Truyện ngắn

Người giữ chữ Tâm

 

Bình minh lên sao mà huyền diệu thế! Chiếc áo choàng màu đen thẫm của bầu trời được cuốn phăng đi nhường chỗ cho màu của lòng đỏ trứng gà. Rồi ông mặt trời từ từ vén những đám mây trắng như váng sữa hiện ra tựa một cỗ xe khổng lồ với vòng hào quang bao quanh. Thứ ánh sáng huyễn hoặc ấy khiến cho bầu trời trở nên tinh khôi hơn.

Một làn gió mồ côi nhẹ lướt qua mặt đất, ve vuốt cánh hoa ngoài vườn. Gió làm rộn lên tiếng sột soạt của lá rụng, gió mang hương hoa dịu ngọt ấy phủ lên mái tóc bà Thương. Mái tóc phủ một màu nắng non. Sương gió cuộc đời đã nhuộm mái tóc bà một màu bạc trắng vậy mà ông Tình vẫn thấy mái tóc ấy đẹp như thời bà còn con gái. Ông Tình dìu bà đến bên chiếc ghế đá đặt nơi góc bờ ao. Một vài sợi tóc mai của bà chợt mơn man lên gò má ông khiến trái tim ông trào dâng những đợt sóng ngọt ngào. Cả khu vườn tràn đầy những tia nắng lung linh xuyên qua kẽ lá. Nắng mới lên có nhiều vitamin D rất tốt cho sức khỏe của bà.

Sáng nào ông cũng dậy thật sớm để bung một nồi đậu đen với muối hay nấu nồi cháo gạo lứt. Ông tìm hiểu rất kỹ, đậu đen bổ thận còn vỏ mỏng gạo lứt thì rất giàu chất dinh dưỡng. Cô bé Mai hàng xóm đứng trên cành khế thấy ông đơm cháo cho bà phải thốt lên: “Ông chăm bà thật chu đáo, bố cháu còn không chăm mẹ được như thế!”. Ông cười hiền hậu: “Cuộc đời bà vất vả nhiều rồi giờ ông vì tình đồng chí mà chăm sóc cho bà được chút ít thôi cháu!”. Bé Mai reo lên: “Ôi bà là đồng chí của ông ạ?”. Bà Thương ngước đôi mắt mờ đục đã không còn thấy ánh sáng mặt trời, chớp chớp: “Ừ, ông là đội trưởng đội du kích của bà”. Gió cứ thổi vi vu điều gì không biết nhưng ông nghe lòng ấm lại bởi câu nói của bà. Tình đồng chí cao đẹp lớp trẻ bây giờ sao hiểu được. Dòng ký ức năm xưa chợt ùa về, chớp mắt đã mấy chục năm.

Ngày đó, vùng biển quê ông còn hoang sơ lắm. Nhà bà sát cạnh nhà ông cách một hàng râm bụt hoa đỏ chói và cùng nằm trên gò đất cao như cái mai rùa nổi lên giữa hồ nước mênh mông. Cả hai nhà cùng quay mặt về hướng Nam, bốn bề cả gió. Trời tháng 10 mà gió cứ thông thốc rền rĩ. Dân làng ông ngoài việc đồng áng còn có nghề phụ là đi biển. Bòn bới đắp đổi qua ngày bằng những con don, con vọp. Trong một đêm giông dữ dội thuyền lật, vậy là bà Thương mồ côi cha mẹ từ năm 8 tuổi. Bà được người chú ruột đem về nuôi. Tiếng là chú nuôi nhưng chú có tới 4 người con lít nhít trứng gà, trứng vịt nên 13 tuổi bà đã là trụ cột chính trong gia đình. Mọi việc trong nhà đều dồn lên đôi vai gầy yếu của bà. Tinh mơ bà đã cơm nắm muối vừng xuống biển. Từ mùa thu nối sang mùa đông, biển dày những nốt chân bà. Chỗ lạch nước nông sâu dễ lội nào bà biết hết.

Cũng may là người chú vốn có tính hiếu học nên tìm thầy để bà được học chữ khai Tâm đặng nối cái nghiệp mấy đời con nhà gia giáo. Ấy thế là ông với bà học cùng một thầy dù ông hơn bà mấy tuổi. Nét chữ đầu tiên ông và bà Thương cùng học là chữ Tâm. Một chữ Tâm chứa bao điều huyền diệu. Thoạt nhìn phía trên chữ Tâm giống hình trái tim gắn hai cánh nhỏ. Phía dưới từa tựa vầng trăng khuyết với hai hành tinh nhỏ nương náu vầng trăng. Hai người ngồi nghe như nuốt lấy lời thầy: “Tâm là tim. Ta giữ trái tim trong sáng yêu thương, có yêu thương mới làm ra hạnh phúc. Tâm còn là ngôi sao trong nhị thập bát tú. Cứ mỗi lần gặp nguy biến hãy đặt tay lên ngực trái của mình ta sẽ thấy trái tim mình tràn ngập sự lương thiện. Mà càng lương thiện, càng phải nhớ đến gốc rễ, cội nguồn”. Bà là người ham học hỏi lại sáng dạ. Nhiều lúc cả lớp phải thán phục vì những câu hỏi hết sức sáng tạo của bà: “Thế ông tổ của làng ta tên gì ạ?”. Thầy mỉm cười trước câu hỏi hết sức thú vị: “Ba vị tổ của làng ta tên là Nhân, Kỳ, Đỗ. Vì thế người vốn gốc từ làng ta không gọi là kỳ lưng mà là cờ lưng. Không gọi là hạt đỗ mà là hạt đậu để tránh gọi tên húy của các ngài. Cũng không ai người làng ta đặt tên con bằng ba cái tên ấy”.

So-567--Nguoi-dan-ba-trong-chien-tranh---Pham-Quang-Vinh 
Người đàn bà trong chiến tranh – bột màu – Phạm Quang Vinh.

Từ ngày cùng học một lớp, lâu dần thành quen ông thường cơm nắm muối vừng sang rủ bà đi bắt cua gom. Trời tháng 6 nóng hừng hực như cái chảo lửa. Những cây sú, cây vẹt đứng lầm lũi như thấm thía phận cây chông chênh trong gió trời. Vũng nước nào cũng nóng rẫy như được đun sôi và một làn hơi trắng đục bốc lên từ đó. Mấy con cua chắc nịch như gạch phồng lổm ngổm bò từ vũng nước lên. Ông và Thương cùng hăm hở đuổi theo. Hai cái bóng đổ dài trên cát mịn trông giống hai con thằn lằn khổng lồ khiến lũ cua chạy lấy chạy để. Quái cua bò ngang mà chạy nhanh như gió. Rồi chúng hối hả rúc vào cát, cặp càng to khỏe dùng dùng như phụ nữ đang sàng gạo. Đôi mắt cua đen nhánh, nhỏ xíu lồi hẳn lên như cần ăng-ten bắt sóng. Ông và bà Thương cùng chụp vào cua, bàn tay ông ấp lên tay bà, những ngón tay thon dài để im trong tay ông. “Phụ nữ mà ngón tay thon dài thường đảm đang nhưng cũng rất đa tình!”. Ông nhớ có lần mẹ ông nhìn tay Thương nói thế. Ông không hiểu lời mẹ nói có nghĩa gì nhưng ông chỉ thấy bàn tay ấy đẹp. Ông chợt thấy trái tim mình đập loạn nhịp và những con sóng ngọt ngào ùa đến bủa vây khiến ông thấy mình như say sóng. Từ cơ thể tròn trịa của bà toát ra mùi biển mặn mòi. Cho đến hết đời trai ông vẫn chỉ thấy đấy là mùi hương ông thích nhất. Ông thấy bà sao mà đẹp, một vẻ đẹp dữ dội của con gái miền biển. Gió xoáy loạn lên như một vị thần hung dữ làm rối những sợi tóc mai chẻ ngọn, xơ cứng vì gió biển của bà. Hai má bà đỏ mọng lên, phúng phính như hai trái đào. Ông chợt thấy yêu mê mẩn làn da bánh mật bắt nắng toát lên vẻ chịu thương chịu khó. Ông không hề biết rằng tình yêu chợt đến ấy lại kéo dài suốt cuộc đời ông làm lòng ông rúng động những xót thương. Bắt gặp cái nhìn đăm đăm của ông, bà bối rối quay đi, nói nhỏ: “Mùa này gió biển sao mà dữ dội!”. Ồ, con gái miền biển có cái nhìn kín đáo nhưng trái tim yêu, ghét mãnh liệt dâng trào như sóng biển.

Rồi cả hai cùng tham gia hoạt động cứu nước. Ông là đội trưởng đội du kích của bà. Những đêm trăng cả hai cùng đi tuần tra trên biển. Sóng biển đánh giạt vào bờ đài cát-xét do bọn Mỹ, Ngụy thả. Đài cát-xét bọn ông mang đi tiêu hủy còn mảnh bom, vỏ đạn ông tạo thành bình hoa, thành cốc nước. Bọn địch nghĩ là vũ khí của chúng tối tân nhưng trí tuệ và tình đoàn kết của du kích còn cao hơn, bọn ông ôm súng để đánh lại chúng. “Giữ làng, giữ nước” là khẩu hiệu được đề ra. Cùng với các khẩu hiệu thì phong trào văn nghệ nổ ra sôi nổi. Đội chèo của làng Hổ được thành lập. Trời sinh ra bà đã đẹp lại ban cho bà giọng hát chèo ngọt lịm. Bà thường đóng vai nữ du kích nhỏ tay không bắt giặc. Đêm đêm dưới ánh trăng sáng vòm ngực trinh nữ phập phồng trong chiếc yếm đào khiến lòng ông xốn xang. Có lẽ tình yêu của ông sẽ được đáp trả nếu như trên không cử ông Hùng về dạy bổ túc cho dân làng. Ông Hùng người cao ráo, trắng trẻo, gia đình lại khá giả. Ông Hùng chưa từng biết đến cảnh bữa sáng nhịn, bữa trưa cơm độn khoai, sắn. Bữa tối mấy chị em chia nhau cốc ngô rang. Ăn xong tu ừng ực bát nước cho bụng lưng lửng để dễ ngủ.

Thương là thế, yêu là thế, mà khi ông ngỏ lời bà Thương chỉ bối rối nói được một câu: “Em lỡ yêu người khác mất rồi!”. Người khác ở đây chính là Hùng, ông biết. Đau đớn, thất vọng và cả căm ghét. Ghét chính ghét bản thân vì yêu gì yêu sâu, yêu đậm. Ghét cả sự vô tư của Thương. Ghét tình cảm của bà như con sóng xô vào bờ rồi vội vã biến mất. Còn tình cảm của ông dành cho Thương thì dồn dập mãi không tan. Ấy ông lại ghét lây sang cả Hùng. Yêu bà quá không nỡ ghét thì ghét người bà yêu. Ông cũng là con người mà, đâu phải thánh thần gì đâu mà đủ cao thượng, bao dung. Lại còn sĩ diện của ông nữa chứ?

Cho đến ngày cưới của bà, buổi chiều nhìn ông Hùng hì hục đào hố trồng cây bưởi đào mới chiết dưới cái nắng như đổ lửa thì ông nhận ra rằng tình yêu của Hùng dành cho Thương có lẽ còn nhiều hơn ông, tình yêu ấy thể hiện bằng việc làm thay cho lời nói. Ông thấy mừng cho bà có đôi mắt tinh tường.

Tối đó ra bờ sông ngồi ngắm tua rua bảy mọc mà lòng ông trĩu nặng một nỗi buồn da diết. Như mọi năm tua rua bảy là bảy ngôi sao sáng chói nhất bầu trời chụm lại như bảy tiên ông đang đàm đạo việc thiên cơ. Năm nay tua rua bảy sáng chói báo hiệu một vụ mùa bội thu đáng lẽ ông phải mừng cho người nông dân lắm mà sao lòng ông chẳng thể nào vui lên được.

Tháng 10 năm đó quê ông náo nức chuyện tổng động viên thanh niên ra tiền tuyến. Ông Tình và trai tráng trong làng hăng hái đã đành ông Hùng cũng viết thư xung phong nhập ngũ. Ông Tình được điều về đội đặc công. Mỗi khi màn đêm buông xuống dưới ánh trăng mờ ảo đội đặc công lại men theo hàng gai tua tủa của ấp chiến lược. Đôi khi dầm mình dưới sông nghe rõ cả tiếng cá quẫy bên mình. Ở chiến trường mà lòng ông vẫn hướng về Thương lòng như lửa đốt. Không biết bà ấy một mình bươn chải với cuộc sống khó khăn như thế nào?

Một lần đội của ông trúng ổ phục kích của địch. Địch gài mìn, trái mìn là những viên bi nhỏ như viên bi đá. Mìn nổ, những viên bi phóng theo hình phễu. Nghe tiếng mìn đồng thời ông cũng nghe nhói đau ở phần hạ bộ và xương đùi. Sau mấy tháng ông rời trại an dưỡng về làng với một chân bị cưa vì hoại tử. Mọi người chỉ biết ông đi bằng chân giả chứ không hề biết ông không thể là một người đàn ông trọn vẹn. Trở về làng ông mới biết ông Hùng đã hi sinh ngoài mặt trận.

Đế quốc Mỹ bắn pháo sáng để thả bom nhưng vì không nhìn rõ nên chỗ nào chúng cũng thả bom. Đau thương nối tiếp, nỗi đau tin chồng hy sinh chưa nguôi thì bà nhận thêm tin dữ. Chú thím bà trong lúc đào hầm ngoài vườn chuối sau nhà bị trúng bom, thịt bắn tung tóe khắp nơi phải dùng đũa để gắp.

Dãi dầu mấy phen sóng gió như vậy ông Tình tưởng bà phải đột qụy, chả biết nhờ sức mạnh nào bà vẫn gắng gượng vượt qua. Có lẽ nhờ Tùng đứa con của ông Hùng để lại nên bà mới kiên cường được như vậy. Ông thấy bà gầy rộc đi như cây sú cháy nắng khô quắt lại. Những đau thương nối tiếp thôi đúc cho bà trở nên cứng cỏi như viên đá cuội, nung không chảy mà đập không vỡ. Ngày ngày địu bé Hoàng Tùng trên lưng đi làm cứ như con nhện ôm khư khư bọc trứng mà tảo tần khuya sớm. Bao nhiêu hố bom được bà gánh đất lấp đầy để vỡ hoang. Gặp mùa mưa bão, lúa khắp cánh đồng đổ rạp như trải chiếu mà lúa hom của bà vẫn ngoi cao như hoa lau phe phẩy trong gió.

Vất vả mãi rồi cũng đến ngày thằng Tùng trúng tuyển vào trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Không hiểu bà sinh vào giờ gì mà số phận long đong theo bà mãi không thôi. Chưa kịp mừng con đỗ thì chiếc xe chở bà lên thăm nơi con ở bị trẻ con nghịch ném đá. Mảnh kính vỡ văng vào mắt bà. Xuất viện dù mắt vẫn đau chói nhưng bà cứ chủ quan lần mò sớm tối rồi bôi qua quýt bằng thuốc mỡ Tetracyclin. Cho đến ngày ông nhận ra bà cứ rờ rẫm như chuột phải khói hun thì cũng là lúc đôi mắt bà vĩnh viễn mất đi ánh sáng.

Sống giữa gió trời bao năm nên ông cũng quen dần với cái nghiệt ngã của thiên nhiên. Ông xin đi coi đầm ngao để giúp bà lấy tiền nuôi thằng Tùng ăn học. Ngày ngày ngồi buồn nghe tiếng sóng vỗ nhiều đến nỗi ông nhận ra được đâu là tiếng sóng yêu thương nhẹ ru bờ cát trắng, đâu là tiếng sóng giận dữ ngoài biển khơi. Lúc đầu đưa tiền bà Thương cũng áy náy lắm nhưng ông nói tiền của anh em trong đội du kích giúp bà nuôi thằng Tùng ăn học sau làm ăn được thằng Tùng nó trả thì bà cũng yên tâm mà nhận.

Hàng xóm cũng có đôi lời dị nghị nhưng ông đáp lại bằng thái độ điềm đạm: “Chúng ta đều là những con người có giáo dục!”. Sau đó ông đặt tay lên ngực trái của mình phác họa một chữ Tâm. Đời người nhiều khi gặp nguy biến chỉ cần trong tim giữ một chữ Tâm thì mọi khó khăn sẽ vượt qua hết. Ông nghĩ rằng mình phải thông minh và lương thiện hơn trong cuộc sống này. Nhiều lúc ông tự hỏi: “Nếu mình sống thiếu biển và không có bà ấy để giúp đỡ thì không biết cuộc sống của mình sẽ như thế nào nhỉ?”. Hỏi rồi ông tự trả lời bằng nụ cười hiền lành, phóng khoáng.

Một chiều trước ngày Hội người cao tuổi, bà trải qua cuộc phẫu thuật ghép giác mạc. Đến lúc đó bà mới hay tin ông đã qua đời vì căn bệnh ung thư, ông đã hiến giác mạc và người được chỉ định hiến tặng là bà. Ca phẫu thuật thành công mỹ mãn. Đôi mắt bà đã lấy lại được ánh sáng. Bà lại được ngắm bình minh trên biển. Tháng tháng bà đều đến trước mộ ông đặt bó hoa hồng vàng loài hoa tượng trưng cho tình đồng chí ấm áp và chân thành. Bà thầm cảm phục nghĩa cử cao đẹp và đầy tính nhân văn của ông. Tình nghĩa ấy sẽ giúp bà yên lòng vượt qua khó khăn trong nửa đời về già. Nghĩ đến đó bà nghe lòng mình như có gió thổi, mát rượi. Bà thì thầm trước mộ ông: “Chiến tranh chỉ gieo rắc chết chóc và đau thương nhưng chúng ta luôn vượt qua vì chúng ta biết chia sẻ và yêu thương nhau”.

Sông Quê
(Tỉnh Thái Bình)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 567

Ý Kiến bạn đọc