Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Người nữ tù kiên trung gang thép

Sau Hiệp định Genève, ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam quê hương mẹ Trần Thị Tư (tên khai sinh là Trần Thị Thạnh) cũng cùng chung cảnh bị chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố, truy bắt những người kháng chiến cũ. Để đàn áp các phong trào đấu tranh đòi hòa bình, đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève, lấy chữ ký hàng ngàn người dân kiến nghị gửi lên Ủy hội Quốc tế, địch cho đàn áp dã man. Luật 10/59 dựng lên, cho phép chính quyền Diệm giết bất cứ ai bị tình nghi là cộng sản mà không cần xét xử, gây bao cảnh tang tóc, thê lương cho quê hương mẹ Tư. Địch bắt giết, mổ bụng những người kháng chiến cũ, bỏ vào bao bố, thả trôi trên sông Thu Bồn. Chúng đưa những người yêu nước lên đập Vĩnh Trinh, giết chết, đốt cháy mặt rồi xô xuống mặt đập. Mẹ kể, những ngày đen tối ấy, mẹ Tư vốn tham gia công tác Hội Phụ nữ thời chống Pháp, kiên trì bám trụ, ẩn trong hầm bí mật của các mẹ…

Chính những ngày đen tối ấy mẹ mới biết vì sao ngay khi Hiệp định Genève được ký kết, tập kết chuyển quân, Đảng dạy: “Đi vinh quang, ở lại cũng vinh quang”. Và mẹ hiểu vì sao, một số cán bộ, đảng viên trung kiên, bắt rễ sâu phong trào địa phương được chỉ định ở lại, mà mẹ là một trong số cán bộ không đi tập kết, bám trụ lại quê hương hoạt động…

Khi ấy, con trai Lê Duy Huân của mẹ được 6 tuổi. Với nghề “cô đỡ”, mẹ đi sâu vào quần chúng, nắm bắt tình hình. Sau tháng 7-1956, mẹ biết rõ ràng không có hiệp thương Tổng tuyển cử. Bọn tay sai càng hống hách, khủng bố nhân dân. Một số quần chúng còn đang lưng chừng, bắt đầu hoang mang, thiếu tin tưởng cách mạng. Một số bà con trước đây luôn tin tưởng vào chiến thắng, hòa bình của cách mạng bắt đầu lo lắng, sợ hãi khi địch vây ráp, bắt bớ ngày đêm…

Trước tình hình khó khăn ấy, mẹ tìm cách gởi con cho người thân, rút vào hoạt động bí mật để “bảo toàn lực lượng”…

Dưới căn hầm bí mật được nhân dân che chở, mẹ vắt óc tìm cách đối phó với địch. Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” của địch quá thâm độc, tàn khốc, gây vô vàn tổn thất cho phong trào cách mạng ở địa phương. Làm thế nào để chặn bàn tay đẫm máu của bọn tay sai? Làm thế nào để dân tin rằng Đảng vẫn còn? Những cuộc đấu tranh bằng lý lẽ, yêu cầu địch tôn trọng Hiệp định Genève được đáp trả bằng súng đạn, nhà tù, máy chém. Máu đồng bào đồng chí ngày càng đổ nhiều hơn xuống mảnh đất Điện Bàn. Làm gì đây để bảo tồn lực lượng, khi Đảng bộ huyện chỉ còn vỏn vẹn 3 chi bộ, với 9 đảng viên? Làm cách nào để những cuộc đấu tranh của nhân dân đạt được thắng lợi? Lỡ mình bị bắt, hy sinh, đứa con trai bé bỏng của mình sẽ ra sao? Bao câu hỏi hiện ra, vò xé lòng mẹ…

So-502--Nguoi-nu-tu-kien-trung-gang-thep---Anh-3
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Thạnh (Trần Thị Tư, Tư Phường), sinh năm 1924,
hiện đang sống tại 23 đường Ngư Ông, phường Đức Thắng, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Mẹ có chồng là Lê Duy Huấn và con trai duy nhất là Lê Duy Huân hy sinh.

Điều mẹ lo sợ đã đến. Tên quận trưởng mới được bổ nhiệm sắp xếp lại bộ máy đàn áp, tập họp các tên tay sai ác ôn có nghề khai thác, thẩm vấn, lập hồ sơ và sử dụng một số tên đầu hàng, phản bội làm mật báo viên, chỉ điểm. Một tên phản bội đã dẫn địch về nhà một cơ sở, khui hầm bí mật, bắt được một số cán bộ Tỉnh ủy. Chúng bắt luôn một cậu giao liên tuổi vị thành niên. Do còn ở tuổi niên thiếu, quá non nớt trước những tên tay sai quỷ quyệt, cậu bé Phân không chịu được những ngón đòn tra tấn đã khai ra “bà Trần Thị Tư là đảng viên, chuyên xách động bà con đi biểu tình…”.

Vậy là trận mưa đòn tới tấp giáng xuống mẹ…

Mẹ Trần Thị Tư một mực chỉ khai: “Tôi là cô đỡ nên hay đi đến nhà mấy bà bầu thăm khám. Người ta kêu thì tôi đi. Làm sao tôi biết nhà này nhà nọ có hầm bí mật. Tôi đang khám cho mấy chị em thì các ông rầm rộ cho người đến bắt người ta, tôi sợ quá, nên chui xuống hầm tránh…”. Cho mẹ ngoan cố, địch đưa mẹ về nhà tù Hội An, tiếp tục khai thác. Chúng hỏi mẹ: “Tên cán bộ tỉnh, ở huyện tên gì? Tụi nó ở đâu?”. Mẹ bình tĩnh đối đáp: “Tôi không biết. Nếu biết, tôi điên gì mà không chỉ. Tôi còn có con nhỏ ở nhà!”.

Chúng đưa những người đã đầu hàng ra đối chứng với mẹ. Mẹ nghiêm nghị nói: “Mấy anh làm cách mạng không giữ được lòng trung thành của mình thì thôi, sao lại đổ cho tôi?”. Mẹ nhớ khi nói vậy, những người đầu hàng cúi đầu im lặng…

Trước sự kiên định của mẹ, tên thẩm vấn không còn đủ kiên nhẫn giả bộ mặt nhân nghĩa để chiêu dụ, hắn đá mẹ từ trên lầu rơi xuống đất. Những người tù bị giam lõng trong khu chờ thẩm vấn chạy ra, lấy bao bố đắp lên thân thể tả tơi của mẹ…

Cho đến giờ mẹ không quên được cú đá khủng khiếp đó…

Không lần ra đường dây cách mạng của mẹ ở Điện Bàn, địch lập hồ sơ định đưa mẹ ra nhà tù Hội An… Nhân lúc một người quen gặp mẹ trong tù, tặng cho mẹ chai nước, một ý nghĩ vụt đến trong đầu mẹ: “Chúng bây sẽ giết tao. Nhưng tao sẽ tự tử trước bằng những mảnh ve chai, để cái chết của tao không vô nghĩa. Tao sẽ dùng cái chết của mình để ngăn bàn tay tội ác giết người tùy tiện trong nhà tù. Bao nhiêu người đã chết trong bàn tay của chúng bây! Tao sẽ dùng chính máu của mình để trả lời những câu hỏi cung của chúng bây”. Mẹ hất chai nước ngã xuống đất, lấy hai mảnh chai, một mảnh đâm vào bụng, một mảnh đâm sâu, cố làm rách bao tử…

Mẹ ngã xuống sau khi tự mổ bụng…

Trước khi hôn mê, mẹ còn nghe tiếng giày đinh gõ trên nền gạch, tiếng kêu lớn của bọn lính: “Con Thạnh tự tử rồi!”…

Thấy mẹ tự tử, địch không thèm cứu, đóng cửa phòng giam lại. Chúng điện vào Đà Nẵng, báo tình hình…

Mẹ tỉnh dậy, thấy Giám đốc Tòa án Đà Nẵng đã đứng bên cạnh chỗ mẹ nằm. Ông nhìn thân hình bị tra tấn đen thui và đôi tay đẫm máu của mẹ, lắc đầu hỏi: “Ai làm cho em ra nông nỗi này?”. Mẹ không còn đủ sức trả lời. Ông nhìn tên lính bên cạnh, lớn giọng hỏi: “Tại sao các anh làm vậy? Cô này bị bắt khi không có tài liệu, chứng cứ gì cả…”. Tên lính lắp bắp: “Bẩm quan, tại nó tự tử”. Giám đốc tòa án tức giận: “Cô ấy tự tử sao không đưa đi cấp cứu? Các người làm vậy là sai pháp luật rồi. Tôi đang ăn cơm mà khi nghe các anh điện báo tin còn bỏ ngang bữa, đi vô đây ngay, xem tình hình nghiêm trọng ra sao!”. Tên cảnh sát ác ôn ngắc ngứ: “Bẩm quan, con sợ đưa đi giữa đường… nó chết”. Giám đốc tòa càng phẫn nộ: “Vậy các ông chôn sống cô ấy đi, cho đỡ rắc rối. Tôi sẽ báo cáo với Ủy hội Quốc tế…”. Hoảng sợ trước sự bất nhẫn của quan lớn, bọn cảnh sát đưa mẹ vào Bệnh viện Hội An. Hay tin có một nữ “Việt cộng” bị bắt tự mổ bụng chết, bà con chạy đi xem… Lúc ấy, địch mới nhận ra sự tác hại của sự việc này…

Thời gian địch đưa mẹ đến Hội An, với mẹ là một trận chiến đấu mới. Giám đốc Tòa án Đà Nẵng gởi cho bệnh viện lá thư với nội dung: Cố gắng cứu sống bệnh nhân bằng mọi cách. Nếu bệnh nhân có chết trong đêm nay, bệnh viện mua hòm, vải tẩn liệm, chôn cất đàng hoàng. Dù có lá thư gởi gắm ấy nhưng bọn ác ôn vẫn tìm cách hành hạ mẹ. Chúng chỉ đạo bác sĩ: “Lôi con nhỏ này đi mổ ngay, không cần thuốc tê, mê gì!”. Bọn ác ôn tin rằng mẹ không thể vượt qua ca mổ sống, không thể sống nổi và đó là mục đích của chúng nhằm phi tang tội ác. Mẹ đau đớn dữ dội. Nhưng rồi mẹ không chết. Mẹ tỉnh lại, thấy điện sáng lòa. Các bác sĩ, y tá xung quanh lập tức xốc mẹ dậy, đưa chiếc dĩa nhôm kề vào miệng mẹ, bắt mẹ ói ra. Mẹ không ói được. Bác sĩ kêu lên: “Vậy là lủng bao tử rồi!”. Vậy là mẹ bị mổ lại, bứt vết thương cũ ra. Bác sĩ phát hiện bao tử mẹ bị rách một đường dài 4 cm. Mẹ ngất đi vì đau đớn. Lần này, mẹ thầm nghĩ mình sẽ chết…

So-502--Nguoi-nu-tu-kien-trung-gang-thep---Anh-2
Nơi vùng đất cực Nam Trung bộ này đã có hơn 13.000 Liệt sĩ ngã xuống, 754 Mẹ được truy tặng và phong tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH. Tính đến cuối tháng 9-2013, Bình Thuận chỉ còn 58 mẹ còn sống đến hôm nay. Bà mẹ VNAH Trần Thị Tư bên những lá thư đứa con trai duy nhất để lại. Trong ngôi nhà ở phường Đức Thắng, Bà mẹ giải thích cội nguồn từ quê hương Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam vào TP. Phan Thiết sinh sống, rồi gắn bó máu thịt với phong trào cách mạng nơi thành phố biển này.

Trong cơn mê, mẹ nhìn thấy những người đồng chí, đồng đội kiên cường của mình. Đó là đồng chí Ngô Dinh – Bí thư Huyện ủy Điện Bàn bị địch bắt, đưa về nhà lao Vĩnh Điện tra tấn dã man. Người Bí thư ấy kiên cường chịu đựng những ngón đòn tra tấn và hy sinh anh dũng trong nhà tù. Người đồng chí Phạm Nghiện của mẹ bị địch bắn bị thương, rồi bị bắt vẫn đấu tranh quyết liệt, đòi thi hành Hiệp định Genève. Bọn ngụy quyền ở Điện Bàn đã khớp miệng đồng chí, đưa về nhà lao Vĩnh Điện cắt nhượng chân, cột đồng chí vào trụ cờ chi công an quận suốt 9 ngày đêm. Chịu đói, chịu nắng suốt 9 ngày đêm, đồng chí hy sinh anh dũng, sáng ngời khí tiết của người cộng sản. Đồng chí Phạm Hồ ở Cẩm Sa giả vờ quy thuận bảo địch dẫn về lấy súng cất trên ngọn cây đa. Khi leo đến ngọn cây, đồng chí hô lớn: “Vĩnh biệt bà con, Phạm Hồ này không bao giờ phản Đảng”, rồi buông tay rơi xuống và hy sinh anh dũng. Chị Trần Thị Lý ở Điện Quang bị địch bắt giam, dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng vẫn kiên cường chịu đựng… Ngay trong nhà tù Hội An, các anh Văn Huyền, Nguyễn Khiết, Lê Tố, Lê Ngọc Giá… vẫn kiên cường đấu tranh, chịu đựng tra tấn, không khai báo với địch điều gì có hại cho cách mạng. Nhiều gương mặt đồng đội, đồng chí, đồng bào thân yêu luôn kiên định trong những buổi “sám hối”, “tố cộng”, “diệt cộng” mà mẹ đã từng được nhìn thấy, nghe nói đến lướt qua trong trí nhớ của mẹ. Những hình ảnh ấy giúp mẹ vượt qua sự yếu đuối muốn buông xuôi chọn cái chết cho yên thân, giúp mẹ có thêm sức lực vượt qua những cơn đau đớn hành hạ thể xác và những âm mưu thâm độc của kẻ thù…

Mẹ cảm động kể những ngày nằm điều trị vết thương ở Bệnh viện Hội An, mẹ không đơn độc vì tổ chức cách mạng tuy bị đàn áp, khủng bố tan tác, phải rút vào hoạt động bí mật, nhiều đồng chí phải đi điều lắng ở nơi khác nhưng vẫn nắm được tình hình sức khỏe của mẹ, đưa cơ sở vào nuôi nấng, chăm sóc cho mẹ…

Sau 8 tháng, vết thương của mẹ bắt đầu lành. Tên tỉnh trưởng được những tên cảnh sát hộ tống, đến bệnh viện kiểm tra tình hình sức khỏe phạm nhân. Tên cảnh sát hỏi: “Thưa cụ tỉnh, con nhỏ này tưởng chết đi ai dè sống lại. Tụi con vất vả với nó quá. Giờ cụ tỉnh tính sao?”. “Cụ tỉnh” buông gọn: “Nó lành rồi thì đưa nó vô nhà lao”. Cơ sở nghe cuộc đối đáp của chúng, bèn báo về Tỉnh ủy. Mẹ cũng rất lo lắng. Trong những ngày nằm bệnh viện, bị quản thúc chặt chẽ trong phòng bệnh đặc biệt, thực chất cũng là một phòng giam, mẹ quan sát và nghĩ ra nhiều cách, để khi có cơ hội thuận lợi sẽ trốn khỏi bệnh viện. Mẹ thầm nghĩ: “Nếu địch đưa mình vào nhà lao Hội An thì thật khó có cơ hội trốn hơn ở bệnh viện”. Một kế hoạch trốn khỏi bệnh viện đã được mẹ vạch ra. Nhận được kế hoạch của mẹ, Tỉnh ủy băn khoăn vì cuộc vượt thoát quá táo bạo. Mẹ nhắn tin ra bên ngoài: “Tôi trốn được. Trở lại nhà lao, thế nào tôi cũng bị hành hạ đến chết. Nếu trốn thoát, cơ may sống nhiều hơn. Được ra khỏi chốn hang hùm nọc rắn này, có chết tôi cũng vui lòng”. Trước sự kiên quyết của mẹ, sau khi cân nhắc vài yếu tố, tổ chức đồng ý làm theo cách của mẹ…

Mẹ Trần Thị Tư không sao quên được Tết âm lịch năm 1959…

Xung quanh bệnh viện là thành cao…

Mẹ cầm trên tay chiếc bù loong nhỏ xíu như cây đinh mà cơ sở giấu được trong chiếc bánh mì mang vào cho mẹ…

Trước cửa phòng bệnh nhân đặc biệt, mấy tên cảnh sát đánh cờ tướng làm nhiệm vụ canh chừng mẹ…

Mẹ Trần Thị Tư mặc chiếc áo dài, vẻ tề chỉnh. Tên cảnh sát hỏi: “Đi đâu giờ này?”. Mẹ nói: “Tôi đau bụng quá…”. Tên cảnh sát cắm đầu vào bàn cờ, không chú ý việc mẹ vờ đi vệ sinh nhiều lần…

Phía sau bệnh viện có nhà vệ sinh, thông ra bên ngoài bằng mấy tấm ván. Sau khi đi vệ sinh, mẹ dùng chiếc bù loong nhỏ xíu cạy tấm ván ra, rồi để lại như cũ…

Để cạy tấm ván thứ hai, mẹ lại ôm bụng rên rỉ…

Đến tấm thứ ba…

Khoảng tường hở một khoàng trống, vừa đủ chỗ cho mẹ lách ra ngoài…

Ở bên ngoài đã có giao liên đợi sẵn. Mẹ nhớ như in: “Lúc đó khoảng 4 giờ chiều!”.

Người giao liên đạp xe đưa mẹ ra bờ sông Thu Bồn…

Mẹ cảm kích muốn được nhìn rõ mặt người giao liên, nói lời cám ơn nhưng người ấy nói: “Đây là việc cách mạng giao. Chị không cần cảm ơn tôi!”. Người giao liên lặng lẽ đạp xe đi…

Hai người nữ giao liên giả làm người chèo đò thuê bơi xuồng ra đón mẹ…

Qua được bên kia sông Thu Bồn, mẹ nghẹn ngào nói với hai nữ giao liên: “Tôi phải đi ngay, ít nhất hai năm nữa mới trở lại. Nếu tôi hy sinh, tổ chức nuôi con dùm tôi…”.

Tình mẫu tử luôn sâu nặng trong lòng mẹ. Bao năm tháng bị bắt vào tù, mẹ vẫn không được gặp con. “Mẹ ơi!”. Trong giờ phút ly biệt, mẹ như nghe tiếng con gọi mình nhưng mẹ đành cắn răng xa con vì hoàn cảnh quá khắc nghiệt. Kẻ thù đang lùng sục, giăng bẫy tìm bắt mẹ khắp nơi. Nếu chần chờ, đến thăm con, chắc chắn mẹ sẽ bị bắt vào tù. Vậy là mẹ phải cắn răng xa con…

Bắt đầu từ đó, con đường hoạt động cách mạng đưa mẹ tiến dần về phương Nam. Mẹ giả làm thường dân, đi mua bán, mua vé xe đi Đà Lạt. Nhưng mẹ nhận ra ngay nơi thành phố sương mù này cũng không an toàn với mẹ, do mẹ gặp quá nhiều người quen. Mẹ tìm cách vô Sài Gòn. Mẹ thầm nghĩ: “Nhiều đồng chí ngoài Điện Bàn, Quảng Nam đã được điều lắng vô Sài Gòn. Biết đâu, vào trong ấy mình gặp được các đồng chí…”. Suy đoán ấy của mẹ trở thành sự thật. Nhiều đồng chí ở quê hương đã tìm đến Sài Gòn, vừa kiếm sống vừa công tác. Mẹ được tổ chức cách mạng bố trí làm hộp thư sống ở quận Phú Nhuận…

Với chiếc xe bán bánh bao ngụy trang ở chợ Phú Nhuận, mẹ là hộp thư sống đón thư từ, tài liệu tổ chức cách mạng gởi từ Bình Dương, Tây Ninh… Mẹ như bao phận người tứ xứ đổ về đất Sài Gòn làm ăn. Không mấy ai để ý đến người đàn bà có hoàn cảnh “giận chồng có vợ bé, bỏ vô Sài Gòn sống”, bởi Sài Gòn có nhiều người rơi vào hoàn cảnh của mẹ. Người dân Sài Gòn vốn hào hiệp, khoáng đạt, sẵn sàng cưu mang những phận người.

Nhưng một hôm, người chị bà con cho mẹ ở đậu ở Sài Gòn chạy ra xe bánh bao của mẹ hốt hoảng báo động: “Có hai thằng ác ôn tới nhà nói nó vô đây là để “tìm bắt con Tám Thạnh. Nó đang bán bánh ở chợ Phú Nhuận!”. Biết mình bị lộ, mẹ đón xích lô máy, trốn trong nhà một cơ sở ở Gò Vấp. Từ đây, mẹ đón xe đi Hàm Tân, vì có một chị đi kháng chiến về, mở nhà hộ sinh ở đây, đang rất cần một nữ hộ sinh…

Từ Hàm Tân, mẹ bắt liên lạc được cơ sở hoạt động ở Phan Thiết. Mẹ quyết định về Phan Thiết sinh sống vì nơi đây theo cảm nhận của mẹ, sẽ an toàn cho mẹ hơn. Từ khi về Phan Thiết, người phụ nữ mang tên Trần Thị Thạnh được đổi thành Trần Thị Tư. Kể từ đó, ở Phan Thiết ít ai biết tên cũ của mẹ, chỉ biết mẹ là mẹ Trần Thị Tư…

Trong vỏ bọc một tiểu thương mua bán cá ngoài bến thuyền vào chợ bán, mẹ nhận nhiệm vụ xây dựng các cơ sở cách mạng, vận động tài chánh, chuyển thuốc tây, tiền lên căn cứ trên núi…

Mẹ ổn định được cuộc sống nhờ quen với một cảnh sát, làm được giấy tờ hợp pháp là dân thường làm nghề thợ may, buôn bán; mẹ tìm cách móc nối, nhờ cơ sở đưa con về Phan Thiết để mẹ con đoàn tụ. Gặp lại con sau nhiều năm xa cách là niềm hạnh phúc to lớn trong đời mẹ. Mẹ cố không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn rơi. Mẹ không tin đứa con bé bỏng mẹ gởi lại quê hương lúc mới 6 tuổi nay đã thành cậu thiếu niên cao lớn, phương phi 16 tuổi, giống cha như tạc. Nhìn con khôn lớn, mẹ không hình dung nổi đã 10 năm xa con đằng đẵng…

Còn cậu con trai thì sau phút đứng lặng, dù cố kềm chế nỗi xúc động, lao vào lòng mẹ. Phút giây đó anh đã ao ước, chờ đợi hơn 10 năm khao khát được gặp lại mẹ. Nhiều đêm trong giấc mơ anh thầm gọi mẹ, đòi đi theo mẹ. Nay niềm mong ước ấy đã trở thành sự thật. Anh sung sướng vô ngần…

Mẹ cho con trai đi học. Hiểu nỗi nhọc nhằn của mẹ, mỗi ngày anh Lê Duy Huân đi học buổi sáng, buổi chiều giúp mẹ bán vé số, kiếm thêm tiền sinh sống. Nhưng dần dần anh Huân hiểu mẹ không chỉ là bà thợ may, người mua bán cá bình thường. Mẹ có thể qua mắt được địch nhưng những việc mẹ làm không giấu được người thân yêu nhất. Anh Huân vui mừng biết mẹ vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Từ Điện Bàn vào Phan Thiết, anh Huân cũng liên lạc được cơ sở cách mạng. Anh bày tỏ với mẹ ý định thoát ly vào Sài Gòn công tác… Trong đáy lòng, mẹ không khỏi lo lắng cho con. Mẹ rất sợ cảnh phải chia ly con lần nữa. Nhưng đất nước còn đang bị chia cắt, kẻ thù còn đó, nếu tất cả những bà mẹ đều giữ con bên mình thì ai sẽ đi chiến đấu. Nhưng Sài Gòn là chiến trường rộng lớn, phức tạp, mẹ lo không biết con mình có trụ vững. Lòng mẹ rối bời. Nhưng mẹ vẫn chuẩn bị hành trang cho con lên đường. Ở Sài Gòn, có đường dây tổ chức, có cơ sở, mẹ cũng đỡ lo…

Kẻ thù tinh vi, đánh hơi ra điều bất thường về sự vắng mặt cậu con trai Lê Duy Huân của mẹ. Chúng đến nhà mẹ, quát nạt: “Con trai bà đi đâu?”. Mẹ bình tĩnh đáp: “Thằng nhỏ vô Sài Gòn thăm chú nó”. Chúng hạ lệnh: “Thăm chú hay đi theo Việt cộng. Mai bà dẫn nó về!”. Bọn cảnh sát đi rồi, mẹ bắt đầu run rẩy, lo lắng. Mẹ cũng nhận ra những dấu hiệu không lành. Nếu con trai mẹ trở về Phan Thiết, có thể bị bắt. Vậy là mẹ vào Sài Gòn tìm con trai…

Thay vì đưa con về Phan Thiết, mẹ đưa con vô căn cứ Núi Chúa, huyện Hàm Tân. Mẹ trao đứa con trai duy nhất của mình cho các đồng chí Thị ủy Phan Thiết.

Biết trở về nhà cũng sẽ bị địch bắt, mẹ cũng thoát ly vào chiến khu Ba Hòn, bỏ lại Phan Thiết gia tài, sự sản…

Cùng trong đội công tác với mẹ nhưng hai mẹ con ít khi có dịp gặp nhau. Anh xuống đường, vào nội đô chiến đấu trong Mậu Thân 1968, còn mẹ Nguyễn Thị Tư lên chiến khu họp. Mấy mươi năm trôi qua, để biết được mức độ gian khổ ở chiến trường Phan Thiết, để hiểu được tấm lòng những người con hiếu thảo, phẩm chất tuyệt vời của những người chiến sĩ trung kiên, sẵn sàng chịu đựng thiếu thốn, đối mặt với bệnh tật, bom đạn bám căn cứ chiến đấu, những người thế hệ hôm nay xin hãy đọc lại những lá thư của anh Lê Duy Huân gởi cho mẹ Trần Thị Tư. Những lá thư ấy là báu vật còn sót lại trong cuộc đời của mẹ…

Thế hệ ngày hôm nay, xin hãy lắng lòng đọc những lá thư của mẹ Trần Thị Tư, để hiểu được tấm lòng của những bà mẹ khi cắt ruột mình gởi con đi chiến đấu; để hiểu những bà mẹ gánh trên vai gánh nặng nước non; đôi chân nhỏ bé in dấu trên những con đường mòn xa xôi, những cánh rừng địch rải đầy chất độc da cam, những mỏm đá sắc nhọn; vượt qua bom đạn, bệnh tật, những trận lũ quét kinh hoàng để nối liền liên lạc giữa căn cứ và nội đô. Dù con trai đã lớn mà trong đáy lòng, mẹ vẫn xem anh còn rất bé bỏng. Mẹ khao khát biết bao ngày hòa bình để được gặp lại con, đoàn tụ với người thân, sống bên nhau dưới một mái nhà trong cảnh hòa bình…

Nhưng ngày đoàn tụ ấy không bao giờ có được, khi anh Lê Duy Huân trên đường đột nhập ấp chiến lược Tiến Lợi bị địch phục kích, chiến đấu anh dũng, rồi hy sinh vào ngày 5-7-1970…

Mẹ hay tin con hy sinh trong chuyến công tác về cơ quan Thị ủy Phan Thiết ở Núi Đền. Mẹ nói lúc ấy mẹ chết điếng, không còn biết khóc…

Mẹ giấu nỗi đau vào tim, lặng lẽ như đá núi nhưng chứa đựng bên trong sự chuyển động dữ dội. Những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, chiến trường càng khốc liệt. Mẹ dốc cả sức lực “một ngày bằng hai mươi năm” cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Hết xây dựng cơ sở trong lòng địch, phát triển hội viên, mẹ lại xuyên qua hệ thống đồn bót dày đặc của địch, xuyên qua bóng tối để hoàn thành nhiệm vụ. Có những lúc sắp kiệt sức, mẹ nghe như có tiếng con trai động viên mình: “Mẹ ơi, cố lên, ngày giải phóng đang đến gần!”.

Đang về Quân khu 6 họp, mẹ chuẩn bị đi công tác ở Đà Lạt thì hay tin Phan Thiết được giải phóng. Trong rừng cờ hoa mừng ngày hòa bình, mẹ lui vào một góc khuất, dù cố gắng nuốt lại mà nước mắt cứ chảy tràn… Giây phút đó mẹ thì thầm nói với con trai: “Vậy là mẹ đã trải qua 14 năm 7 tháng ở chiến khu gian khổ. Có những lúc kiệt sức nhưng mẹ đã vượt lên, đứng vững vì mẹ muốn được xứng đáng với con trai của mẹ…”.

Hòa bình, mẹ lao vào công tác bí thư, chủ tịch phường Đức Thắng; đối mặt không ít khó khăn trong khắc phục chiến tranh, thành lập những hợp tác xã đánh cá… Bằng trải nghiệm của người cán bộ đi sâu vào quần chúng, xây dựng các cơ sở bí mật trong chiến tranh, mẹ thuyết phục những chủ thuyền bằng tấm lòng bao dung, đôn hậu của mình. Mẹ không nói nhiều về chính sách, nghị quyết… Mẹ nói một cách giản dị: “Nước nổi thuyền nổi”. Và ngư dân chấp nhận vào hợp tác xã đánh cá vì thấy được quyền lợi của mình trong quyền lợi của tập thể…

Cho đến ngày nay, mẹ Trần Thị Tư vẫn còn để lại những ấn tượng tốt đẹp, sự gắn bó mật thiết với bà con vạn chài phường Đức Thắng…

Hòa bình, mẹ đưa hài cốt Liệt sĩ Lê Duy Huân về Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Phan Thiết…

Trong 9.000 ngôi mộ Liệt sĩ, chỉ có phân nửa là có tên tuổi khắc trên mộ chí. Số còn lại chưa tìm ra tên họ…

Mẹ có niềm an ủi to lớn khi đưa được hài cốt con trai cùng 9 đồng đội của con về nghĩa trang. Chồng hy sinh, con trai duy nhất cũng hy sinh nhưng mẹ không đơn độc. Mẹ sống bằng những ký ức không bao giờ phai nhạt với con. Mẹ không sao quên lời an ủi của anh khi trong chuyến công tác, nước lũ tràn tới, cuốn trôi đồ đạc của mẹ: “Chiến tranh, cả nước còn mất mát. Mẹ đừng buồn. Hòa bình rồi mình sẽ có lại tất cả mẹ à”. Mẹ nghẹn ngào nói: “Ừ, hòa bình, mẹ có tất cả nhưng con không còn nữa”. Mẹ vẫn nhìn thấy anh trở về trong những giấc mơ. Anh Lê Duy Huân đến rất gần bên mẹ. Mẹ giơ tay định chạm vào người con, kéo con vào lòng thì con mẹ biến mất…

Nhưng có một giấc mơ là sự thật. Đó là cuộc sống trong hiện tại. Mẹ sống với người cháu ruột là Đại tá Trần Minh Bảy – Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận. Mẹ dành phần đời còn lại sống cuộc đời có ích và xứng đáng với chồng con của mẹ. Mẹ đặc biệt yêu quý bộ đội, chắt chiu những đồng lương của mình gởi bộ đội Trường Sa. Mẹ làm vậy vì tin rằng nơi thế giới bên kia anh Huân sẽ rất vui và mẹ nhìn thấy con mình qua hình ảnh những người lính đang canh giữ biển đảo quê hương.

Trầm Hương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 502

Ý Kiến bạn đọc