn cứ tưởng chết, mà không chết. Từ mùa hè đỏ lửa – 1972, tôi lại vượt Trường Sơn ra Bắc. Lần trước, mình từ hậu phương ra tiền tuyến, lần này từ tiền tuyến lại trở về hậu phương. Lần trước mình là người chi viện, lần này mình lại là người đi xin chi viện. Nhiệm vụ mới đặt ra thật nặng nề, nhưng niềm vui cũng rộn ràng vì mình sắp gặp lại người thân…”. Nói tới đây, giọng ông chùng hẳn, hình ảnh vợ hiền bị bệnh hiểm nghèo đã ra đi để lại trong ông và các con một khoảng trống khó lấp nổi. Tình yêu 50 năm ấy giữa họ đằm thắm, hy sinh, nghĩ về nhau cho tới phút giây cuối cùng vẫn vẹn tình phu thê khiến chúng ta thêm cảm phục.

Lần này, đoàn của đồng chí Nguyễn Quốc Bảo ra Trung ương gặp đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên huấn để trình bày và nêu nguyện vọng về tình hình giáo dục trong miền Nam. Các Tiểu ban thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam lần lượt trình bày yêu cầu của mình. Ông Nguyễn Quốc Bảo đã thay mặt Tiểu ban Giáo dục R trình bày về hai yêu cầu giáo dục xác đáng như sau:

“Một là, xin Trung ương chi viện cho giáo dục miền Nam cán bộ quản lý và các khung sư phạm để đào tạo giáo viên.

Hai là, chi viện sách giáo khoa, đồ dùng dạy học và phương tiện in ấn”.

Để đáp ứng hai yêu cầu trên, đồng chí Tố Hữu đã chỉ đạo cho Bộ Giáo dục lập kế hoạch và khẩn trương triển khai.

Vợ chồng sum họp chưa được bao lâu thì ông lại nhận nhiệm vụ mới về công tác giáo dục (trí vận), chuẩn bị cho ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nam tiến xuất phát lần thứ ba.

Kể từ sau Hiệp định Paris, ông Bảo cùng các đồng chí bên Ban Tuyên huấn ráo riết chuyển sách giáo khoa, đồ dùng dạy và học cũng như có những phương án mới trong công cuộc khai sáng trí thức cho đồng bào từ trẻ em cho tới người lớn. Tất cả phải được học, tất cả phải biết chữ, kiến thức sẽ là nền tảng để kiến thiết và làm giàu cho Tổ quốc.

“Vậy là chúng tôi đã hoàn thành việc chuyên chở sách, phân phối phù hợp từng địa phương, đã được tổ chức một cách quy mô từng đợt và hoàn thành trong mùa hè năm 1975. Ngày khai giảng đầu tiên sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, sách giáo khoa của Nhà xuất bản Giáo dục giải phóng đã đến tay thầy, cô giáo và các em học sinh ở tất cả trường học từ cấp 1 đến cấp 3 trước sự ngỡ ngàng và thán phục của mọi người. Vượt Trường Sơn lần thứ ba hoàn toàn ngồi trên ô tô, thú vị và hân hoan cùng đất nước bắt đầu giải phóng nổ ra khắp nơi”.

Sau ngày 30.4.1975, nhà giáo – chiến sĩ Nguyễn Quốc Bảo được Trung ương bổ nhiệm làm Chánh Văn phòng Bộ Giáo và Thanh niên, sau đó làm Phó Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục. Từ năm 1977 đến 1987 là Phó Hiệu trưởng, kiêm Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Sau thời gian đó, ông Bảo tiếp tục phụ trách Phó Chánh văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo kiêm Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng giáo viên.

Một cuộc đời gắn với công tác giáo dục, thầy giáo Nguyễn Quốc Bảo là tấm gương sáng cho những người trẻ noi bước trên con đường sư phạm, dù hiểm nguy hay trong phút giây an nhàn đều luôn vì mọi người, xã hội mà dốc lòng phụng sự. Đảng và Nhà nước đã ghi nhận những đóng góp quý báu của đồng chí Nguyễn Quốc Bảo qua việc tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương và Bằng khen, Giấy khen rất có giá trị trong sự nghiệp trồng người và là chiến sĩ thời chống Mỹ. Trong đó, có thể kể: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Nhì, Ba.

Không chỉ vậy, sau khi về hưu năm 1998, thầy Bảo đã tham gia sáng lập Trường Đại học Dân lập Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM. Những phút rảnh rỗi, ông dành thời gian cho việc viết lại những chặng đường đã qua, những nơi đã đến, những người đã gặp… Kỷ niệm ùa về trên mái tóc trắng của nhà giáo – chiến sĩ trên 56 năm tuổi Đảng ấy.

Tôi hỏi thăm về sức khỏe, ông chia sẻ: “Đầu tiên là không được để cái đầu bị bệnh, vì đó là trung tâm kiểm soát và chỉ đạo. Kế đến là ăn không quá no, chỉ vừa đủ; ăn nhiều rau củ, quả và cá, hạn chế dùng thịt; ăn buổi sáng và buổi trưa còn buổi chiều chỉ dùng rau quả nhẹ, buổi tối tuyệt đối không ăn. Có như vậy mới kéo dài tuổi thọ. Sống khỏe, chết mau là hạnh phúc!”. Ông với tôi cười trong buổi nắng mai chuẩn bị đón gió xuân về trên thành phố mang tên Bác thật rộn ràng.

Ông tin tưởng ở tuổi trẻ hôm nay và ngày mai. Bởi, “những ai đi sai, làm trật đều sẽ bị trừng phạt đích đáng. Con đường tới đỉnh vinh quang đâu dành cho kẻ chây lười và hèn nhát” – ông Bảo nhắc lại điều đó.

TP.HCM, ngày 2.1.2017

Trần Huy Minh Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452