Truyện ngắn

Người lính chưa vào Sài Gòn

Hễ có dịp nghỉ, tôi thường đạp xe về thăm anh. Tôi kém tuổi anh đến một con giáp, nhưng lần nào gặp tôi anh cũng như tìm được bạn tri kỷ, có bao nhiêu buồn vui, bực dọc cứ muốn tuôn hết cùng tôi.

Năm nay, kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, tôi nhớ đến anh. Tôi đoán rằng chắc anh cũng muốn gặp tôi dịp này để trò chuyện, tâm sự. Ở cái làng bán sơn địa này, cách xa thành phố và đường giao thông, nếu được gặp bạn bè để sống trở lại thời oanh liệt xa xưa thì lý thú lắm. Nhiều lần, anh đã thổ lộ với tôi như vậy.

Sau nhiều năm qua lại thăm nhau, với con mắt quan sát của mình, tôi nhận thấy anh còn giấu kín một điều nung nấu lắm, hệ trọng lắm.

Hay là trong những năm chiến đấu ở miền Nam, anh đã ôm ấp một mối tình, bao năm nay còn day dứt trong lòng, còn ân hận muốn có dịp nào nối lại… Lần này, tôi quyết định nói nhận xét của mình và tò mò muốn được biết chuyện gì đó còn ẩn giấu trong anh.

- Ông em tinh đấy! – Anh gật gù sau khi chiêu một hớp trà nóng. Từ mấy chục năm nay, tôi vẫn giấu mọi người một chuyện…

“Đúng ngay mà”, tôi thầm nghĩ và tự thưởng cho mình một chén trà thơm còn đang bốc khói.

Bằng giọng trầm của một người gần 60 tuổi nhưng vầng ngực còn săn nở, anh đã kể cho tôi câu chuyện mà anh thú nhận với tôi còn giấu kín trong lòng.

… Tất cả mọi người lính như chúng tôi năm ấy đều coi việc tiến vào Sài Gòn là cái đích của mỗi người. Vào tới đó tức là ta đã thắng trận. Nghĩa là rồi có ngày sẽ được trở về quê, được tiếp tục công việc đã phải tạm gác lại do mình còn phải cầm súng ra trận.

Năm 1975 ấy, đất trời lúc nào cũng sôi sục.

Tiểu đoàn tôi tràn vào một căn cứ địch. Lúc ấy tôi là cán bộ đại đội phụ trách hậu cần. Tôi túm được một tên tù binh. Hắn cởi trần nhưng chiếc quần rằn ri còn chưa kịp trút ra. Hắn run rẩy trong một căn lô cốt tối tăm, ẩm mốc. Giặc phản kích bằng pháo vào căn cứ ta vừa làm chủ, thành ra tôi, cậu Toàn – người luôn đi cùng tôi và hắn cùng núp chung một hầm.

Chan-dung-anh-giai-phong---Hoang-Anh
Chân dung anh Giải phóng quân – Khắc gỗ – Hoàng Ánh (1960).

- Cho nó một phát – Toàn nói nhỏ vào tai tôi.

Tôi lừ mắt.

- Các anh tha chết cho em – Tên tù binh van lơn.

- Sao các người không tha cho bao sinh mạng, cả phụ nữ và trẻ em? – Toàn hỏi như quát.

- Mô Phật! Quả thật, em chỉ là lính vận tải ở phía sau.

- Trăm thằng lính như bọn mày, thằng nào cũng khai chưa cầm súng, thằng nào cũng vận tải. Đ… mẹ – Toàn văng ra một câu chửi thề.

- Sao hiền lành thế lại đi lính giết hại đồng bào? – Tôi hỏi rất nghiêm nghị.

- Dạ, thưa anh, em vì quá nghèo không có tiền chạy nên bị bắt đi quân dịch mới 3 tháng nay. Em đã có 3 đứa con. Vì 3 đứa con mà em phải trốn chui trốn nhủi, tìm cách kiếm tiền nuôi con. Cuối cùng vẫn bị bắt.

- Nhà ở đâu? – Tôi hỏi thêm vì qua giọng nói, tôi linh cảm thấy hắn có vẻ nói thật.

- Dạ, em ở nhà số 10 sur (trên) 7 sur 12, đường Phan Thanh Giản.

- Có trời cũng chẳng nhớ nổi nhà anh.

- Thưa hai anh. Đằng nào các anh cũng chiếm Sài Gòn. Rồi chúng em lại làm thuê làm mướn nuôi các anh. Hai anh mở lòng từ bi tha cho em.

- Không! Chúng tôi tự lao động kiếm sống được, không nhờ đến các anh – Tôi trả lời ngay sau khi nghe tên lính nói.

- Thôi được. Tôi tin anh. Tôi sẽ tha cho anh – Tôi nói sau vài giây ngẫm nghĩ.

- Anh Thông! – Toàn ngắt lời tôi.

- Nghe tôi – Tôi nói với Toàn rồi nói với tên tù binh – Anh không được về ngay Sài Gòn trước khi chúng tôi chưa tiến vào giải phóng thành phố.

- Dạ, thưa anh! À, thưa hai anh! Em có đứa em gái ở Lộc Ninh. Trời ơi… may gặp được hai anh, phúc đức quá! – Tên lính nói rối rít.

Chúng tôi lần lượt ra khỏi hầm. Tôi và Toàn vừa ra ngoài, tên tù binh nói như van vỉ:

- Thưa hai anh.

- Cái gì? – Toàn gắt.

- Dạ. Hai anh làm ơn cho em xin một phát đạn, vào đâu cũng được, miễn là đừng chết, để em nhớ ơn các anh, để em không phải đi lính lần nữa.

Lần này thì tôi có cảm giác hắn nói thật. Hắn muốn sống để trở về. Lúc ấy trong tôi sự thương hại và lòng căm giận hòa vào nhau. Vả lại, tôi cân nhắc, làm như lời hắn có khi lại chắc ăn.

Tôi đắn đo một lát rồi nói với Toàn:

- Bắp tay hay bắp chân, tùy cậu.

Tôi quay mặt đi chờ đợi một tiếng nổ và thật tình tôi giật mình khi nghe phát súng của Toàn. Hình như suốt 10 năm chiến đấu, qua hàng trăm trận đánh, tôi chưa nghe tiếng súng nào làm tôi rùng mình như thế.

Sau cái rùng mình, tôi quay lại trong tiếng xuýt xoa qua kẽ răng của tên lính ngụy. Tôi nhìn kỹ vết thương. Hình như do bắn quá gần, viên đạn AR15 chưa kịp phá bắp tay. Tôi rút cuộn băng, băng bắp tay cho hắn. Trong lúc băng, tôi nhìn thấy tên lính nhặt chiếc đầu đạn trên nền xi măng lô cốt, giấu giếm cho vào túi quần. Tôi chỉ nhìn thấy một vệt cắt ngang bắp tay trái.

- Đi đi! – Tôi nói như ra lệnh.

Hắn nhón chân định chui ra khỏi lô cốt, như sực nhớ ra điều gì, hắn dừng lại rồi lôi trong túi quần ra một tấm bản đồ Sài Gòn đưa cho tôi, lắp bắp câu gì đó rồi bò về phía sau.

Ngay tối hôm ấy, tôi bị cấp trên cảnh cáo vì hành động ngược đãi tù binh và bị điều ngay về phía sau coi kho.

Những ngày ấy, cả miền Nam không phân biệt ngày và đêm, người ùn ùn đi như trẩy hội.

Anh-minh-hoa---Nguoi-linh-chua-vao-Sai-Gon

Tôi lầm lũi quay về cái kho dã chiến ở bìa rừng. Ở đó đã có hai người lính già như hai ông trông đền, canh giữ.

Cả ba chúng tôi như lịm đi khi nghe tin giải phóng hoàn toàn Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành toàn thắng.

Đêm 30/4 ấy và nhiều đêm sau nữa, cả ba chúng tôi gần như thức trắng đêm, trằn trọc không sao ngủ được. Bao nhiêu chuyện cứ ập đến. Chuyện hôm qua, chuyện ngày mai. Riêng tôi, lòng luôn bị giằng xé về một việc làm của mình trên chiến trường mà không sao thanh minh được.

Mặc cảm với mọi người nên khi đơn vị cho phép về ngoài Bắc, tôi từ chỗ coi kho lên xe đi thẳng tới Tân Hiệp, ngoại ô của Biên Hòa để lên tàu ra Hà Nội.

Niềm vui cứ ào đến, tôi quên rằng tôi cũng chỉ nhìn Sài Gòn qua một đoạn xa lộ Biên Hòa. Nhưng Sài Gòn tôi đã hình dung qua các câu chuyện của bạn bè.

Sau 10 năm vào bộ đội, tôi đáp chuyến tàu hỏa thống nhất trở về quê hương miền Bắc.

Cái ấn tượng hằn sâu trong người lính như tôi là bức tranh tương phản của cảnh trở về thủ đô Hà Nội.

Đoàn tàu từ trong Nam ra chở những người lính đen đúa ùa xuống sân ga, vòng người đi đón cũng quần áo nâu sồng, nón rách, có người còn đi chân đất. Cũng ở ga, đoàn người đi đón tàu phía Bắc về thì lộng lẫy áo quần, hoa tươi cầm tay, các cô gái môi son má phấn…

Sau khi chúng tôi trả phép thì chẳng bao lâu lại xảy ra chiến tranh biên giới với Campuchia. Chúng tôi lại phải dùng đến súng đạn.

Đánh với bọn áo đen vất vả lắm. Chúng bị nhồi sọ về hận thù dân tộc và lối chỉ huy quân phiệt nên chúng đánh như thiêu thân, lì lợm hết chỗ nói.

Đơn vị tôi lúc đầu là đơn vị làm kinh tế, tôi giữ chức đội phó phụ trách hậu cần, sau toàn đơn vị vẫn phải chuyển sang sẵn sàng chiến đấu. Lúc ấy có một số sĩ quan từ miền Bắc vào. Tôi mừng lắm, hầu hết anh em đều tốt nghiệp đại học từ ngạch sĩ quan dự bị sang.

Vốn sống gần với dân, tôi biết nhân dân sẵn sàng chia sẻ mọi khó khăn cho bộ đội. Tôi vận động người dân đổi gạo nếp, thịt tươi lấy đồ hộp của bộ đội. Nhiều nhà còn ủng hộ gà, vịt, rau tươi cho đơn vị. Đơn vị tôi nuôi quân khỏe nhất lúc bấy giờ.

Cấp trên chuẩn bị đại hội mừng công quân khu. Tôi được coi là một tấm gương phát huy sức mạnh tổng hợp, dân vận giỏi, nuôi quân khỏe, chiến đấu tốt. Cục Chính trị cử cán bộ tuyên huấn xuống bồi dưỡng tôi làm báo cáo. Có đêm, tôi phải đứng trước gốc dừa, cố học cách nói như mình đang nói trước hội nghị có cả cấp trên và các vị tướng.

Còn 3 ngày nữa tôi sẽ có xe đón đưa vào Sài Gòn. Tôi thấy lòng mình dâng trào bao cảm xúc. Nghĩ lại lần tiến quân vào Sài Gòn năm 75, tôi tự an ủi, lần này coi như bù lại.

Hôm ấy, tôi có giấy gọi lên trung đoàn.

Đến nơi, tôi chột dạ thấy Ban chỉ huy có thái độ khang khác. Đồng chí chính ủy nói với tôi:

- Đồng chí Thông. Chúng tôi báo để đồng chí biết, đồng chí không đi dự đại hội Quân khu nữa.

- Có nhiệm vụ cấp tốc ạ? – Tôi vội vàng hỏi.

- Không. Đồng chí có đơn tố cáo rằng lợi dụng cương vị công tác, đồng chí đã tham ô tiêu chuẩn của anh em. Đồng chí đã thu vén cá nhân…

Tôi như bị một nhát búa vào đầu, choáng váng tới cả phút. Miệng khô đắng. Bấy giờ nếu nghe một quyết định đem đi xử bắn chắc tôi cũng coi là việc nhầm lẫn bình thường, không thể xúc động hơn.

- Chắc ai thù oán tôi.

- Chúng tôi cũng nghĩ như thế – Chính ủy như thông cảm hơn trước sự sửng sốt và bình tĩnh của tôi. Anh ấy tiếp tục nói: Nhưng có một nguyên tắc, nếu chưa xác minh thì không được đi dự đại hội mừng công.

- Đề nghị cho xác minh ngay – Tôi nôn nóng và hy vọng mọi việc được làm sáng tỏ trong dăm phút.

- Đồng chí yên tâm. Cái gì cũng cần có thời gian. Chúng tôi sẽ nghiên cứu.

- Tôi hiểu…

Khi màn đêm đã chìm vào sâu thẳm, tôi nhớ lại tất cả mọi việc làm của mình và hình dung tất cả các khuôn mặt trong đơn vị.

Tôi sực nhớ ra…

Có một buổi tối nọ, khi đi kiểm tra xung quanh doanh trại, tôi nghe tiếng ồn ào, nhộn nhạo trong một căn phòng. Tôi bước vào thấy thiếu úy Phạm Quang Vinh trên người như không còn một mảnh vải, một tay cầm chai rượu, một tay cầm chén, đang hát theo điệu một bài hát quen thuộc:

… Ta là con của bố ta mẹ ta
Thấy nhớ nhà là ta cứ đi về

(Nguyên tác: Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn Theo Đảng mạnh chân bước lên đường)

Thấy tôi vào, không khí lắng hẳn đi. Có người lách ra ngoài. Tôi nghiêm nghị hỏi:

- Đồng chí Vinh, mặc quần áo vào.

- Ông là ai? – Vinh tròn mắt nhìn gần sát mặt tôi hỏi.

- Thượng úy Trần Đức Thông, Phó đại đội trưởng đại đội 36.

- Này nhé, báo cho ông biết, thằng này không phải là vô học, biết đủ phép lịch sự. Bằng đỏ Đại học Tổng hợp nhá.

- Tất cả giải tán. Chuẩn bị báo động – Tôi ra lệnh…

Phải rồi, thủ phạm chắc là Vinh. Vinh là con cưng của một gia đình cán bộ xã thuộc vùng chiêm trũng Nam Hà. Có lần Vinh đã kể cho tôi nghe gia đình cậu coi cậu là niềm hy vọng của cả nhà, cả họ. Những ngày ôn thi vào đại học, cha mẹ cậu thay nhau nấu cháo gà, cá chép, bưng lên cho cậu bồi dưỡng đêm đêm.

Học xong, bị điều vào quân đội coi như điều rủi ro đối với cậu. Vinh nói với tôi đã xin ai đó ngoài Tổng cục để được điều về Hà Nội.

Cả đơn vị biết chuyện của tôi, ai cũng nhao nhao đòi đưa kẻ vu khống ra pháp luật.

Tôi phải tường trình những việc mình làm. Cấp trên có phê phán tôi, quân đội có chế độ nào hưởng chế độ ấy, đơn vị tôi muốn được cao hơn, được cải thiện hơn đơn vị khác là không được.

Cuộc thanh tra cũng nhanh, tôi vô tội. Nhưng đại hội của quân khu đã xong. Tôi không tiếc là mình không được đi dự đại hội mà chỉ tiếc bản báo cáo, muốn có dịp trao đổi với các đơn vị bạn, trong điều kiện khó khăn nếu biết dựa vào dân, biết tổ chức tốt việc nuôi quân thì đời sống anh em sẽ khá hơn rất nhiều.

Cuộc về Sài Gòn lần thứ hai, thế là lại vuột mất.

Ít ngày sau, Phạm Quang Vinh có giấy báo điều động ra Hà Nội nhận công tác. Thật ra tôi mừng vì từ sau ngày xảy ra chuyện ấy Vinh tránh mặt tôi, cậu ấy đi cũng đỡ mặc cảm cho cả hai người.

Một đêm đã khuya, thấy trong quán ăn ồn ào, không khí náo nhiệt vui vẻ lắm. Tôi định vào làm vài “choóc” với anh em cho vui. Gần đến nơi, thấy có người tung hô:

- Muôn năm đại ca Vinh…

Có một cậu nói tiếng khàn khàn:

- Này, cậu nói cho mình biết làm sao mà hạ được con gà nòi của đại đội.

Vinh hăng hái:

- Cần phải nắm vững nguyên tắc. Ba ngày trước đại hội mình mới gửi đơn. Mà đã có đơn là stop.

- Nhưng sao lại đổ oan cho anh ấy?

- Mày ngu bỏ mẹ. Có như thế mới có đơn về cấp trên trình bày mình chống tiêu cực, đang bị trù dập, cần phải được điều đi nơi khác. Thế là ông anh điều ngay cho về chỗ thơm.

- Hoan hô.

Một giọng nào đó ê a: “Bộ rằng bộ cũng rất thương. Nhưng ở chiến trường thì bộ không quen”.

Cả tốp reo hò.

Tôi trở về, quăng mình trên giường, đầu óc quay cuồng.

Hôm sau Vinh đến chào tôi với thái độ rất nhã nhặn:

- Em biết em có lỗi vì quá nóng nảy, mong anh tha thứ.

Tôi ôn tồn:

- Mọi việc rồi sẽ qua đi, mình chỉ muốn nói với cậu điều này: Con người ta rất cần sự khôn ngoan, nhưng đừng nhầm lẫn nó với sự xảo trá. Thôi, chúc cậu lên đường may mắn.
Hình như đâu một tháng sau đó mình xin nghỉ hưu.

- Anh lại đi thẳng về nhà hay có qua Sài Gòn?

- Lặp lại hành trình ấy. Mình thật sự hơi buồn. Mình có tâm sự với tay chính ủy, các ông ấy nhát đến mức không dám bảo vệ sự thật và sự đúng đắn của các sự việc. Thế là tôi về hẳn nhà chú ạ.

Anh Thông lúc này mới thoát được khỏi vai chính của cuốn phim mấy năm về trước mà anh là diễn viên chính. Anh mở nút lọ rượu, rót đầy hai chén.

- Uống đi! Thứ này giãn gân cốt. Cuốc đất một ngày, tối làm vài cốc, cái lưng nó nhẹ hẳn đi.

Tôi nhăn mặt như chuột chù húp dấm. Còn anh làm một tợp, đít chén dốc lên trời.

- Chưa buồn ngủ chứ? – Anh hỏi ôn tồn.

- Nghe chuyện của anh, thức đến sáng cũng còn tỉnh.

- Này, đừng đưa lên báo nghe cha! Họ lại bảo mình bôi nhọ quân đội.

Ngẫm nghĩ một lát, anh nhếch mép nói như thăm dò:

- Có khi đưa lên báo cũng hay đấy ông ạ. Coi như mình đưa cho bạn bè một tấm kính hiển vi có thể nhìn thấy cả mặt trái của ánh hào quang để mọi người tỉnh táo hơn, có khi lại hay.

- Thế là anh vẫn chưa vào Sài Gòn?

- Thế đấy ông ạ. Cả làng này cứ tưởng mình thuộc Sài Gòn như thuộc lòng bàn tay, cho nên lúc nãy mình mới nói với ông là lâu nay mình nói dối mọi người.

Chúng tôi như lặng đi. Ai cũng muốn giấu cảm xúc của mình trong chén rượu.

Giữa lúc ấy, có tiếng chó trong làng sủa ran, anh Thông chuyển hướng sang chuyện khác.

- Bọn thanh niên vẫn đi chơi – Anh nói không hẳn cho tôi cũng không hẳn cho anh nghe.

- Thằng Tiến về đấy hả? – Anh hỏi to khi nghe tiếng bước chân giẫm trên lá mít khô.

- Vâng. Bố với chú vẫn chưa đi ngủ ạ.

- Mả mẹ anh chứ – Anh mắng yêu con trai – Khua chó om xòm thế ai mà ngủ được.

- Bố này, có thư chị Hải gửi về.

- Đâu? Vào đọc tao nghe coi – Anh nói rất giống khẩu khí dân Nam bộ.

Trong lúc chờ thằng con bóc thư, anh giải thích cho tôi hiểu:

- Con Hải nhà này sắp lấy chồng. Chồng nó là

Việt kiều ở Canada nhưng cha mẹ người Sài Gòn.

Chả biết hai đứa gặp nhau thế nào, đứa dạy, đứa học thành ra yêu nhau. Mẹ nó cứ nước mắt ngắn nước mắt dài thương con đi xa, mình phải quát lên bà ấy mới chịu im…

- Nào, đọc đi – Anh giục con.

Thằng Tiến bắt đầu đọc, trang thư thứ hai có đoạn:

… Bố ơi! Con buồn cười quá, một hôm ba anh Cương cởi trần, con thấy trên bắp tay trái có một vết sẹo, con nhìn đúng là vết đạn, con hỏi: Thưa bác, bác là thương binh loại mấy ạ?

Ba anh ấy nói: Đó là vết thương ân huệ của người lính miền Bắc tặng cho bác đấy. Nhờ có nó mà bác trở về Sài Gòn an toàn. Bác ấy đã đứng ra chống bọn di tản, chống bọn xuyên tạc cách mạng sau giải phóng. Bác ấy còn cho con xem một đầu đạn to bằng đầu đũa, bác ấy để trong một chiếc lọ đặt trên bàn thờ. Ba anh Cương nói đó là viên đạn ân huệ.

Tôi thấy anh run run, anh nói như hét lên:

- Đọc lại, mày đọc lại cả đoạn này cho bố và chú nghe lại.

Anh bắt thằng nhỏ đọc đến mấy lần mới tha cho nó.

Anh thẫn thờ một lát rồi như sực nhớ ra điều gì, anh cầm đèn pin đi vào nhà trong, một lát sau trở ra với một tờ giấy đã ngả màu.

- Tấm bản đồ tôi nói, nó đây ông ạ. Bản đồ Sài Gòn đấy, bao năm nay mình vẫn chưa có dịp dùng đến nó. Chắc năm nay Sài Gòn thay đổi nhiều rồi. Mấy chục năm trời chứ ít gì đâu.

Anh trải tấm bản đồ trước mặt. Đường nét chữ và ký hiệu hiện lên li ti như hạt kê, hạt vừng. Mắt anh chắc chẳng nhìn thấy gì nhưng anh đặt bản đồ rất đúng hướng.

“Đây. Ngày ấy mình vào Sài Gòn từ hướng này…”. Anh đưa bàn tay như mũi tên rẽ hướng vào trung tâm thành phố. Tôi bỗng thấy anh lặng đi rất lâu. Tôi không dám nhìn thẳng anh lúc ấy bởi trông anh như nặng trĩu bao suy tư.

Rồi tôi thấy từ khóe mắt, nước mắt anh trào ra. Anh chỉ xuống một điểm trên bản đồ, nghẹn ngào nói:

- Cậu Toàn, nó hy sinh chỗ này. Còn tôi, số phận thì ông rõ đấy, cũng khốn khổ thế nào. Mà quỷ quái làm sao cái ông thông gia của nhà mình lại chính là tay tù binh năm ấy. Không lẽ cuộc đời lại có sự ngẫu nhiên lạ lùng tưởng như ai sắp sẵn vậy.

Anh cứ lặng yên như thế trước tấm bản đồ Sài Gòn. Tôi tôn trọng cái phút im lặng bão tố như vậy trong con người anh, trong cuộc đời anh.

Tôi hình dung, những ngày này biết bao người đang tìm gặp nhau để ôn lại bao ngày oanh liệt và dữ dội của quá khứ. Bao người đã nâng ly chạm nhau nhân niềm vui lên và chia bớt nỗi buồn. Nhưng chỉ có một mình tôi chứng kiến một cựu sĩ quan đứng như bị thôi miên trước tấm bản đồ chiến lợi phẩm, suy nghĩ và lý giải về thắng lợi của cả một sự nghiệp của dân tộc nhưng lại bó tay trước cái đích của riêng mình, chưa tìm thấy được một lời giải đáp.

Tôi nhớ như in hình ảnh và câu nói của anh đêm ấy:

- Đây. Ngày ấy mình vào Sài Gòn từ hướng này.

Và bàn tay anh đặt ngang trên tấm bản đồ Sài Gòn, cứng cáp và mạnh mẽ như mũi tên chẻ đôi nó ra để lao tới…

Lê Thế Thành
(P. Quang Trung, TP. Thái Nguyên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

Ý Kiến bạn đọc