Tản văn

Người thầy không biết chữ của tôi

Năm 6 tuổi, học vài tháng lớp 1 xong, tôi cầm cuốn truyện tranh “Mẹ con gấu trắng” được cô giáo tặng về khoe, rồi hăm hở đọc vài trang cho má nghe. Má sung sướng xoa đầu khen: “Con giỏi quá, con biết chữ là hơn má rồi…”.

48 năm trôi qua, tôi vẫn luôn nhớ đến “người thầy không biết chữ” đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời và nghiệp văn của mình.

*
Má tôi dân Bình Định; năm 1997, khi đã 33 – 34 tuổi, tôi lần đầu đưa vợ mới cưới từ Sài Gòn về thăm quê mẹ. Suốt mấy chục năm trước đó, má hay kể về quê nghèo xa xăm của mình. Tôi nhớ nhưng không thể hình dung vì mình sinh ra, lớn lên giữa thành phố Đà Lạt, không mường tượng được cái làng Nho Lâm, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước thế nào…

Tôi về quê mẹ trên một chiếc taxi thuê từ Quy Nhơn. May mắn sao bác tài là cựu sinh viên Luật khoa Sài Gòn, rất yêu thương, tự hào và biết khá nhiều về lịch sử và huyền tích đất võ. Anh ấy đã đưa vợ chồng tôi đi thăm các phế tích của thành Đồ Bàn, đền thờ hai tượng đá khổng lồ của những vị tướng quân Chiêm Thành, lăng mộ Võ Tánh và giới thiệu nhiều ngôi chùa có những báu vật của Bình Định như chuông đá, chuông đồng phát ra âm thanh theo bốn mùa. Đặc biệt là về nhà Tây Sơn với vua Quang Trung – niềm tự hào lớn nhất của dân Bình Định hơn 200 năm nay… Anh lại cố tình lái xe đi ngang qua những cái chợ quê hồn nhiên, dân dã và hình ảnh, cách sinh hoạt của nó không khác gì một bài thơ hay bức tranh tuyệt đẹp làm chúng ta phải say mê. Lần đầu về quê mẹ, tôi tuôn theo những cảm xúc dạt dào, đủ cung bậc như thể gắn kết điều đó với tính cách, giọng nói của má và những câu chuyện má kể, má dạy, những món má nấu cho ăn từ nhỏ… tôi bỗng vỡ òa ra nhiều điều suy nghĩ. Day dứt mãi, 20 năm sau mới ngồi viết bài này…

Nhà ông bà ngoại tôi nằm trên một mô đất, từ chỗ taxi đậu phải lội bộ qua một cánh đồng ngập nước quá đầu gối mới vào được nhà. Một căn nhà xây cấp bốn phổ biến như mọi căn nhà miền Trung, với màu vôi cũ kỹ, mái lợp ngói và tường đắp bằng vôi với bã mía. Nhà chính cũng là gian thờ, các sinh hoạt khác của gia đình ở ba cái chái hai bên và phía sau gian thờ. Ông ngoại mất khi má mới 9 – 10 tuổi, bà ngoại đi bước nữa và cậu Ba, cậu Bốn làm thợ mộc, má thứ Bảy đi vào Nam gặp ba tôi nên vợ, chồng…

Cậu Ba ở nhà từ đường, năm đó cũng đã gần 70, mếu máo đón vợ chồng đứa con cô em lưu lạc về thắp hương cho ông bà, tổ tiên… Tôi nhớ giếng nước nằm sát bờ ruộng đục màu phèn, nhà cậu Ba phải múc lên đổ vào lu có đáy cát với than sắp lớp dày để lọc rồi chảy rỉ rả ra thau với màu nước trong như nước mắt… Tại sao tôi không về quê ngoại sớm hơn?

Doi-thuyen-giay---Vo-Nam---Anh-1
Đôi thuyền giấy – sơn mài – Võ Nam.

Má rời làng lúc chưa đủ lớn, lại không biết chữ nên chẳng nhớ được đủ tên quê quán. Thời chiến tranh khốc liệt, cuộc sống bấp bênh “nay chạy giặc, mai tản cư” kiếm miếng ăn, chỗ ở qua ngày đã khó nói gì đến việc khác. Sau 30-4-1975, từ Đà Lạt, gia đình tôi lại về vùng kinh tế mới R’Chai (nay thuộc xã Tân Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng) sống qua 15 năm nghèo khổ đến mức chẳng có tiền, có dịp để đi đâu xa hơn cái huyện, cái tỉnh của mình. Tôi lớn lên, học hành, lập nghiệp xong, số phận đẩy đưa vô nghề báo, được đi miền xa, miền gần và kiếm được chút tiền bạc nuôi thân, phụ giúp gia đình…

Rồi một chiều cuối năm 1993, có bà chủ lò đường dưới Đại Ninh – Đức Trọng (cách nhà tôi gần chục cây số) được con trai chở bằng xe Honda 67 vào xóm tôi mua mía. Gặp má tôi nói tiếng Bình Định sền sệt, bà chủ lò đường cũng dân Bình Định nên hỏi thăm quê quán nhau. Chẳng ngờ bà ấy (sau này tôi gọi là dì Tám) lại là con gái của người chồng sau của bà ngoại tôi. Thế là dì Tám và má tôi nhận chị em, nhờ đó cả nhà tôi mới biết đến làng Nho Lâm thuộc xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định mà má đã quên. Suốt 30 năm nay.

Ba tôi cũng là đứa con mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng rời xứ Huế từ tuổi thiếu niên, cũng mấy chục năm “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ về quê mẹ chín chiều ruột đau …”, cũng mấy chục năm mong ước mà chẳng thể về quê! Tôi gom góp được chút ít tiền, gửi về tặng ba má làm lộ phí “hồi hương”. Cả hai đi xe đò về làng Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế (cách thành phố Huế 7 cây số, bên bờ sông Như Ý) để thăm quê chồng, thắp hương mồ mả ông bà, cha mẹ, nhà thờ tổ tiên, thăm bà con lối xóm vài ngày rồi lại trở vào Bình Định về làng Nho Lâm quê má tôi…

Tôi không được đi chung trong chuyến về làng sau hơn 40 năm ly hương của cả ba lẫn mẹ, nhưng chắc rằng cả hai người đã rất bồi hồi, hạnh phúc. Hơn năm sau, tôi cũng đưa cô vợ mới cưới đi theo hành trình ấy. Về đến nhà thờ từ đường của tộc Lại Phước ở làng Dưỡng Mong, chị họ tôi đang giữ nhà từ đường chỉ cây gòn vợ chồng tôi nối tay ôm không xuể cười mếu máo: “Cậu (ba tôi) trước khi vào Nam trồng cây gòn này làm kỷ niệm. Cây to như ri, năm ngoái cậu mới quay về”… Chị lại dắt vợ chồng tôi đến mái hiên nhà thờ tổ tiên, chỉ vào cái thạp (lu) da lươn mẻ miệng: “Đây là thạp gạo của nhà mình khi xưa. Trước khi đi cậu viết thư để lại trong nớ. Hồi nớ chị mới 9 – 10 tuổi, đọc thư cậu xong khóc như ri luôn. Đến lúc chị sắp thành bà nội, cậu mới đưa vợ về. Cha mệ ơi sao mà mừng, khóc mãi thôi…”.

Ba má tôi nay đều đã ngoài 80. Cuộc đời của hai cụ như chiếc lá trôi theo thời thế, từ miền Trung vào Nam tránh bom đạn chiến tranh. Ba tôi bỏ làng ra đi vì mồ côi và một tai nạn làm mất một bên mắt gây đau đớn cả tâm hồn lẫn thể xác. Nhưng nhờ đó sau này cụ không bị bắt lính, không phải bỏ thây nơi sa trường hay chịu những thay đổi như cả triệu gia đình có người đàn ông cầm súng cho VNCH sau ngày 30-4-1975. Nhiều bạn bè, bà con của cụ giờ vẫn lênh đênh ở Mỹ, ở Úc, Canada… với nỗi nhớ quê xót xa cồn cào, hay không thể mãn kiếp ở nơi chôn nhau cắt rốn như mong muốn. Lịch sử, tôi cứ nghĩ đó là dòng sông chở đầy những phận người lênh đênh như lá khô trên dòng nước. Có chiếc lá gặp may, được yên ổn. Có lá lại bị thác ghềnh vùi dập tơi tả. Nhưng rồi tất cả cũng về với đất thôi!

*
Tôi nhớ tuổi thơ với mưa dầm rét buốt ở Đà Lạt; nhớ căn nhà trọ mái tôn, vách tôn bị mưa gõ ầm ầm; nhớ giọng Bình Định của má ngân lên với mấy khúc ru em tôi nằm trong nôi: “Mẹ ơi đừng đánh con đau/ Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ/ Bắt ốc, ốc nhảy lên bờ/ Hái rau, rau héo mẹ nhờ chi con…” hoặc “Chợ chiều nhiều khế ế chanh/ Nhiều con gái quá nên anh chàng ràng…”. Đôi khi má hát những câu có địa danh của Bình Định… “Anh về Đập Đá quê cha/ Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê nàng”, “Gò bồi có nước mắm cơm/ Ai đi cũng nhớ cá tôm Gò Bồi…”. Sau này, hàng chục lần ra Bình Định, lần nào ngồi trên xe trong đầu tôi cũng vang lên mấy bài hát ru của má, lần nào cũng chông chênh như say nắng, say gió; thấy từng làng quê Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tuy Phước… từng con đường, góc phố ở Quy Nhơn, từng tiếng cười, giọng nói xứ “nẫu” sao mà thân thương, cứ như từng câu hát ru của má – thứ đã thấm vào xương tủy, tâm cang của mình!

*
Đến giờ tôi đã viết (in và chưa in) gần chục tiểu thuyết, vài chục truyện ngắn; một số tác phẩm được dịch ra tiếng Anh, Nhật, Pháp, Trung Quốc… được giảng dạy ở nhiều trường đại học. Tôi cũng từng được thỉnh giảng các môn triết học, báo chí; được giải nhất, nhì báo chí quốc gia, giải nhất thi truyện ngắn của báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam… Tôi biết một phần cảm xúc lan tỏa trong các tác phẩm đó chắc chắn từ xứ Huế của ba, đất võ của má. Có những câu chuyện má kể từ ấu thơ cứ ám ảnh, day dứt buộc tôi phải viết ra thành truyện ngắn, truyện dài. Năm 1972 – tôi 8 tuổi, má kể về một đoàn xiếc có người lùn chỉ cao đến thắt lưng người thường, nhưng khuôn mặt già nhăn nheo, lại bị điếc và câm. Má nói từ bé người ấy đã bị nhốt vào căn phòng tối mù mịt, thiếu không khí nên không cao lớn hay biết nghe, biết nói được nữa.

Rồi má kể: Có người ăn ở hai lòng, thờ cả Chúa lẫn Phật. Đến khi sắp chết bị cả hai đạo giành giật linh hồn nên không “nhắm mắt xuôi tay” được, cứ vặn mình trong khổ sở… Mấy mươi năm sau tôi vẫn rùng mình, rờn rợn người mỗi khi nhớ đến những câu chuyện này! Sau năm 1975, gia đình tôi đi kinh tế mới, vào núi khai hoang rừng. Tôi 12 – 13 tuổi vào nghiệp tiều phu, có lần được nghe má kể: “Ngày xưa có những con đại bàng to lớn đến mức bay qua làng nào là làng đó tối sầm vì sải cánh của nó che mất mặt trời…”. Cánh rừng âm u mà hai má con đi lấy củi bất ngờ tắt nắng vì đám mây bay ngang, tôi khiếp sợ như đám mây ấy là con đại bàng từ xa xưa bay về.

Một chiều sau cơn mưa năm 1974, má dắt tay tôi đi trên vỉa hè đường Phan Đình Phùng – Đà Lạt còn sũng nước. Má ghé tiệm tạp hóa mua 3kg đường cát trắng, mấy lạng đậu phộng và 4 trái chanh. Tôi 10 tuổi hỏi má sao mua nhiều đường vậy, má cười: “Má làm thêm kẹo kéo bán với xôi”. Tôi tròn mắt: “Má biết làm kẹo kéo sao?”… Tối đó, má nấu đường rồi đổ ra cái mâm lót lá chuối. Chờ đường nguội má đổ nước cốt chanh vào, trộn lên rồi dùng cả hai tay cầm tảng đường đó đập lên cây đinh 20 phân đóng vào cột nhà. Đây là khâu đầu tiên để làm kẹo kéo, sau đó kéo thành dây dài đổ đậu phộng rang đã chà vỏ vào bụng cây đường. Má làm vất vả, trán rịn mồ hôi dù đêm Đà Lạt rất lạnh. Tôi thấy thương má nên hỏi: “Chừng nào má mới được nghỉ ngơi, chơi với tụi con. Sao má khổ quá vậy?”. Má thở dài: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời… Đời ông bà ngoại, đời má đã khổ, chắc đời tụi con sẽ được sướng…”.

Má vẫn tin tưởng vào Trời Phật. Câu “thần chú” má đọc những lúc gặp khó khăn tôi thuộc lòng đến tận bây giờ và thường dùng nó để van vái mỗi khi cúng kiến hoặc cầu xin phước lành: “Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thánh, lạy Thần, lạy Cô, lạy Mẫu, lạy Tổ tiên, lạy Ông bà… xin phù hộ cho con…”.

Tháng 3-1975, Đà Lạt được giải phóng. Đêm kho đạn Cam Ly cháy nổ bừng sáng một góc trời, má trầm tư: “Vậy là Việt Minh sắp về”… Chị em tôi bu quanh má nhao nhao: “Việt Minh là ai? Má có quen với họ không?”. Má gật gù: “Hồi nhỏ ở quê Bình Định thời Việt Minh vui lắm! Lũ nhỏ như má mang trống ếch đi khắp làng ca hát, tuyên truyền. Thời Việt Minh người giàu sợ người nghèo vì Việt Minh bênh người nghèo. Việt Cộng bây giờ là Việt Minh ngày xưa…”. Rồi má nói thêm: “Việt Minh nghiêm khắc lắm, họ chặt tay những người trộm cắp…”.

Chỉ vài ngày sau, những gì má kể về Việt Minh đã thành sự thật. Đơn vị Quân giải phóng đầu tiên vào Khu số 4 – xóm nhà tôi đang ở đã định xử bắn những tàn binh chế độ cũ dùng súng cướp bóc. May nhờ có các bô lão đứng ra xin nên đám người hung dữ này mới thoát được án tử hình. Rồi chính quyền cách mạng – tức “Việt Minh ngày xưa, Việt Cộng bây giờ” như cách nói của má, đã bênh người nghèo thật. Họ gọi bà chủ nhà trọ là “bóc lột” và không cho thu tiền trọ gia đình tôi cũng như các hộ thuê trọ khác… Tôi 11 tuổi cũng tham gia thiếu nhi khu phố, tối tối ra đường đánh trống hát vang bài “Anh Kim Đồng ơi, anh Kim Đồng ơi…”, “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước”… mới vừa được dạy.

*
Tết Mậu Thân 2018 này, tôi 55 tuổi, tóc bạc một phần, nhiều lúc nghĩ về má – người thầy không biết chữ của mình, tôi vừa thương vừa phục. Những gì má dạy tôi, tôi nghĩ đó gần như là những quan điểm triết học về các mặt: tự nhiên, tôn giáo, xã hội, chính trị, đạo đức…

Má tôi năm nay đã 84 tuổi vẫn sống ở vùng nông thôn Lâm Đồng, ngày ngày vẫn tất bật chăn bầy gà, mấy con ngỗng với vài chú vịt xiêm. Rồi mỗi tháng má lại gửi thành quả lao động ở tuổi U90 của mình cho các con, dâu rể, cháu nội, cháu ngoại ở Sài Gòn. Vài con gà, con vịt hay mớ trứng sạch là thứ mà dân thành phố rất thích trong thời kỳ “ăn gì cũng sợ bị nhiễm độc”. Nhiều khi lo má vất vả, anh em tôi năn nỉ cụ đừng chăn nuôi, đừng gửi quà nữa để má được nghỉ ngơi. Nhưng cả đời cụ “hay lam hay làm”, giờ ngồi bó gối chờ con cháu nuôi, cụ không chịu…

Tháng 11-2017

Lại Văn Long
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc