Truyện ngắn

Người giữ thác hang cọp

Tiếng cụ Y Bơn lè nhè vì say rượu. Giọng ông lúc bổng lúc trầm trong căn nhà rông thấp lè tè bên bờ thác cạnh hang. Chum rượu cần đã cạn sạch. Chủ lẫn khách mặt đã đỏ phừng phừng như những chú gà sắp đến giờ xung trận. Gió từ cánh rừng nguyên sinh thổi phần phật vào đáy thung lũng này tạo nên những tiếng hú rú rít thật rợn người. Chiếc cầu treo bắc ngang thác cứ đong đưa như quả lắc đồng hồ, phản chiếu xuống mặt nước thành bóng đen cứ lung lay huyền hoặc trong ánh sáng mờ mờ của đêm trăng 16.

- Sao cụ không tìm chỗ khác sinh sống? Ở đây buồn và nguy hiểm quá, lại thiếu thốn tư bề. Thanh bắt đầu câu chuyện để phá tan bầu không khí ngột ngạt nặng nề.

Cụ Y Bơn chẳng nói chẳng rằng, đột ngột đứng lên tì người bên cửa sổ. Đôi mắt nâu đầy hoang dại nhìn về cánh rừng với nỗi buồn thăm thẳm xa xăm rất lạ thường.

- Mầy tưởng bỏ đi chỗ khác là dễ dàng lắm chắc? Hừm… hừm, tao đã có lời nguyền sống chết với núi rừng này đến ngày nhắm mắt, tao đang chờ… – Tiếng Y Bơn trở nên gắt gỏng giận dữ.

- Chờ ai? Chờ tới khi nào? – Thanh thắc mắc vặn vẹo.

- Tao chờ ông “ba mươi” quay lại trả thù. Nếu không sẽ còn nhiều người khác bị giáng họa vì tao. Mầy muốn nghe tao kể chuyện không?

- Rất muốn – Thanh vồn vã. Một phần vì hiếu kỳ, một phần muốn xoa dịu cơn giận dữ của Y Bơn.

Ký ức 68 năm qua ầm ập kéo về theo nhịp kể chậm rãi đều đều của cụ Y Bơn. Thỉnh thoảng, câu chuyện phải dừng lại giây lát để cụ cầm lấy chiếc tù và thổi lên vài tiếng rồi nhảy múa theo vũ điệu cồng chiêng của dân tộc K’Ho. Ngày ấy, buôn làng dưới chân thác này run sợ thật sự trước hàng loạt xác chết của nhiều người vô rừng làm rẫy bị gặm nhấm nham nhở lở lói. Máu đỏ loang thấm cả dòng suối vốn đẹp và rất hiền hòa. Dấu răng cọp còn in hằn trên thân thể người bị nạn như một sự đe dọa, trai tráng buôn làng tụ họp nhau mang vũ khí vào rừng tìm cọp. Vậy mà có được gì đâu, có chăng là những chuyến đi không người trở lại. Mảnh đất trống sườn đồi ngày càng có thêm những ngôi mộ bằng đất sét mọc lên. Chiều xuống dân làng phải nổi lửa suốt đêm xung quanh các nhà rông, tiếng mõ, tiếng tù và cứ vang vang giữa đêm vắng để cảnh báo mọi người đang đối mặt với cái chết.

So-492--Anh-minh-hoa---Nguoi-giu-thac-hang-cop--Anh-1

Buổi chiều hôm ấy, buôn làng này xuất hiện một chàng trai cường tráng khôi ngô với cây súng kíp trên lưng. Đó là Y Bơn. Người vừa đến từ đỉnh Bi Dup, nơi được xem là nóc nhà của cao nguyên xanh đầy thông reo, nắng gió.

- Mầy đến đây làm gì? – Tiếng già làng Siu Sên gắt gỏng, dò xét.

- Tôi đến để bắt ông “ba mươi” – Y Bơn nói thật to. Nói đoạn, Y Bơn rút súng kíp bắn lên trời 3 phát tạo thành những tiếng nổ xé tan bầu không khí tang thương tĩnh lặng của núi rừng.

Đêm ấy, cả làng ngồi quây quần bên ánh lửa trong căn nhà rông to nhất buôn. Rượu cần đem ra uống với thịt bê. Không ai nói với nhau nửa lời. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về chàng trai xa lạ đầy nghị lực kia. Y Bơn chăm chú nhìn về phía góc nhà cạnh cửa sổ, ở đó có đôi mắt đen lay láy của một cô gái đang chằm chằm nhìn anh như truyền thêm sức mạnh trước khi vào rừng.

- Đêm nay 30, chúa sơn lâm sẽ xuất hiện. Tôi đi lành ít dữ nhiều, nếu thánh thần độ mạng, tôi sẽ quay về. Nếu có chết cũng sẽ quyện theo con thác, núi rừng, sống mãi với buôn làng ta.

Nói xong, Y Bơn chít lên đầu một mảnh vải tang trắng rồi thoăn thoắt vượt thác vào rừng. Đêm ấy cả buôn không ngủ. Tiếng thác tuôn ầm ập, tiếng nước chảy cuồn cuộn pha lẫn tiếng hú gầm vang của chúa sơn lâm. Lửa lại được thắp sáng, tiếng mõ, tù và, cồng chiêng dồn dập hơn như cố xua tan cái cảm giác lo sợ đến tột cùng.

Đoàng, đoàng… hai tiếng súng nổ rất to ở phía cuối rừng. Tiếng cọp chúa rống to gầm gừ hung hãn hơn bao giờ hết. Trời tối đen như mực. Một tiếng huỵch nặng nề rơi trên dòng thác đang chảy xiết.

Tiếng rên rỉ của chúa sơn lâm cứ nhỏ dần nhỏ dần rồi im bặt. Không một ai dám bước ra khỏi nhà mình. Tiếng trẻ con đang khóc cũng im bặt.

Tờ mờ sáng, mọi người nhìn thấy Y Bơn nằm sóng soài bên thác. Mặt mày đầy vết xước rướm máu, quần áo rách tả tơi, tay còn ghìm chặt khẩu súng. Phía bên kia thác, một khoảng hang sâu âm vào vách đá đang tung tóe vết máu và bùn đất nhầy nhụa. Sau này người ta mới biết đó là hang cọp chúa trú ẩn. Có lẽ nó đã bị thương nên cố tìm về hang cũ lần cuối trước khi mất hút vào rừng sâu. Trên lá rừng, chỉ còn in ba dấu chân cọp nhuộm đầy máu khô. Từ đó không thấy cọp quay lại lần nào.

Khêu sáng thêm ngọn lửa rừng đang le lói. Thanh phấn khích hỏi dồn:

- Sau đó thì sao?

- Khỏi nói hết niềm vui của buôn làng. Người ta ca hát ăn mừng suốt cả tháng và tôn tao là anh hùng của núi rừng này. Mới đó đã gần 60 năm. Chỉ có điều…

- Điều gì vậy cụ?

Im lặng thật lâu, giọng cụ Y Bơn sang sảng trong đêm vắng như tiếng kêu của rừng núi thâm u hoang tịch.

- Sau chuyện đó, mặt tao trở nên xấu xí như thú rừng với chi chít sẹo. Bọn con gái không đứa nào dám nhìn mặt tao, chứ nói gì đến việc yêu thương. Vậy là tao thù đời, đơn độc đến bây giờ.

Thanh bây giờ mới chú ý đến khuôn mặt sạm đen, đầy sẹo của cụ Y Bơn. Sự cảm phục lẫn thương hại bỗng chốc tràn lên trong lồng ngực làm Thanh thấy khó thở vô cùng.

Cụ Y Bơn kể tiếp, sau đó tụi Mỹ – Ngụy chiếm đóng cả Đà Lạt này, núi rừng bị chúng càn quét ngày đêm. Thác Hang Cọp này bị chúng bỏ thuốc độc để cô lập, tiêu diệt cộng sản nên ngày càng đen ngòm.

Rừng nguyên sinh cũng bị đốt cháy bằng bom napan nên càng trơ trọi, nham nhở. Trai tráng bị bắt quân dịch, số còn lại bị chúng bắt làm phu phải vào rừng lao động. Cực quá nên rủ nhau bỏ xứ mà đi. Riêng Y Bơn khăng khăng ở lại với lời nguyền. Và cũng có lẽ ông cũng không thể nào xa thác được vì nơi đó ông đã trở thành một người hùng của núi rừng hùng vĩ. Và theo truyền thuyết của người dân tộc, cọp sẽ trả thù khi chúng bị sát hại hay bị trọng thương.

Không biết việc ấy có hay chăng nhưng Y Bơn cứ trong trạng thái đợi chờ. Khẩu súng kíp được ông lau chùi cẩn thận ngày đêm. Trong tâm tưởng ông cứ văng vẳng đâu đây tiếng rống hung tợn của cọp chúa lúc bị thương, đâu đây trong khe núi, sườn đồi, bờ thác ẩn hiện mơ hồ đôi mắt rình rập của chúa sơn lâm. Vậy mà mấy mươi năm qua sự chờ đợi ấy không diễn ra. Tóc Y Bơn giờ bạc trắng, tuy việc đi lại vẫn còn nhanh nhẹn như thời trai trẻ.

Sau ngày nước nhà thống nhất đến nay hơn 30 năm, thác Hang Cọp được nhiều người tìm đến để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hoang dại, trữ tình của núi rừng, thác ghềnh hiểm trở nhưng rất nên thơ.

Nhưng có lẽ du khách muốn chứng kiến tận mắt chiếc hang sâu, nơi trú ẩn của cọp chúa năm nào, nghe cụ Y Bơn kể lại cuộc chiến đấu giữa chàng trai K’Ho cùng thú dữ, được nhìn thấy chiếc cầu treo huyền thoại, bờ suối hoang dã, liêu trai, cánh rừng thâm u bí ẩn. Vậy mà trong cuốn sổ dành cho du khách ghi lại cảm tưởng của mình khi đến đây suốt mấy mươi năm vẫn trống không. Có lẽ họ chẳng hề quan tâm đến những gì đã xảy ra nơi rừng thiêng nước độc này, đến nỗi gắn bó cả cuộc đời của một con người không phút giây nào xao lãng như một trách nhiệm ràng buộc thật thiêng liêng.

Đau xót nhất là những khi chứng kiến cảnh lũ trẻ đến tham quan ăn nhậu no say và sẵn sàng trút bỏ những gì ô uế nhất ngay hang cọp với nụ cười dửng dưng tự đắc. Có lần một quan chức tai to mặt lớn tại địa phương say bí tỉ thẳng thừng tuyên bố: “… tới chết cũng không xuống thung lũng này lần nữa, vừa âm u, vừa nhuộm màu chết chóc thê lương, thà ăn nhậu ở thành phố Đà Lạt cho khỏe…”.

Rít một hơi thuốc lào thật sâu, cụ Y Bơn chậm rãi phun từng lọn khói trắng bay lơ lửng lan tỏa khắp gian nhà rông. Vầng trán nhăn nheo cứ nhíu lại như cố nhớ những gì đã xảy ra trong quá khứ. Đôi tay trần gân guốc cứ xoắn chặt vào nhau tạo tiếng kêu răng rắc. Duy có đôi mắt rực sáng rất lạ lùng.

- Nhiều lần mấy đứa cháu kêu tao về quê cũ cho đỡ cực nhưng tao không đi đâu. Tao nhớ thác này lắm. Đêm phải nghe nó chảy ầm ầm, nghe thông kêu lào xào tao mới ngủ được. Già rồi không biết chết ngày nào, thôi thì chết ở đây cho tiện. Vả lại có ai biết chuyện bắn cọp đâu mà kể lại cho lớp người đi sau. Thành ra…

Tiếng cụ đang rôm rả bỗng nhỏ dần. Chiếc điếu cày rơi xuống mặt sàn nhà bằng gỗ tạo âm thanh khô khốc. Y Bơn đã ngủ, không hiểu do cơn mộng du đến thật bất ngờ hay vì chếnh choáng men say của bình rượu cần thơm ngai ngái.

Thanh tiến dần đến khung cửa sổ nhìn ra bờ thác. Đêm đã vào thật sâu. Trăng 16 sáng vằng vặc thật huyền bí, u uẩn làm sao. Khuôn mặt của cụ Y Bơn đẹp lạ thường với đôi môi lúc nào cũng chực nở nụ cười mãn nguyện rất cao nguyên. Tiếng gà rừng gáy lanh lảnh giữa rừng đồi thông. Những con dốc dài xuống thung lũng sáng lấp loáng.

Trong cơn mê sảng, tiếng cụ Y Bơn lắp bắp: “… Bắt lấy nó, tôi bắn nó bị thương rồi, bắt lấy nó dân làng ơi…”.

Thanh Liêm
(Liên hiệp các Hội VHNT TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 492

Ý Kiến bạn đọc