Tản văn

Người nữ Đội trưởng đội 1 Biệt động Sài Gòn đã ra đi…

 

Vóc dáng vừa người, nước da màu bánh mật, gương mặt tròn bầu bĩnh phúc hậu, gặp ai trên môi chị luôn nở nụ cười, tên thường dùng của chị là Lê Thị Hạnh, tên khai sinh là Lê Thị Lầm, bí danh: Ba Minh. Chị Ba sinh năm 1940 tại xóm Huế, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

Tháng 7-1960, chị tham gia cách mạng – là chiến sĩ giao liên Đội 159 – Y4; tháng 4-1963, chị được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam; tháng 12-1963, chị là đảng viên chính thức Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay). Năm 1966, chị có cấp bậc là tiểu đội bậc trưởng thuộc đội 67 – Y4. Năm 1966-1967, chị là trung đội bậc phó thuộc đội 67 – Y4. Bước chân chị đã đi hầu hết các chiến trường miền Đông Nam bộ, lên đến tận Campuchia và sau đó là Sài Gòn – Gia Định.

Năm 1966 – 1967, chị và đồng đội đã đánh ty cảnh sát “quốc gia” quận 3, tòa thượng thẩm Sài Gòn… tiêu diệt hơn 30 tên địch.

Năm 1968 – 1969, chị có cấp bậc là trung đội bậc trưởng, chức vụ Đội trưởng phụ trách Đội 1, N.10, Phân khu 6 – chị là người chỉ huy chúng tôi. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của chị, từ quý 3, quý 4 năm 1968 đến quý 1 năm 1969, chúng tôi được tham gia đánh 3 trận được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba và Bằng khen trong nội đô Sài Gòn…

So-543--Nguoi-nu-Doi-truong-doi-1-Biet-dong-Sai-Gon-da-ra-di---Anh-1

Tôi nhớ như in, tháng 4-1969, tôi theo chị Ba về căn cứ để chỉnh huấn. Tôi thấy chị mua rất nhiều báo chí của ngụy xuất bản ở Sài Gòn mang đi. Chị em chúng tôi đi xe đò lên đến Gò Dầu Hạ, ngồi xe ôm qua đến Gò Dầu Thượng đến Phước Lưu (thuộc tỉnh Tây Ninh), lúc này khoảng 9 giờ sáng, từ đây chúng tôi bắt đầu đi bộ qua “bưng chó ngáp”, chị Ba đưa cho tôi một tấm vải dù hoa loang lổ màu xanh, chị dặn:

- Thấy máy bay thì ngồi xuống trùm đầu lại.

Đi khoảng một tiếng đồng hồ, thì tôi nghe có tiếng máy bay, ngước mặt lên trời quan sát, thấy có hai chấm đen từ trong đám mây xám phía trời xa đang bay về hướng chúng tôi. Chị Ba quát:

- Ngồi xuống! Lấy vải dù trùm đầu lại, ngồi im không được cục cựa.

Tôi làm theo lời chị, tiếng máy bay mỗi lúc một rõ dần rồi ầm ĩ trên đầu chúng tôi, rồi xa dần, xa dần… Tôi và chị Ba lại tiếp tục đi, đến khoảng 4 giờ chiều, phía trước mặt chúng tôi là một đám rừng chồi, vào rừng chồi là lán trại, chị Ba bảo:

- Vào đây ăn cơm đã, đói lắm rồi!

Anh nuôi là một lính trẻ, da dẻ trắng trẻo dọn cơm cho chúng tôi. Cơm ăn với rau muống luộc và tương hột, song tôi ăn ngấu nghiến ngon lành có lẽ vì quá đói nên ngon miệng chăng? Ăn cơm xong, chị Ba dắt tôi sang một lán khác. Tiếp chị là một người đàn ông trung niên có vầng trán rộng, đôi mắt sắc, vóc dáng nhỏ con song nhanh nhẹn.

Chị Ba chào: – Anh Ba! Chị Ba vừa lấy báo trao cho anh Ba, vừa giới thiệu cho tôi biết:

- Đây là anh Ba Tam, thủ trưởng của chị em mình đó.

Tôi gật đầu chào:

- Chú Ba!

Thế rồi chị Ba bảo:

- Chị em mình phải đi cho sớm em.

Chị Ba rảo bước, tôi vội vã theo sau. Những tia nắng vàng rộm của buổi hoàng hôn nhuốm vàng cây cỏ, rải rác những bóng cây thốt nốt trải dài trên mặt đất những vệt màu đen như muốn kéo nhanh màn đêm mau buông xuống.

Nơi tôi đến là trường huấn luyện Biệt động của Quân khu Sài Gòn – Gia Định, mảnh đất dừng chân là một khu rừng mật cật, chung quanh có những “địa danh” rất đỗi thân thương, ai đã nghe qua rồi không bao giờ quên được: “Bờ lưu luyến”, “Giếng tình thương”, “Ngã ba tâm tình”…

Sau đợt chỉnh huấn ấy, trở về chiến trường Sài Gòn – Gia Định, tôi trước, chị Ba sau đều không may bị giặc bắt. Bị địch giam giữ ở Nha cảnh sát đô thành Sài Gòn.

Sau đó mấy hôm, đến bữa cơm trưa địch bắt tôi hô khẩu hiệu phản động, tôi không hô thế là bốn năm tên giám thị (cảnh sát đặc biệt) ào đến đấm đá rồi bịt mắt tôi kéo ra phòng thẩm vấn, khi chúng lôi tôi ra khỏi hành lang của hai dãy xà lim, bước đi quãng năm, sáu bước, qua mí băng bịt mắt, trên hành lang tôi thấy có một cái băng ca, trên đó có một chị phụ nữ, mặt mũi tay chân bầm tím, chị đã chết giấc tự lúc nào, trên bụng chị là một bé gái đang quẫy đạp, khóc thét vì đói sữa. Tôi nhìn kĩ thì ra đó là chị Ba Minh, người Đội trưởng trực tiếp chỉ huy tôi đánh giặc, còn cháu bé trên bụng chị là cháu Thủy – con chị lúc đó chỉ 3 tháng tuổi.

Qua trận đòn roi tra tấn của bọn thẩm vấn, tôi chết giấc, tỉnh dậy một lát tôi lại thấy trước mắt tôi hình ảnh chị Ba Minh bị địch tra tấn bầm đen mặt mày, tay chân, mình mẩy, chị và con chị đang nằm trên băng ca đặt ở hành lang bên ngoài xà lim. Trước tình cảnh ấy, xúc động tôi đã tặng chị bài thơ. Kính tặng chị Ba Minh – Người đã chiến đấu kiên cường tại Nha cảnh sát đô thành Sài Gòn cuối tháng 10-1969: “Vừa mới trải qua trận đòn roi/ Trở về ngục tối gặp chị tôi/ Mê man, bất tỉnh trên nền gạch/ Nhìn thấy em không thốt nên lời/ Chị tội tình chi chúng khảo tra/ Xác thân tiều tụy nát thịt da/ Mặc cho con chị đang khát sữa/ Nhìn thấy, ai không nước mắt nhòa/ Em nhớ những ngày chị với em/ Băng rừng lội suối để về trên/ Đường xa, chân mỏi đi không nổi/ Chị mỉm cười khuyên em ráng lên/ Nhớ khi chiến đấu giữa thành đô/ Thuốc nổ cầm tay chị đợi chờ/ Em đến trao tay rồi nhắn nhủ/ Em ơi! Cố gắng chớ hững hờ/ Nay chẳng còn đâu nữa chị ơi!/ Trót đã không may bị bắt rồi/ Chỉ biết trui rèn thêm ý chí/ Ngẩng đầu, đứng thẳng chẳng khom thôi/ Nhưng cũng chả sao hả chị ơi!/ Ngày mai trời lại sáng lên rồi/ Thoát vòng lao lý vui xuân mới/ Trong cảnh cờ bay rợp đất trời”.

Tôi và chị không ai khai nhận quen biết với ai. Sau đó thì địch đày tôi qua khám lớn Chí Hòa rồi đày ra Côn Đảo. Còn chị Ba thì địch đày qua trại giam Thủ Đức rồi cũng đày ra Côn Đảo.

Do thắng lợi của Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, buộc địch phải trao trả nhân viên dân sự và nhân viên quân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tôi và chị Ba Minh đều được trao trả tại sân bay Lộc Ninh vào tháng 2-3/1974. Sau khi được an dưỡng, kiểm điểm và kết luận của tổ chức, tôi chia tay và xa chị từ đó. Tôi được tổ chức điều động về Cục Chính trị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (B2); còn chị trở về lại chiến trường T.4. Được biết, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng chị về công tác tại Xí nghiệp Cung ứng Nhiên liệu sau sáp nhập thành Công ty vật tư TBGTVT đến năm 1995 chị được nghỉ hưu. Quá trình phấn đấu không mệt mỏi chị Ba Minh được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, Kỷ niệm chương bị địch bắt tù đày và nhiều Bằng khen, Giấy khen khác…

Chị vừa trút hơi thở cuối cùng vào lúc 13 giờ 20 ngày 7-4-2019 tại nhà riêng, số 38 đường số 28A, P. Bình Trị Đông B, Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 79 tuổi.

Cuộc chia ly nào rồi cũng có thể còn gặp lại (như bị địch bắt, tù đày hoặc tổ chức điều động sang đơn vị khác chẳng hạn). Song cuộc chia ly lần này vĩnh viễn không bao giờ tôi còn có cơ hội gặp lại – người Đội Trưởng thân thiết ngày nào. Ôn lại quá trình cống hiến không mệt mỏi của chị cho cách mạng để bản thân tôi học tập và là nén hương lòng luôn tưởng nhớ đến chị Ba Minh.

Trịnh Phi Long
(Nguyên chiến đấu viên Đội 1 Biệt động Sài Gòn)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 543

Ý Kiến bạn đọc