Tản văn

Người mẹ vá cờ Tổ quốc

Khi tôi viết những dòng này thì mẹ đã là người thiên cổ. Mẹ thanh thản yên nghỉ trên cánh đồng làng quê mẹ cạnh chân cầu Hiền Lương. Đầu mẹ gối lên bờ đê sông Bến Hải, hướng về phía làng Hiền Lương của mẹ. Dòng sông hiền hòa, dập dìu tiếng sóng ru giấc ngủ cho mẹ – người mẹ đã có những năm tháng âm thầm, cần mẫn với từng đường kim mũi chỉ để giữ cho ngọn cờ Tổ quốc lúc nào cũng lành lặn tung bay trong gió giữa mưa bom bão đạn của kẻ thù. Người mẹ ấy là Ngô Thị Diệm mà sau này người Vĩnh Linh thường gọi là NGƯỜI MẸ VÁ CỜ.

Me-Diem-(be-trai)-va-co-To-quoc-o-dau-cau-Hien-Luong-nhung-nam-chong-My-cuu-nuoc
Mẹ Diệm (bên trái) vá cờ Tổ quốc ở đầu cầu Hiền Lương trong những năm chống Mỹ, cứu nước – Ảnh tư liệu.

Tôi về làng Hiền Lương đang giữa vụ gặt. Cả cánh đồng ngào ngạt, vàng rực một màu lúa chín, nhà nhà ngồn ngộn lúa phơi. Dòng sông Sa Lung uốn quanh như một dải lụa thiên thanh ôm lấy lưng làng. Được người làng giới thiệu, tôi tìm đến nhà ông Hoàng Kha, cựu dân quân làng Hiền Lương. Ông Hoàng Kha nhớ lại: “Cờ Tổ quốc ở đầu cầu Hiền Lương trong những năm chia cắt hai miền Nam – Bắc là sức mạnh và là biểu tượng cao nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là niềm hy vọng bỏng cháy và niềm tin son sắt của đồng bào miền Nam hướng về miền Bắc; là nỗi ám ảnh kinh hoàng, sự sợ hãi tột độ của kẻ thù. Bởi vậy nên ngay từ lúc mới leo thang đánh phá miền Bắc, đánh phá Vĩnh Linh, mục tiêu trước hết của giặc là phải phá sập cầu Hiền Lương, phá gãy cột cờ Hiền Lương. Không ai có thể tính được đã có bao nhiêu tấn bom đạn giặc trút xuống Hiền Lương chỉ để nhằm mục đích phá gãy một cột cờ. Quân và dân Vĩnh Linh đã anh dũng đánh trả bọn xâm lược không biết bao lần để bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc…”

Thượng tá cựu chiến binh Trần Biên, nguyên chiến sĩ khu đội Vĩnh Linh ngày ấy thì kể với tôi: “Địch đánh phá Hiền Lương ác liệt nhất là vào năm 1967. Chúng một mặt cho máy bay liên tục ném bom, một mặt cho phi pháo từ hạm đội 7 bắn vào, đại bác từ Dốc Miếu bắn ra. Và một quả tên lửa của chúng đã làm gãy cột cờ. Thấy cột cờ Hiền Lương bị gãy, bọn địch hí hửng lắm! Nhưng niềm vui của chúng kéo dài không lâu, vì chỉ sau một đêm, các chiến sĩ của chúng ta đã dựng lên ở vị trí cũ một cột cờ bằng gỗ phi lao rất cao, và sáng ra, trên đỉnh cột đã thấy một lá cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ tung bay. Thế là chúng lại tiếp tục đánh ngày đánh đêm, và Hiền Lương lại chìm ngập trong khói lửa đạn bom. Ngày nào cũng lúc nhúc hàng đàn quạ sắt Mỹ từ L19 đến F105, AD6, F4… thay nhau bắn phá. Nhưng kỳ lạ thay trên bầu trời Hiền Lương lúc nào cũng chói lọi, rực rỡ một màu cờ đỏ sao vàng. Để bảo vệ cờ, ta đã xây dựng quanh Hiền Lương từ Vĩnh Giang đến Vĩnh Hòa, Vĩnh Thành, Vĩnh Nam, Vĩnh Lâm… hàng chục trận địa chiến đấu, hàng chục cây số hào giao thông. Và tính từ cuối năm 1966 đến năm 1970 ta đã đánh trả kẻ thù trên 300 trận lớn nhỏ. Trận tiêu biểu nhất, gây cho kẻ thù tổn thất nhất là trận xảy ra ngày 20-3-1967. Trận này, hàng trăm khẩu pháo, DKZ, hỏa tiễn của ta từ khắp các trận địa ở Vĩnh Linh đã đồng loạt gầm lên nhả đạn vào căn cứ Dốc Miếu làm 1.070 tên, chủ yếu là lính Mỹ phải đền tội. Trong trận này, một chiến sĩ của ta đã leo lên đỉnh cột cờ, quấn quanh mình một góc lá cờ Tổ quốc để ngụy trang rồi dùng ống nhòm hướng về phía địch điều chỉnh cho pháo binh ta. Để trả đũa đòn tấn công của ta, địch lại điên cuồng cho máy bay, đại bác bắn phá Vĩnh Linh, bắn phá Hiền Lương. Cột cờ lại bị gãy, lá cờ lại bị rách. Ta lại tiếp tục thay cột, thay cờ. Quyết tâm của ta là không một ngày nào, thậm chí không một giây phút nào để lá cờ Tổ quốc ngừng bay trên bầu trời Hiền Lương. Hồi đó ta có một cơ sở chuyên may cờ cho Hiền Lương đặt ở xã Vĩnh Nam. Ta đã phải ngày mấy lượt thay cờ, có những ngày thay đến 8 lần, 10 lần. Rồi khi cờ bị rách nhiều quá không còn đủ để thay, ta phải vá cờ. Bắt đầu từ đây xuất hiện một người mẹ làng Hiền Lương chuyên làm việc vá cờ…”

Cau-Hien-Luong-xua
Cầu Hiền Lương trước đây

Mẹ Ngô Thị Diệm là người làng Liêm Công Phường về làm dâu ở làng Hiền Lương, tuy hai làng nhưng cùng một xã, cách nhau không xa lắm! Chồng mẹ là ông Lê Công Hồi. Ông Hồi là chiến sĩ Vệ quốc quân hy sinh trong kháng chiến chống Pháp khi hai con của mẹ là chị Lê Thị Nguyệt và anh Lê Công Sòa còn rất nhỏ. Mẹ đã ở vậy thờ chồng nuôi con và tham gia giúp đỡ cách mạng. Những năm máy bay Mỹ đánh phá Vĩnh Linh ác liệt, mẹ đã không theo dân làng tản cư ra Tân Kỳ – Nghệ An, mà ở lại làng cùng bộ đội, dân quân bám trụ, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Năm ấy mẹ vừa tròn 45 tuổi, là 1 trong 4 người phụ nữ lớn tuổi còn ở lại làng.

Ở lại quê hương, các mẹ được phân công làm cấp dưỡng nấu cơm cho bộ đội, công an, dân quân giới tuyến, chăm sóc thương binh và cả giặt giũ, khâu vá áo quần cho các chiến sĩ. Vào một chiều chạng vạng, khi mẹ Diệm đang một mình giặt quần áo ở sông Sa Lung thì có một người đàn ông lạ mặt, nói giọng Bắc hỏi mẹ đường ra sông Bến Hải. Ban đầu, mẹ nhầm tưởng ông ta là cán bộ đi công tác nên đã định chỉ đường, nhưng nhìn kỹ, mẹ nhận thấy thái độ ông ta có vẻ không tự nhiên, mẹ đã cảnh giác, lừa được ông ta đưa về nhà mình. Nhà mẹ, hay nói đúng hơn là lán của gia đình mẹ, cũng như lán của gia đình mẹ Viễn, là hai cái lán ở làng Hiền Lương thường có các chiến sĩ Công an vũ trang đồn Hiền Lương đến ở, làm việc. Tại đây, qua điều tra của các anh công an, người lạ mặt đã phải thú nhận mình là một gián điệp của Mỹ – Ngụy đang tìm đường trở vào Nam. Tên gián điệp bị bắt, dân quân, bộ đội, công an… ai cũng chúc mừng cho chiến công của mẹ. Thời gian này hai người con của mẹ, đứa đi học, đứa đi công tác xa, các anh bộ đội, công an đã trở thành những đứa con yêu của mẹ. Mỗi lần chiến sự xảy ra, lá cờ Tổ quốc ở đầu cầu Hiền Lương bị rách, các anh công an lại mang về lán để khâu vá lại. Nhìn những đôi tay con trai vụng về cầm kim vá cờ, mẹ vừa buồn cười, vừa thương yêu các anh, vừa căm thù lũ giặc. Từ hôm đó mẹ tự nguyện nhận thêm công việc vá cờ. Mỗi một lá cờ Tổ quốc bị bom pháo giặc phá rách, thì lại được tay mẹ nâng niu giặt giũ, cẩn thận từng đường kim mũi chỉ vá lại. Bom đạn kẻ thù ngày một dày đặc hơn, làng Hiền Lương bị cày xới tan hoang, biết bao chiến sĩ chúng ta đã ngã xuống cho cột cờ đứng thẳng và lá cờ tung bay. Mẹ nén nỗi đau và quên đi tất cả để tập trung toàn bộ tâm trí cho việc vá cờ. Mẹ cần phải vá nhanh hơn, đường chỉ cũng cần phải thẳng hơn. Lá cờ của Tổ quốc dù bị rách vá lại, nhưng cũng cần phải đẹp đẽ thơm tho. Mẹ vá ngày, vá đêm, vá cả lúc đang ngồi trong hầm trú ẩn, dưới giao thông hào; vá cả khi máy bay địch đang lồng lộn gầm rú trên bầu trời. Chưa bao giờ mẹ thấy yêu Tổ quốc như khi mẹ đang ngồi vá lá cờ Tổ quốc. Và cũng chưa bao giờ mẹ thấy Tổ quốc lại gần gũi, thiêng liêng như trong những ngày nước sôi lửa bỏng này.

Qua những câu chuyện kể về mẹ Ngô Thị Diệm của các cựu dân quân làng Hiền Lương, tôi đã hình dung một khoảng thời gian vá cờ của mẹ như thế. Chắc chắn đó chưa phải đã đầy đủ, càng không phải là tất cả những gì mẹ đã làm, đã yêu đối với ngọn cờ Tổ quốc ở đầu cầu giới tuyến. Bà Hoàng Thị Tuất, 1 trong 3 người mẹ ở làng Hiền Lương tham gia vá cờ Tổ quốc trong những ngày ấy xúc động kể với tôi: “Ban đầu tui không tham gia vá cờ mà chỉ chuyên công việc nấu nướng cho bộ đội, dân quân, sau rồi vì máy bay đánh quá dữ, cờ rách quá nhiều, một mình mụ Diệm vá không kịp, rứa là phải gọi thêm tui và mụ Viễn. Trong ba chị em tui, mụ Viễn là người lớn tuổi nhất, rồi tới tui. Mụ Diệm vừa ít tuổi, vừa đẹp người đẹp nết và lại có tài khâu vá. Mấy cái áo, cái quần của bộ đội bị rách mụ ấy vá tay mà đẹp như vá máy. Mụ ấy vá cờ thì vừa nhanh vừa kỹ, tui với mụ Viễn theo hoài không kịp, có lần đua với mụ ấy, tui bị kim đâm phải tay, kêu ầm lên, rứa là cả ba chị em cùng cười như nắc nẻ. Ngoài vá cờ, ba chị em tui vẫn phải nấu cơm cho bộ đội. Đêm đêm còn phải đi nhổ mạ, cấy lúa. Nhưng việc quan trọng nhất vẫn là vá cờ. Vá để kịp treo. Đêm cũng phải thắp đèn ngồi vá. Vá để sáng mai có treo. Hồi đó đạn bom cực khổ mà vui lắm con ơi!”. Rất tiếc là tôi đã không gặp được mẹ Trần Thị Viễn để nghe mẹ kể thêm về chuyện vá cờ…

Cau-Hien-Luong-Nay
Cầu Hiền Lương hôm nay

Tôi hỏi ông Hoàng Kha: “Bác có nhớ cờ của ta hồi đó ở đầu cầu Hiền Lương rộng khoảng bao nhiêu không?”. Ông Kha suy nghĩ một lúc mới trả lời: “Khi cột sắt chưa bị gãy thì cờ của ta rộng hơn 100m2, còn cái cột cao tới hai mươi mấy mét. Sau này do giặc Mỹ ném bom liên tục, cột cờ luôn bị gãy, nhưng để cờ Tổ quốc không một giây phút ngừng tung bay trên bầu trời Hiền Lương, ta phải tạm thay bằng cột gỗ cao 15m, lúc ấy cờ của ta chỉ rộng khoảng trên dưới 4,5m2…”. “Công việc vá cờ của mẹ Diệm kéo dài được mấy năm?”. Ông Kha trả lời: “Khoảng hai năm rưỡi hay ba năm gì đó”.

Tôi thử làm phép tính để biết trong từng ấy năm mẹ Diệm và những người mẹ làng Hiền Lương đã vá cả thảy bao nhiêu mét cờ bị rách vì bom Mỹ. Một nghìn mét, 5 nghìn mét, 10 nghìn mét hay nhiều hơn? Chịu! Tôi đã không thể nào tính được. Mà cần gì phải tính, các mẹ có muốn vậy đâu. Những người mẹ làng Hiền Lương như mẹ Ngô Thị Diệm, Trần Thị Viễn, Hoàng Thị Tuất, Cao Thị Nghỉ… là những người mẹ đáng kính. Riêng với mẹ Diệm, tên và chiến công của mẹ còn là niềm tự hào, sự ngưỡng mộ của nhân dân cả nước. Ngày ấy mẹ đâu nghĩ rằng, công việc vá cờ của mẹ bên dòng sông thân thương này bây giờ đã trở thành huyền thoại – một huyền thoại thấm đẫm máu của biết bao đồng bào đồng chí trên mảnh đất Vĩnh Linh vốn chịu nhiều mất mát, thương đau nhưng anh dũng quật cường. Và huyền thoại ấy sẽ còn mãi mãi lưu truyền đến mai sau. Bên tôi, giọng ông Kha trở nên xúc động: “Giá mà mẹ Diệm còn sống đến hôm nay…”.

Giá mà mẹ Diệm còn sống đến hôm nay! Hồi ấy, mẹ đã lặng lẽ ra đi chỉ sau một trận ốm có vài ngày. Giá mà mẹ còn sống đến hôm nay để tận mắt chứng kiến những đổi thay trên quê hương của mẹ. Làng Hiền Lương bây giờ là một làng quê thanh bình, yên ả. Sắc ngói đỏ tươi từ những mái nhà hòa lẫn, quấn quyện trong màu xanh biêng biếc của ruộng lúa, vườn rau, hồ tôm, ao cá. Cầu Hiền Lương cũng đã được xây dựng lại đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Hai người con của mẹ giờ cũng đã “nên ông nên bà”. Chị Lê Thị Nguyệt từng là giáo viên. Anh Lê Công Sòa từng là đại tá quân đội. Niềm mơ ước của mẹ thuở mẹ vá cờ đã trở thành hiện thực. Còn mẹ – NGƯỜI MẸ VÁ CỜ TỔ QUỐC – cũng đã được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

Tôi trầm ngâm bên mộ mẹ, thắp lên mấy nén hương, lòng cầu mong cho tâm hồn mẹ thanh thản nơi chín suối. Ngoài kia tiếng sóng vẫn vỗ về, dập dìu, êm ả. Cây cầu Hiền Lương của mẹ ngày xưa giờ đã được phục chế lại đang vắt mình qua sông và lễ khởi công bảo tồn, tôn tạo khu di tích Hiền Lương cũng đã được hoàn thành. Tôi mong rồi đây trong số những hạng mục được xây dựng để làm sống lại một thời lịch sử oanh liệt ở đôi bờ Hiền Lương sẽ có một pho tượng nhỏ về người mẹ làng Hiền Lương vá cờ ngày ấy.

Nguyễn Ngọc Chiến
(Hội VHNT Quảng Trị)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 401

Ý Kiến bạn đọc