Giới thiệu sách

Người đàn ông rì rầm kể chuyện

(Đọc Người đàn ông kể chuyện của Văn Định)

Anh kể chuyện đời, chuyện người, rồi kể luôn cả chuyện mình.

Trong ngôi nhà Ê Đê giống con thuyền, dài như một tiếng chiêng ngân, người kể khan có giọng điệu thật riêng. Người nói thơ Vân Tiên theo nhịp võng chao nghiêng giữa vườn dừa Nam bộ có ngữ điệu không thể trộn lẫn. So sánh thật khập khiễng. Nhưng giọng kể của Văn Định cũng khó mà giống với người nào.

Cái Nước quê hương anh nằm giữa bán đảo Cà Mau. Chẳng biết khi nào xứ Cái Thủy xưa được đổi tên, kêu thuần Việt là Cái Nước. Chắc ngó đâu cũng thấy nước, day qua hướng nào cũng chạm mặt với sông. Lạ là những tên sông chỉ nghe một lần đã thấy vấn vương thương nhớ: Sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Cái Tàu, sông Gành Hào… Không biết ghe chiếu Cà Mau năm xưa trước khi lên tận Ngã Bảy Phụng Hiệp – mang theo đôi chiếu dệt gửi người thương mà cuộc tình vẫn không thành – đã ngược con sông nào…

Sông nước Cà Mau chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Đông và vịnh Thái Lan, xuống lên cùng nhịp thở. Độ mặn mòi cũng vì vậy mà đậm lợt theo mùa.

Em thương anh nên đành xa xứ
Xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau…

Vì Cà Mau là vùng đất được khẩn hoang sau cùng, là chặng chót bước chân ông cha mang gươm mở cõi trời Nam, nên chắc chỉ có tiếng gọi trái tim mới khiến người đa tình bỏ miệt vườn trù phú, về tận vùng đất cuối trời mà trao thân gửi phận.

Tân Hưng Tây của Văn Định nằm lọt thỏm trong vùng phù sa không được bồi đắp. Đâu đó đất chua phèn để lại dấu ấn dễ nhận trên hình hài con người. Nhưng bù lại, vì giữ được nước ngọt nên phần lớn đất đai cho hai vụ lúa trĩu bông. Cánh đồng bát ngát bay mỏi cánh cò đã đi vào tâm khảm anh, quẩn quanh không rời tận cho tới khi những câu chuyện được kể.

Người đàn ông ấy kể chuyện đời.

Đời trong câu chuyện anh kể cũng chẳng xa xôi diệu vợi gì.

Đó là miền Tây Nam bộ, nơi mẹ cha chôn cho anh cọng rún, nơi móng chân anh cũng thúi mủn vì đất chua phèn, nơi con bìm bịp kêu chiều rã họng, và nơi xuôi ngược xuồng ghe với giọng người thao thiết:

Xuống trúm, xuống câu, con kinh sâu động nước
Chiều xuống quê tui lũ trẻ dắt trâu dzìa…

Đời anh kể cũng chẳng bao la rộng dài gì.

Đó là thời kỳ Nam bộ, nhất là miền Lục tỉnh, vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng không bao lâu. Khó khăn gian khổ còn ngổn ngang. Làng xóm chưa hết tiêu điều. Bom đạn riết đâm quen. Hòa bình mấy bữa còn lạ. Song có lẽ lạ nhất là sống trên đất lúa, đất cá mà nhiều khi kiếm ăn tới vã mồ hôi. Lạ nữa là thời cuộc đổi thì đây đó lòng người cũng đổi… sao sao đó. 

Nha-van-Van-Dinh-1
Nhà văn Văn Định

Thế là Văn Định quay ra kể chuyện người.

Người trong câu chuyện của anh phần lớn là những người dân quê thứ thiệt, theo tất tần tật nghĩa.

“Người trong xóm lấy nhân nghĩa đối nhau, trọng danh dự ở đời. Lâu lắm cưới gả một lần mới có dịp gặp đông đủ. Người già nhậu lai rai, nói chữ, bình thơ Lục Vân Tiên; kẻ có tuổi bàn về thời cuộc, tính chuyện làm ăn…” (Bên kia sông).

Những điều bình dị ấy được gọi là văn hóa.

Vì bản sắc của văn hóa, nhiều đời dân tộc chấp nhận trả bằng máu.

Cũng vì trọng danh dự ở đời, người dân miệt vườn rạch ròi ân oán, lại cũng hồn nhiên nhận về mình thiệt thòi, mất mát.

Điển hình nhất là người phụ nữ.

Cũng vì Văn Định kể rất nhiều về phụ nữ.

Nếu không tính tới chuyện phụ nữ bước vô hay chỉ đi ngang cuộc đời anh, thì dù có cầu mong “chiến tranh không có gương mặt đàn bà” thì nó vẫn có, mà có rất nhiều là khác.

Đó là người vợ trẻ có chồng là du kích hy sinh. Giọng kể Văn Định trầm như tiếng nấc:

“Ba Vân sinh con trai đặt tên Trường Hận. Hận là hận thù chớ gì. Tội nghiệp! Thằng Trường Hận nó giống Năm Chánh như cắt mặt để qua… Ba Vân thêu trên tấm khăn đắp cho con:

Hận quân Mỹ ngụy giết cha
Lớn lên con trả thù nhà, nghe con!

(Đất quê).

Thương ai thương đành đoạn vậy.

Thương đành đoạn nên Lành (Lời thề không thiêng) chờ người yêu tới 7 năm, đâu biết anh đã đổi tên, đổi cả lòng, vợ đẹp nhà cao. Một mực chờ nên chỉ khi đoan chắc người yêu hy sinh, cô mới lấy chồng. Rồi tới khi “người ta” về chơi, như chỉ tò mò về coi người xưa cảnh cũ ra sao, mình lại thấy có lỗi vì đã không chờ cố công chút nữa. Sự thật được giấu nhẹm trong dằn vặt đã làm đức hy sinh trở nên bẽ bàng, xa xót…

Cũng phận đàn bà, Lý (Về nơi ấy) điên dại khi hay tin chồng hy sinh rồi đứa con chết vì pháo. Mãi rồi cũng tới khi chị vui lại, đón nhận tình yêu mới. Nhưng rồi người chồng trở về, thương tích đầy mình. Chị trở lại làm vợ dường như cũng đương nhiên phải vậy. Cả một đời người đàn bà, chỉ biết cho đi mà chẳng thấy nhận về.

Trong câu chuyện Văn Định kể, cũng gần như đủ mặt người. Những người nông dân chơn chất, rặt Nam bộ – tất nhiên rồi – chiếm đa số.

Khách tới nhà, nhất là người đi xa lâu ngày, việc đầu tiên là nhóm lửa, bắt con vịt cồ nấu cháo. Sau là kể đủ thứ chuyện trong làng ngoài xóm, trên tổng dưới xã. Chuyện gì cũng sinh động vô cùng, cũng khóc cười gang tấc, cũng đầy ắp tình người. Rồi khi chia tay, thế nào khách cũng phải mang lủ khủ đủ thứ quà quê. Gia chủ dẫu phải nhịn miệng cũng hả hê, toại nguyện… Cái “công thức” tưởng như quá quen thuộc ấy lại chỉ Nam bộ mới nhiều, mới thường xuyên như cơm bữa, mới trở thành nếp văn hóa đặc trưng, bất di bất dịch và… bất chấp thời cuộc.

Có người không những thành nhân chứng lịch sử, nhân chứng cuộc chiến tranh như bao người khác, mà còn trở thành pho sử sống, lưu giữ hầu như tất cả chuyện người và việc. Đó là tiềm thức lúc nào cũng như mới xảy ra hôm qua của ông Hai trong Đất quê.

Không ra tỉnh (hay ra chợ, theo lối nói của dân trong xóm) sống với cháu con để được phụng dưỡng, bởi ông đau đáu về từng phần mộ trong cái nghĩa trang nhỏ, nơi ông rành tất cả tánh tình, chiến công và cái ngày ngã xuống của những du kích nằm đây.

Tới tuổi nào đó, người ta sống với quá khứ nhiều hơn. Huống chi quá khứ ấy lại nhức nhối khôn nguôi, càng ngày càng đong đầy bởi chính hiện tại và có khi cả tương lai nữa, vẫn hằn in biết bao dấu vết, thậm chí cả hệ lụy của ngày xưa.

Hòa bình rồi, ấy là giang sơn đã đổi. Dẫu không dễ, thì bản tính con người cũng khó chuyển hơn nhiều.

Bia-sach-Nguoi-dan-ong-de-chuyen-1

Đó là tâm trạng khó chịu, bức bối tới giận dữ của ông Sáu Tỏ khi Chiếc cầu đang được thi công. Cầu bắc xong, sẽ chẳng ai cần đi đò của ông nữa. Chuyện bán đò lên bờ chỉ là thời gian, nhanh chậm theo tiến độ thi công cây cầu. Cái tôi, quyền lợi cá nhân nhiều khi lấn át cái chung là vậy.

Rồi khi cuộc sống khó khăn, người ta bỗng trở thành khôn lanh, hay “năng động” cũng được. Gạo thóc, thực phẩm nếu không cất kỹ, dự trữ tối đa (Đám cưới thằng Trạng) thì cũng được tuồn vào thành phố bằng mọi phương tiện, qua mặt “nhà chức trách” bằng mọi cách (Trên chuyến xe). Phần lớn là những mánh lới vừa khôn ngoan, vừa ngây ngô. Ai bảo rằng trong số họ, tuyệt đối không có những người trong chiến tranh còn ủng hộ cách mạng, nuôi giấu chiến sĩ?

Rồi thì những chuyện khí khái nữa, cũng được Văn Định hả hê kể lại.

Tôi bắn ông vỡ sọ! – Hai Lắm rút súng ra chĩa ngay ngực ông Tám Khá – Ông chửi chính quyền, chửi cách mạng…

- Nè, ngực nè, bắn đi! Tao không chửi Đảng với chính quyền. Đảng với chính quyền không có làm bậy. Chỉ có mầy, thằng Lắm! Mầy mới làm bậy…!

(Trở gió)

Chắc chắn khi còn chiến tranh, không ai nghĩ chuyện này lại xảy ra. Tám Khá có thể mang tánh mạng cả gia đình ra để bảo vệ cán bộ cách mạng. Nhưng ông cũng không ngán sợ khi đứng trước mũi súng của họ khi đã không còn đạn bom.

Người dân là vậy. Dân Nam là vậy. Sống lấy nghĩa nhơn, khẳng khái làm trọng. Cũng hết lòng vì cách mạng, họ mới dám thế. “Hồi đánh Mỹ vào sống ra chết, ăn uống cực khổ. Bây giờ coi cũng chẳng sướng gì hơn, làm việc mà. Lo cho dân cho nước thì phải hy sinh”

(Đất quê).

Một câu đầy “chính trị”. Nhưng người dân nói nghe vẫn ngọt. Họ giận để mà thương. Vì lòng dân là vậy. Có giận những cán bộ biến chất, cũng chỉ thẳng mặt kêu thẳng tên, để rồi trở gió chớ không trở cờ.

Người đàn ông ấy vẫn rì rầm kể chuyện…

Kể chuyện người miên man, rồi Văn Định không quên kể chuyện mình…

Tánh tình Văn Định khá ngang tàng, mang đậm nét của người dân khẩn hoang vùng đất mới: “Ra đi gặp vịt cũng lùa / Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”. Cuộc đời anh nhiều khúc quanh vừa ly kỳ, vừa đớn đau, cũng lại vừa quyết liệt.

Chuyện của anh cũng đủ cả vị cay đắng mặn ngọt. Anh bảo, truyện Bữa cơm Tết hoàn toàn là chuyện người thật việc thật đấy. Cơm Tết mà nào có trọn vẹn. Những trận đánh nối tiếp trận đánh. Anh cùng đồng đội dũng cảm quần nhau với giặc, phải chứng kiến bạn bè và người yêu thương ngã xuống hay bị thương đau đớn.

Lại nói về người yêu thương. Trong chiến tranh, những mối tình sâu nặng, hay cảm tình thoáng qua… đều làm cho cuộc đời chiến sĩ thêm sức mạnh, thi vị, nhiều khi luôn cả đắng lòng.

“Suốt mấy năm trời hình ảnh của Lành đã khiến tôi coi thường bom đạn, đã làm tôi dũng cảm, gan lỳ hơn trong những trận chống càn với giặc… Hình bóng của nàng cứ cháy trong tôi: Đôi môi chúm chím, má lúm đồng tiền, nhất là cặp ngực phập phồng, tròn trịa…”.

Không yêu, không trẻ, không bồng bột, sao yêu mà viết được vậy?

Rồi giống như Năm Đá (Cha con), anh cũng cảnh gà trống nuôi con. Tình thương yêu, đau khổ hay hy vọng gì cũng đều nghiêng hết về thằng nhỏ. Nó vui anh hạnh phúc. Nó buồn anh đau. Khi nó đau, anh đứt ruột.

“Con chó lội qua sông, ướt lông con chó giãy
Con mất mẹ rồi như cây gãy trôi sông.
Cây gãy trôi sông đố ai chụm cháy
Con mất mẹ rồi như con nhái phơi khô…”.

Thằng bé bị rắn hổ cắn chết. Năm Đá cũng im lìm mà chết theo con.

Chuyện của Văn Định và con trai không y chang nhưng cũng mấp mé cái chết vậy. Lỡ có giống hơn… chắc người đàn ông hay kể chuyện này cũng chọn cách theo con vậy mà thôi. Làm sao có cách lựa chọn nào khác đây?

Không phải lối kể chỗ đông, càng không phải lúc trà dư tửu hậu. Kể cho ít người nghe, mà những người ấy nhiều khi lại trong cuộc, rành chuyện tới cả sáu câu.

Giọng kể mộc, cà kê xâu chuỗi, không giống cách của người viết văn chuyên nghiệp tới từng con chữ; mà nhớ sao, cảm sao kể vậy. Chuyện thật tới lút cán.

Chuyện có khi lan man. Nhưng hấp dẫn, sinh động đầy thuyết phục chính ở cái cách anh lang thang, chuyện nọ xọ chuyện kia như thế. Rõ ràng Văn Định kể với ngôi thứ nhất, là “Tôi”, nhưng ai cũng thấy chuyện mình, đời mình mới lạ.

Lầm rầm, đều đều – Biết sao được, đó là Văn Định.

Chuyện vui không hớn hở. Chuyện buồn cũng chẳng sầu bi. Y như anh có sao kể vậy. Thêm vô cũng chỉ là chữ “đưa văn”, thêm thắt từ đệm, từ láy rặt Nam bộ, rặt miệt vườn là xong.

Rì rầm nhưng người nghe không chán. Điều ấy đủ cho người đàn ông cứ ngỡ phẳng lặng như mặt hồ mà đầy sóng ngầm ấy tiếp tục kể chuyện; kể những câu chuyện yên bình mà đầy giông bão…

Lê Thu Hạnh
(Q. Bình Thạnh, TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 473

Ý Kiến bạn đọc