Truyện ngắn

Người giữ lời thề

 

Buổi sáng Bưởi bảo con dâu: “Con lo chợ búa cơm nước cho đám thợ thuyền, nay má mắc bận”. Từ đêm qua tới giờ, Bưởi thẫn thờ, có lúc như ngơ ngẩn. Chị khép cửa phòng ngủ của mình, mệt mỏi nằm dài ra giường. Tối qua nhận được điện thoại của cậu Út từ dưới quê, nói chuyện Hai Đen đã được minh oan. Nhờ có ông Bí thư Tỉnh ủy mới, đã sáng suốt cho điều tra lại những trường hợp khúc mắc trong thời chống Mỹ. Cả tỉnh có hơn hai chục người được minh oan. Thế là cả đêm qua Bưởi mất ngủ, không tài nào ngủ được.

Con dâu, vợ thằng Phước đi chợ về xộc vô phòng, mắt ngó mẹ chồng trân trân: “Má đau ở đâu, con kêu anh Phước đưa má đi bác sĩ nha!”.

- Má không bệnh gì, để má được yên – Thiệt mừng, vợ thằng Phước cũng nhanh nhẹn. Vợ chồng chúng đã biết quán xuyến công việc. Cái bụng bầu của nó đã lum lum…

Bưởi tự nhủ lòng, có thế chứ, người như Hai Đen mà lại phản bội Đảng, hại dân, hại nước hay sao? Làm sao Bưởi quên được cái ngày cả ba má và em gái Hai Đen bị giết chết bởi một quả đạn của bọn Mỹ – Ngụy từ chi khu quân sự, bắn vu vơ, trúng lúc cả ba người đang xạ lúa ngoài đồng. Cái Huệ bằng tuổi Bưởi, mới 13 cũng ráng ra đồng xạ lúa cùng ba má. Nó chết, ruột lòi ra lòng thòng. Thân xác ba má Hai Đen nhầy nhụa máu. Bà con lối xóm bó 3 cái xác vào những tấm đệm đan bằng cỏ lác, đào hố chôn ngay trong vườn nhà Hai Đen. Mới 15 tuổi, Đen không gào khóc thảm thiết. Chỉ hai hàng nước mắt cứ chảy, đôi mắt Hai Đen như vô hồn, nhìn xa xăm. Bưởi ngồi kế bên, nước mắt cứ trào ra, tay Bưởi vỗ vỗ tay Đen, an ủi vậy mà. Nếu Hai Đen không cùng anh Hai Tín của Bưởi ra sông kiếm cá, mà cũng đi xạ lúa hôm ấy thì ôi thôi…

Lòng căm thù lũ giặc nó lặn sâu trong bụng của Hai Đen.

Hồi nhỏ cùng đi học thầy giáo trường làng, anh Hai Tín chuyên làm lơ, đi về nghịch ngợm cùng lũ bạn. Chỉ có Hai Đen lúc nào cũng cặp kè bên Bưởi, sẵn sàng lăn xả vô, mắt trừng lên với những đứa dám chòng ghẹo, bỡn cợt với Bưởi. Má Bưởi là người đàn bà đẹp nổi tiếng khắp vùng. Bưởi được sanh ra cũng trắng trẻo, xinh xắn nên ba má đặt tên là Bưởi. Có nghĩa trắng như bông bưởi, lại dìu dịu hương thơm.

Bưởi và Hai Đen thương nhau tự nhiên như hơi thở. Hai Đen có nước da nâu, hồng hào, mặt hiền khô, nhưng vô du kích đánh giặc thiệt gan lì. Khi giặc càn, du kích chặn chúng lại, đánh nhau một vài chập, bao giờ Hai Đen cũng bọc hậu cho anh em rút êm. Núp trong những cái hố nông du kích đã đào sẵn trên từng chặng, Hai Đen rình bọn giặc lò dò bò lên, mỗi viên đạn là một tên gục xuống, Mỹ có, Ngụy có. Hai Đen vừa bắn, vừa di chuyển như con sóc chuyền cành, bọn giặc la oai oái. Lúc giặc tràn lên đông, Hai Đen nhào xuống sông, lặn một hơi, thoát luôn.

Anh Hai Tín của Bưởi luôn luôn cặp kè với Hai Đen. Nhiều đêm Hai Đen đưa anh em áp sát đồn giặc, lần mò cắt dây kẽm gai, quay hết mặt những trái mìn Clây-mo vô trong đồn, rồi nhắm bắn tỉa giết chết tên lính gác trên chuồng cu, thảy vài trái lựu đạn vô đồn. Bọn giặc giật mình, hoảng hốt, nhiều tên sỹ quan đang trần truồng ôm gái, cuống cuồng chỉ kịp xỏ cái quần xà lỏn, tót vô lô cốt, hay nhào xuống đường hào. Chút sau là hàng loạt mìn nổ ùng ùng, cú nhấn nút mìn của chúng lại sát thương bọn chúng. Cấp trên mấy lần công bố tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cho Hai Đen. Hai Đen được thăng chức làm xã đội phó. Chuyện đánh giặc của Hai Đen có kể cả ngày cũng không hết…

Căn phòng của Bưởi ở lầu một, có cửa sổ nhìn xuống đường. Chiếc quạt bàn vẫn vô tư quay qua quay lại thổi gió. Chị ngồi dậy uống nước, lòng dạ vẫn bần thần. Những kỷ niệm cứ lần lượt hiện về…

Năm 18 tuổi, chả cần soi mặt vô kiếng Bưởi cũng biết mình đẹp. Chả thế, lần đầu chạm mặt, cán bộ Huy từ trên huyện về, ngẩn người ra, đứng như trời trồng. Làm Bưởi cũng mắc cỡ. Từ đấy cán bộ Huy năng về xã, lần nào cũng về thẳng nhà Bưởi. Đẹp trai, cao ráo, trắng trẻo, nói năng rành rẽ, tỏ ra là người có học, lại nhiều năm ở thành thị, nên lịch duyệt, Huy lấy được cảm tình của ba má Bưởi. Có buổi tối Huy về, ba má vờ lảng sang hàng xóm, cốt để Huy và Bưởi bên nhau. Huy nắm lấy tay Bưởi, nói rất tha thiết:

- Bưởi ơi! Anh yêu em, yêu nhiều, nhiều lắm… Lần đầu tiên gặp em, anh đã biết rằng nếu không có em, cuộc đời của anh chỉ còn là đêm tối.

Bưởi đành chống đỡ yếu ớt:

- Em chưa nghĩ tới chuyện chồng con. Giặc giã còn bời bời, bom đạn còn đùng đùng, em mới vô du kích, sao đã tính chuyện chồng con, kỳ quá.

Huy lại rên rỉ:

- Tía má cho anh hay hết trọi rồi. Đồn trưởng Đáng đang nhắm nhe em. Chẳng lẽ em chịu làm bé cho tên đồn trưởng đó sao? Để anh thưa với cấp trên chuyện của chúng mình rồi đưa em ra cứ.

Đồn trưởng Đáng mỗi lần dẫn lính xuống ấp lại xáp vô quanh quẩn bên Bưởi. Đôi mắt thèm thuồng của hắn nhìn Bưởi rát rạt, làn da Bưởi phát nổi gai. Những lời tán tỉnh suồng sã của hắn có lấy mấy cái bồ mà đựng cũng không hết. Nhìn bộ ria mép của hắn xếch lên một bên và cái cười đểu cáng mà rợn người. Thỉnh thoảng hắn cho mấy tên lính mang đến biếu nhà Bưởi cặp vịt hay cặp gà. Ai còn lạ gì, gà vịt ấy là đồ ăn cướp của dân. Không nhận của hắn dễ mang họa. Nhận, mà mình mần thịt ăn, chắc nghẹn họng, tội chết. Bưởi hỏi Hai Đen: “Tính sao?”. Hai Đen hì một cái: “Đưa anh em du kích bồi dưỡng”. Mấy anh du kích mang vô rừng tràm mần thịt, nấu cháo. Hồi ấy Bưởi mới vô du kích, còn đang tập tỳ vai, áp má, nhắm đích bóp cò, tập ném lựu đạn bằng cục gỗ. Nam du kích đêm đi quấy rối đồn địch, chị em ở nhà lo nấu cháo cho anh em ăn khuya, lỡ có thương binh thì phải lo tìm chỗ cất giấu.

tapchi37--Nguoi-dan-ba-trong-chien-tranh---Pham-Quang-Vinh---Anh-1
Người đàn bà trong chiến tranh tranh bột màu – PHẠM QUANG VINH.

Đen cùng Bưởi đào cái hầm bí mật cặp mí sông. Cửa hầm được những bụi bình bát và mấy rặng dừa nước che kín. Hầm vừa sâu, vừa rộng, vài ba người trải đệm, nằm ngồi vẫn được. Lúc nào Hai Đen cũng trữ một hũ gạo rang và một bình nước mưa ngọt lịm. Hôm ấy hai đứa chun vô hầm. Bưởi biết tình cảnh của mình là ngặt rồi. Khó nỗi ba má muốn vun vén cho Bưởi với Huy. Bưởi hỏi Hai Đen: “Chúng mình thiệt thương nhau suốt đời chứ?”. Hai Đen ngồi ngay nhìn thẳng mặt Bưởi, đưa bàn tay phải lên trên cái trán vuông vức, nói giọng rất nghiêm:

- Anh đã được tuyên thệ dưới lá cờ búa liềm của Đảng, suốt đời trung thành với Đảng, với cách mạng, với dân, với nước. Đấy là lời thề thiêng liêng. Hôm nay, có trời, có đất, có dòng sông này, có cỏ cây, có anh và em. Anh xin thề suốt đời yêu thương và thủy chung với em, nếu sai lời trời hại chết.

Bưởi vừa thỏa lòng, vừa cảm động, vội bụm miệng Hai Đen lại:

- Em tin! Em tin anh mà… Em có bầu với anh, chắc ba má cũng không nỡ cản. Thiệt may anh Hai Tín luôn đứng về phe chúng mình. Huy là cấp trên đấy mà sao em cứ thấy không ưa. Em chỉ ưa có anh thôi.

Căn hầm ấy là nơi ái ân sung sướng tột cùng ở tuổi thanh xuân trinh trắng của hai người. Từ hôm ấy, cứ nhận được tín hiệu từ Hai Tín là Bưởi lại chun vô hầm dâng hiến và nhận lại những ngọt ngào hoan lạc tuyệt vời mà tạo hóa ban tặng cho con người.

Ít bữa sau nghe mấy người lính mang gà vịt của đồn trưởng tới tặng nói bóng gió: “Đồn trưởng đang lo kiếm thợ chuẩn bị cây que, lá lung, đưa tới đây dựng thêm một căn nhà nhỏ để thỉnh thoảng đồn trưởng tới với cô Ba”.

Mấy người lính còn nói ý cho biết, vài ba hôm đồn trưởng lại cho đón một cô ca-ve thơm phức đến ngủ qua đêm. Bà vợ lớn của đồn trưởng là con gái của một ông chủ hãng buôn ở tít trên thành phố. Lâu lâu đồn trưởng mới về phép thăm nhà vài ngày. Biết tin này, cả gia đình Bưởi nhộn nhạo, nôn nao, lo, rất lo.

Hay Bưởi xin ra cứ. Ra cứ lại phải nhờ đến Huy. Bưởi chả có chút cảm tình nào với Huy. Vả lại Bưởi và Hai Đen đã… với nhau.

Ở lại nhà chắc khó thoát khỏi nanh vuốt của đồn trưởng Đáng. Còn đang rối bời, chưa biết tính sao, đêm ấy Hai Đen nhận được lệnh tổ chức anh em đi đón đồng chí phái viên quân sự. Đồng chí ấy về nắm tình hình các chi khu quân sự của giặc và thực lực của du kích vùng này. Chuẩn bị để bộ đội chủ lực về, phối hợp cùng du kích nhổ hết đồn bốt của giặc, mở rộng vùng giải phóng rộng lớn. Gần đến giờ đi đón đồng chí phái viên, Hai Đen mới cho anh Hai Tín và Bưởi biết chuyện. Hai Đen chỉ đem theo Hai Tín và Ba Đê là hai tay súng cự phách. Đây là chuyện bí mật chỉ có xã đội trưởng và xã đội phó biết. Xã đội trưởng là người đã đứng tuổi, nằm vùng từ hồi 9 năm. Chỉ có cấp trên và vài người du kích trung kiên mới được biết mặt xã đội trưởng.

Đến đúng điểm hẹn, Hai Đen cùng Hai Tín, Ba Đê ém mình trong các bụi cây. Quá nửa đêm, khuya lắc khuya lơ. Phía chi khu quân sự thỉnh thoảng nhấp nhóa ánh đèn pin của bọn lính đi tuần đêm. Gió thổi ràn rạt từng cơn, cành lá lao xao. Dòng sông rộng chừng hơn trăm mét tối thẫm. Trời mát đến lạnh người. Lắng tai nghe xa xa có tiếng mái chèo nhẹ bơi trên sông, Hai Đen bấm mọi người chuẩn bị phát tín hiệu. Lát sau nghe tiếng mái chèo đã rõ dần.

Bỗng cách chỗ bọn Hai Đen ém mình chừng năm chục thước về phía thượng nguồn, có ánh đèn pin lóe lên 3 lần. Nguy rồi, lộ chăng? Tín hiệu 3 lần nhá lửa, du kích chỉ dùng hộp quẹt. Bọn địch có thấy cũng chỉ cho là dân đi kiếm cá, bật quẹt hút thuốc rê. Căng mắt ra nhìn Đen thấy chiếc xuồng đang ghé mũi vô chỗ vừa phát ra tín hiệu. Phải báo ngay cho đồng chí ấy biết. Hai Đen bụm tay làm loa hét to: “Đồng chí ơi, giặc đấy, lộ rồi, chạy đi”. Cùng lúc hàng chục ánh đèn pin sáng quắc quét xuống mặt sông. Người giao liên và đồng chí phái viên vội quay mũi xuồng. Tổ du kích xiết cò xả đạn về phía bọn giặc. Các cỡ đạn của giặc vừa bắn xối xả xuống chiếc xuồng, vừa lồng lộn bay về phía bọn Hai Đen đang ẩn náu. Mấy chiếc xuồng gắn máy của giặc giấu mình trong các lùm cây cũng bật đèn pha lao ra. Biết không thể cứu vãn được nữa, Hai Đen kêu Hai Tín và Ba Đê nhanh chóng rút. Hai Đen ở lại chặn giặc. Tức quá, Hai Tín nhỏm người lên nhòm bọn giặc, quất thêm một tràng tiểu liên. Bọn giặc lại bắn xối xả về phía mấy người du kích. Hai Tín gục xuống. Lần này bọn giặc tung ra phải đến hơn một trung đội. Nhưng bọn chúng vẫn không dám xông về phía bọn Hai Đen đang ẩn nấp. Đêm tối, thằng nào không sợ chết. Chiếc xuồng của đồng chí phái viên bị bắn nát bươm. Nghe tiếng hò reo “Đây rồi” của bọn giặc, Hai Đen biết đồng chí phái viên và người giao liên đã hy sinh. Anh vội xốc Hai Tín lên lưng. Người Hai Tín mềm oặt. Ngực Hai Tín đẫm máu, thấm ướt sũng cả lưng áo Hai Đen. Về tới nhà, Hai Tín cố gắng lắm mới nhấc nổi tay em gái đặt vô tay Hai Đen, rồi nhắm mắt ra đi.

Ngay trong đêm ấy du kích và bà con trong xóm chôn cất Hai Tín ở ngoài đồng, cuốc mấy khóm cỏ phủ khắp mộ. Đứng ở lộ nhìn ra tưởng đó là ngôi mộ có từ lâu rồi. Đau đớn quá, Bưởi cũng không khóc thành tiếng. Chỉ có má Bưởi cứ rên xiết: “Trời ơi! Con ơi!”. Nỗi đớn đau lại nén chặt trong lòng. Đôi mắt Hai Đen trừng trừng cũng vô hồn, cũng xa xăm y như hồi ba má và em gái của Hai Đen bị đạn pháo giết chết.

Gần sáng hôm ấy Huy đã có mặt ở nhà Bưởi. Huy nói:

- Việc đón đồng chí phái viên quân sự chỉ có xã đội trưởng và xã đội phó được biết. Thế mà bị lộ, đồng chí phái viên bị giết là một tổn thất rất lớn, lại hy sinh cả Hai Tín và đồng chí giao liên. Chúng ta bị tổn thất rất nặng nề. Cấp trên nhận định, trong hàng ngũ chúng ta có kẻ phản bội. Trước mắt đồng chí Hai Đen giao nộp vũ khí, cùng chúng tôi về trên cứ, để cấp trên xem xét.

Nói xong những điều này, Huy ý tứ nhìn Bưởi, như ngầm cho Bưởi hiểu còn rất nhiều chuyện hệ trọng. Huy và hai người du kích lạ dẫn Hai Đen đi.

*
Sáng sớm Bưởi chỉ uống một ly sữa đậu nành. Nghe nói sữa đậu nành rất tốt cho sức khỏe phụ nữ. Buổi trưa, buổi tối chị ráng ăn vài chén cơm cho các con yên lòng. Bọn chúng đang phải trông coi gần hai chục người thợ may các loại túi xách, va ly.

Chị nghĩ để suy tính kỹ rồi vài hôm nữa sẽ nói cho vợ chồng thằng Phước hay. Chuyến này nhất định sẽ cho cha con họ được biết nhau. Một mình trong phòng, đầu óc Bưởi lại chìm ngập những kỷ niệm từ mấy chục năm trước. Ờ mà thằng Phước đã 27 tuổi. Vậy là chuyện ấy cách nay đã 28 năm…

Trời chưa sáng, Hai Đen bị Huy và 2 người du kích lạ tước súng, dẫn đi. Lúc này Ba Đê mới kể ngọn ngành sự việc đi đón đồng chí phái viên. Bọn địch rất đông, chắc chúng tính giết đồng chí phái viên cùng giao liên và diệt luôn cả đám du kích đi đón. Nên khi Hai Đen hét lên chạy đi, lộ rồi, lập tức đạn của giặc bắn về phía mấy người du kích như mưa. Giá đồng chí phái viên và giao liên biết lặn, nhào ngay xuống nước, lặn một hơi, có cơ thoát được, tiếc quá…

Suốt một ngày, một đêm, Bưởi cố ráp nối lại những sự việc xảy ra với mình và Hai Đen. Chắc chắn Huy đã biết Hai Đen và Bưởi vẫn xoắn xuýt bên nhau từ nhỏ tới lớn. Đến bây giờ đã hai năm rõ mười, Hai Đen không phải là kẻ phản bội. Vậy thì kẻ nào đã báo cho bọn địch biết đích xác ngày giờ, địa điểm và ám hiệu khi đón đồng chí phái viên? Có lúc Bưởi mường tượng hay tại nhan sắc của mình làm đắm đuối đám đàn ông mà có người cố tình hại Hai Đen. Nếu vậy thì ác quá! Bất giác Bưởi rùng mình. Không, có lẽ không phải thế. Chiến tranh có bao nhiêu chuyện oái ăm, không ai có thể lường trước được. Có ai ngờ anh Hai Tín chết lãng xẹt, làm cả gia đình Bưởi đau đớn đến bầm gan tím ruột…

Cách nay gần chục năm, cậu Út lên Sài Gòn nói riêng cho Bưởi hay, Huy đã làm cán bộ to trên tỉnh. Thỉnh thoảng Huy có ghé qua nhà, vẫn hỏi thăm về Bưởi. Huy ngồi xe 4 bánh láng bóng, có tài xế riêng. Trong tay Huy có hàng trăm mẫu ruộng, rải khắp các huyện trong tỉnh. Ở thị xã có mấy căn nhà, Huy còn mua được mấy căn nhà trên Sài Gòn cho con cái ở. Huy vẫn nói với cậu Út: “Giá ngày ấy Bưởi đừng vội chạy lên Sài Gòn mà ra cứ với Huy, thì bây giờ cô ấy đã có cuộc sống như bà hoàng”. Kỳ thiệt, cán bộ thời kháng chiến, ăn dầm ở dề nhà mình, mà bây giờ thành ông quan to, giầu sang, gớm thế… Chẳng lẽ đấy là sự sắp đặt của ông trời. Hồi ấy cả nhà bàn tính nát nước, nếu Bưởi ở lại nhà, nhất định không thoát khỏi bàn tay tên đồn trưởng ác ôn kia. Ba má cứ xúi Bưởi ra cứ cùng Huy. Nhưng lạ, như có linh tính, dẫu có chết Bưởi cũng không sống cùng Huy.

May, má có người chị em bà con, lấy được người chồng khá giả đang sinh sống ở Sài Gòn. Ngay hôm sau ba chở Bưởi qua sông đón xe đò đi thành phố.

Tạm thời Bưởi đi phụ bán cho một quán cơm. Lạ thế, từ ngày Bưởi phụ rửa tô, rửa chén, bưng cơm, tự nhiên quán cứ càng ngày càng đông khách. Từ đám xích lô, ba gác, thợ thuyền đến công chức, cả lính tráng và sĩ quan cứ nườm nượp kéo tới ăn cơm, uống la-de. Vợ chồng chủ quán mừng húm. Ông chủ quán mắt hấp háy:

- Em như đóa hoa thơm lạ lùng nên ong bướm đua nhau bu tới.

Đối diện với quán cơm, bên kia đường là tiệm may túi xách, yên xe, giả da và vải bạt. Trưa nào Bưởi cũng mang sang tiệm may một suất cơm phần và một đĩa cơm thêm, ghi sổ, tới tháng thanh toán một lần. Chủ cửa hàng may tên là Thưởng. Căn nhà một trệt, hai lầu, rộng rinh mà chỉ có hai cha con ở. Đứa con gái của anh Thưởng mới có ba bốn tuổi, xinh xắn đáng yêu. Vợ Thưởng bị nạn hôm về thăm gia đình trên Đà Lạt. Cái xe đò Sài Gòn – Đà Lạt đang bò lên đèo, gặp đoàn xe quân sự của Mỹ chạy như điên. Người tài xế cuống cuồng đánh tay lái né tránh, không may gặp khúc cua đường sụt lở, cái xe đò lộn nhào lăn xuống vực. Vợ Thưởng chết đã vài năm, anh vẫn ở vậy, hàng ngày may đồ treo trước cửa bán lai rai.

Ở Sài Gòn được vài tháng, cái bụng bầu của Bưởi đã lùm lùm. Ai hỏi cha đứa nhỏ trong bụng đâu? Bưởi trả lời tỉnh queo: “Lính, chết trận rồi”.

Hàng ngày gặp nhau, Thưởng đắm đuối nhìn Bưởi. Bưởi cũng thấy cảm mến người đàn ông hiền lành. Năm ấy Thưởng đã 38 tuổi, hơn Bưởi hẳn 20 tuổi đầu. Nhưng tạng của Thưởng là người trẻ lâu. Mọi người vun vào, Bưởi bằng lòng làm vợ của Thưởng.

Bưởi cũng nghĩ nhiều, không biết số phận Hai Đen ra sao? Mịt mờ quá.

Nhà dì cũng chật chội, lại đông con. Ông chú dượng là tay ăn chơi, mắt nhìn Bưởi hau háu, ở nhờ mãi sao được. Sanh con ra rồi lấy gì nuôi con đây? Được Thưởng thương yêu là phước rồi. Đàn bà 12 bến nước, sa cơ lỡ bước, có được nơi yên thân là quý.

Nghĩ cho cùng, đời Bưởi cũng có cái hên. Thưởng thương yêu Bưởi thiệt lòng. Đã yêu mẹ lại thương cả con. Cái tên Phước, đứa con riêng của Bưởi là do Thưởng đặt. Thưởng bảo:

- Anh thật có phước lấy được một mỹ nhân như em làm vợ. Em đã xinh đẹp lại hiền thục, nết na, anh còn cầu mong gì hơn.

Được Thưởng cưu mang, cái ơn này Bưởi phải đáp đền. Con người ta cũng lạ, từ cảm mến, dần dần rồi đến yêu thương thiệt tình.

Hồi chộn rộn sắp giải phóng, ba má Thưởng hối thúc di tản. Bưởi kiên quyết không đi. Bưởi hiểu cách mạng và Việt cộng hơn Thưởng. Nhờ vậy mà gia đình của Bưởi không chết mất xác ngoài khơi. Gia đình ba má và mấy anh chị em của Thưởng cố di tản, chẳng biết sống chết ra sao mà mấy chục năm biệt vô âm tín. Vài năm sau Bưởi sanh cho Thưởng một đứa con trai, đặt tên là Lộc. Thưởng rất vui mừng hả hê.

Bưởi ra chợ, lân la dọ hỏi mấy sạp tạp hóa, họ ưng nhận hàng, hai bên cùng có lợi. Thưởng ra sức may các loại túi xách, cặp da, cả cặp học sinh. Từ chỗ vừa may, vừa bán lai rai ở nhà, nhiều lúc ế ẩm, buồn hiu. Bưởi bỏ mối cho nhiều sạp, nhiều chợ, một mình Thưởng may không xuể. Khách hàng la rầm trời. Bưởi lại kêu đám thanh niên đang thất nghiệp trong khu phố đến để Thưởng truyền nghề. Họ trở thành thợ của nhà Bưởi. Có vốn rồi Bưởi sắm thêm máy móc. Cơ sở may cứ dần dần phát triển lên.

Gặp thời mở cửa, sẵn có ít vốn Bưởi mua được 500m2 đất ngoại thành, cất cái xưởng may 200m2. Gặp cơn sốt nhà đất Bưởi bán đi 200m2. Có tiền lại mua nhà đất, có lời lại bán, mấy năm ấy tiền tỷ đổ vô nhà Bưởi là thường.

Bưởi lo cho con lớn của Thưởng học qua đại học, ra làm cô giáo. Bây giờ Ánh Tuyết đã có chồng con đề huề. Thằng Phước thi trượt đại học, lăn vào trông coi xưởng may. Đầu óc thanh niên nhanh nhạy, nó phát triển may cả valy các kiểu. Tay nghề của Phước càng ngày càng cao. Thằng Lộc học ngành nha khoa, bây giờ mở phòng răng ở căn nhà cũ dưới phố. Chị cũng mới lo cưới vợ cho nó. Thế là Bưởi đã lo cho các con khá chu toàn.

Chỉ tiếc nỗi anh Thưởng ra đi sớm quá, mới ngoài 60 tuổi đã mất.

Lúc bệnh nặng Thưởng để lại di chúc: “Căn nhà trên đường Cách Mạng Tháng Tám là tài sản chung của ba con Ánh Tuyết, Trần Hữu Phước, Trần Hữu Lộc. Còn nhà xưởng ở vùng An Sương nay thuộc quận 12 là công lao, mồ hôi, nước mắt của vợ tôi là Phạm Thị Bưởi, do vợ tôi toàn quyền quyết định”. Thưởng không phân biệt con chung, con riêng nên Bưởi càng thương, càng kính trọng chồng.

Mới đó mà Thưởng đã mất hơn 3 năm rồi. Ba năm Bưởi vò võ đơn chiếc. Tháng trước mới nhờ các nhà sư cúng xả tang, bây giờ dẫu có đi bước nữa, Bưởi cũng không mắc lỗi với vong linh của Thưởng.

*
Sau chuyến cả ba mẹ con về quê vài ngày, cố tình chèo kéo tính rước Hai Đen lên thành phố mà không được. Hai Đen nhất quyết không đi. Thanh Loan nói với mẹ chồng:

- Má ơi, tội lắm mấy đêm nay anh Phước không ngủ được. Đêm khuya con đã ngủ được một giấc, quờ tay qua bên chẳng thấy chồng đâu. Con dụi mắt, thì ra ảnh đang ngồi trầm ngâm hút thuốc, ly bia trước mặt, nước mắt chảy ròng. Con ra ngồi cạnh dỗ dành, ảnh nói:

- Thương ba quá, 28 năm trời ba chịu oan ức, thui thủi cô đơn. Cậu Út bảo nhiều người đàn bà thương ba hiền lành, muốn sống chung mà ba không chịu. Sau giải phóng gần 2 năm ba mới được ra khỏi trại cải tạo, người ta giao về cho địa phương quản thúc, đi đâu vài ngày cũng phải xin phép. Nhà có năm sáu công ruộng từ đời ông cố, ông sơ khai phá, bị xã lấy ra chia cho người khác. Xuống xã, lên huyện, ba đi mỏi giò cũng không xin lại được, người ta lại nói, ruộng đất rồi đây cũng do hợp tác quản lý hết. Vậy là ba trắng tay. Lấy vợ tất nhiên phải sanh ra một đàn con. Lấy gì đổ vô miệng chúng đây. Dân quê mình, cơm cày, cá kiếm, không có miếng ruộng trồng lúa, đàn con đói khổ, chắc đi ăn mày. Nheo nhóc lớn lên trong nghèo khó chúng lại thành những tên đầu trộm đuôi cướp, tội cho xã hội. Mùa khô xuống sông kiếm tôm, kiếm cá, mùa mưa lội đồng mò ốc bắt cua, đổi lấy gạo ăn. Kiếm nhiều xài nhiều, kiếm được ít xài ít, mình ên sống nhẹ tênh.

Mấy năm nay ba làm mướn cho trại nuôi tôm. Suốt ngày đêm chăm bẵm cho mấy đầm tôm. Nhìn cái nồi nhỏ nấu bếp củi đen thùi lùi, có vài chén cơm nguội, mấy con cá lòng tong kho ớt, một dúm rau muống luộc, cái cảnh nấu một bữa ăn hai, trong cái lều trống huơ trống hoắc, má khóc nấc lên. Bả chỉ nói được một câu:

- Em có lỗi với anh! Bây giờ em mới đưa được con trai anh về cho ba con biết nhau.

Ba lại còn nói câu này:

- Thời nay người ta tìm đến những nơi giầu sang phú quý, nhận họ hàng, cha chú. Các người về nhận, tôi nghèo kiết xác, hỏi có ích gì.

Câu nói như xát muối, xát ớt vô lòng người. Nhìn kỹ mới thấy ánh mắt của ba là ánh mắt của người nhân hậu và trung thực.

Bưởi bảo các con:

- Thôi, trời không chịu đất, thì đất phải chịu trời. Nghĩ kỹ rồi, chuyến này má về quê, vừa chăm sóc được ngoại, lại chăm sóc được ba con.

Vợ Phước nhìn má chồng cười tủm tỉm:

- Má còn trẻ, lại đẹp mặn mà, nhiều người ba lăm, bốn mươi còn thua xa. Coi bộ ba để râu ria xồm xoàm, trông thế chứ người còn săn chắc, khỏe lắm, làm tới đi má. Má cố dụ ba lên Sài Gòn sớm ngày nào hay ngày ấy. Anh Phước thèm được chăm sóc, bù đắp cho những năm tháng một mình ba thui thủi.

Tận sâu kín trong lòng Bưởi biết rất rõ Hai Đen là người đã giữ trọn những lời thề thiêng liêng.

Nguyễn Mạnh Cường
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 37

Ý Kiến bạn đọc