Truyện ngắn

Người đàn bà bán thuốc lào rong

Đã mấy tháng nay, người dân ở mấy cái làng nhỏ ven sông này đều quen với tiếng rao nhỏ nhẹ của một người đàn bà bán thuốc lào rong không biết từ đâu đến “Ai thuốc lào chính hiệu không?”.

Tiếng rao thanh mảnh, nhẹ như gió, êm như hơi thở. Tiếng rao như tiếng gọi một ai đó, khát khao cháy bỏng chứ không phải tiếng rao thông thường của những người đi bán thuốc lào, tách hẳn âm vực khàn đục của người hút thuốc. Tiếng rao trong trẻo của đàn bà còn trẻ luôn gợi sự hiếu kỳ cho đám đàn ông hút thuốc vặt gặp buổi nông nhàn. Có lẽ chính sự tương phản giữa một bên là những bánh thuốc mầu nâu đen bốc mùi hắc sì và một bên là người đàn bà có giọng rao như hát ấy mà đám đàn ông gọi nhau mua thuốc.

- Ai thuốc lào chính hiệu không?

- Thuốc đây… thuốc đây…

Một gã đàn ông ngoại tứ tuần có giọng khàn khàn, nước da đen mầu bồ hóng, rướn cái cổ cò đen thui như cổ con cuốc, gọi.

Người đàn bà dừng chân, trù trừ. Có vẻ như tiếng gọi của người ấy không gây cho chị cảm tình nào? Nhưng rồi chị cũng quay lại. Lách qua một ngõ nhỏ, chị đặt chiếc bao cói xuống nền sân gạch, nhẹ nhàng lấy ra bánh thuốc lào còn nguyên. Véo một điếu đưa cho người đàn ông:

- Bác hút thử, ngon hãy mua!

Người đàn ông nhận điếu thuốc. Anh nạp vào điếu và châm lửa. Rít. Sau tiếng rít chói tai, người đàn ông ngửa mặt lên trời chậm rãi nhả khói. Quả là thuốc lào ngon có một không hai. Xưa nay chưa có ai bán thuốc lào ngon như thế. Vùng quê bên bờ sông, từ ngày chị có mặt, tiếng điếu cày cứ rít lên lảnh lót như tiếng dế trũi gáy sau rặng tre ngà, say tít cung trăng.

Người đàn ông cười khùng khục:

- Ngon quá! Chị bán cho tôi 2 hào.

Người đàn bà lấy tay kéo căng từng sợi thuốc lào dính rịt vào nhau, ước hợp với số tiền rồi gói vào một chiếc lá cây đã héo nhưng còn dai. Cũng không rõ chị hái loại lá cây nào ở đâu, chỉ biết, gói bằng thứ lá này, thuốc lào giữ được độ thơm mềm từ lúc mua cho đến lúc còn lại điếu cuối cùng.

Dù sao cũng là chuyện lạ. Một phụ nữ còn trẻ lại đi bán thuốc lào? Người ta bắt đầu thêu dệt bao nhiêu chuyện về người đàn bà này. Người ta bảo: Thuốc lào của chị có yểm bùa ngải. Người đàn ông nào yếu bóng vía, hút mãi rồi sẽ có ngày bỏ vợ bỏ con theo bà ta cho mà xem! Nói vậy chứ mấy tháng nay, trong làng chưa thấy ai bỏ vợ bỏ con theo người đàn bà này, nhưng thuốc lào của chị dẻo quánh đến mức nghi ngờ. Chỉ cần vê nhẹ, cả nắm thuốc đang tách ra từng sợi, liền vón lại thành một cục như nhựa đường. Nhưng rất lạ là cho dù thuốc vón thành cục, khi dùng tay kéo ra, từng sợi thuốc lào lại tách rời nhau, không đứt một sợi.

Tam-long-thanh-pho--son-dau---co-tan-long-chau
Tấm lòng thành phố – sơn dầu – Cổ Tấn Long Châu.

Ở nhà quê thường thế. Một sự kiện gì đó xẩy ra bao giờ cũng kéo theo bao nhiêu đồn thổi. Người đàn bà còn xuân sắc, mà lại lặn mọ đi khắp nơi bán thuốc lào, thân gái dặm trường, chắc cũng phải có bản lĩnh và ẩn chứa uẩn khúc gì chứ?

Thế là người ta bịa ra bao nhiêu chuyện có liên quan đến “bản lĩnh” của người đàn bà bán thuốc lào rong này.

Để tăng tình tiết hấp dẫn, người ta kể: Có một hôm, chị ta đi qua một con đèo vắt ngang giữa hai cánh rừng già. Chị ta cứ cắm cúi bước đi vì trời cũng đã về chiều, chim sáo bay táo tác. Khi vượt qua đỉnh đèo, bỗng nhiên chị ngửi thấy mùi hôi thối, chị liền ngẩng mặt lên thì trông thấy một con hổ to tướng đang ngồi đón đường. Con hổ đói há cái miệng đỏ lòm, dãi nhớt ròng ròng đang hau háu nhìn chị như muốn nuốt chửng. Người khác thì ngất xỉu cho hổ ăn thịt. Nhưng không một chút bối rối, chị bình tĩnh giở túi thuốc lào, dùng tay vo cả hai bánh thuốc lại thành một cục, to bằng trái bưởi non. Nhắm chính xác, chị ném cục thuốc lào vào chính giữa miệng con hổ. Con hổ đang đói, ngỡ cục thịt bò, nuốt chửng. Nuốt xong cục thuốc lào, con hổ cứ cúi đầu xuống, không sao ngẩng lên được. Chị thấy nó nằm kềnh ra đường, tiếng ngáy vang như sấm. Nhân lúc con hổ say thuốc lào, chị ta nhanh nhẹn lách qua người nó, biến thẳng…

Mấy gã đàn ông trung niên cười khùng khục. Người ta có bao nhiêu cách cười thì có bấy nhiêu hoàn cảnh sinh ra. Khi thắng cuộc thì cười ha hả, bị vợ trách lỗi thì cười hì hì. Chiếm được của người khác thì cười hô hố… Ấy vậy mà khi hút thuốc lào, trăm người, người nào cũng gục mặt cười. Và chỉ có một điệu cười duy nhất, khùng khục. Khi đó, lá phổi gần như bị liệt rồi! Các phế nang ngấm thuốc, đâu còn sức để đẩy ra mà có tiếng cười to? Cười khùng khục là phản ánh đúng thực trạng cơ thể đang tê mê. Khi say thuốc, người ta trở nên hiền lành đến nhu mì chứ không hung hăng như kẻ say rượu…

- Mình hút có một điếu bằng nửa hạt ngô, còn say như thế, đằng này con hổ xơi cả hai bánh thuốc một lúc, không say sao được? Không biết bao giờ cho nó tỉnh? Khi con hổ tỉnh dậy thì cô ta đã đến chỗ an toàn rồi. Cái cô bán thuốc lào này quả là thông minh.

- Đúng thế! – Đám đàn ông lại thi nhau rít thuốc và lại cười khùng khục…

Từ ngày người đàn bà bán thuốc đi qua vùng quê nghèo ven sông, chị đã phả một làn khói thơm ngất cho những cuộc đời chìm khuất sau lũy tre xanh. Cuộc đời của những đấng mày râu vừa bước qua cuộc chiến tranh quỷ khốc thần sầu. Dấu tích của những tháng năm chinh chiến vẫn còn đọng nguyên vẹn trong mầu da và hốc mắt của những đấng nam nhi từ mặt trận trở về và những bà quả phụ bao năm dài chờ chồng trong vô vọng.

Ngày ấy, những làng sống ven con sông này còn nghèo lắm. Mà thuốc lào, trên thế gian này, có lẽ chỉ ở xứ sở nhiệt đới này mới có thứ hàng thiết yếu cho cuộc sống tinh thần mà giá lại bèo đến như thế. Rẻ đến mức nghèo đến mấy cũng có thể mua. Hai đồng hay 2 hào cũng được! Hai đồng một gói, còn 2 hào, vài chục điếu. Vài điếu, khi ghiền, cho điếu hơi to vào, thong thả châm lửa, rít một hơi, cuộc đời có bao nhiêu nỗi ưu tư lo phiền đều quên sạch. Người ta lại vô tư sống bên nhau, nghĩa tình trọn vẹn như mấy đời ông cha vẫn thế.

Bẵng đi vài tháng, chị bán thuốc lào bỗng nhiên vắng bóng. Người ta phỏng đoán bao nhiêu chuyện xung quanh sự kiện này. Người thì bảo chị ta đã lấy chồng, ông này vì ghiền thuốc lào của chị nên đã bỏ vợ, bỏ con theo chị. Hai người dắt díu nhau đến sinh sống ở một vùng núi cao, quanh năm mây phủ. Người thì bảo chị bị cảm thương hàn do đi nhiều, nắng mưa, sương gió thấm vào lục phủ ngũ tạng và đã qua đời trong một cái miếu hoang dưới chân đồi cô quạnh. Trong làng, cứ tối đến hay giữa buổi trưa nồm, không phải chỉ đám đàn ông ghiền thuốc mà cả mấy bà ngồi lê đôi mách, luôn mồm nhắc đến chị. Chị bán thuốc lào trở thành nhân vật thân thiết chẳng biết từ khi nào. Thế mà bây giờ, người đàn bà cùng với tiếng rao êm ái dịu ngọt khiến cho bao nhiêu gã đàn ông ghiền thuốc lào mê đắm như vừa say khói thuốc, bỗng nhiên mất hút giữa đường quê mưa nắng, như thể con chim én xuất hiện trên hiên nhà, thân thiết gần gũi là thế nhưng rồi một hôm, vụt biến đi, mất hút trên chín tầng mây xanh thăm thẳm…

*

Nửa đêm chị tỉnh lại. Mình đang nằm ở đâu thế này? Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, trên tường in bóng một người lưng còng, trông như một cái dấu hỏi. Chị thảng thốt nhìn xung quanh và nhận ra một bà già đang ngồi bên cạnh mình. Thì ra bà cụ chủ nhà vẫn túc trực suốt đêm canh giấc bên chị. Chị từ từ nhớ lại sự việc buổi chiều. Buổi chiều, chị đi đến con đường dưới chân dãy núi có hình con kỳ lân thì bỗng nhiên trời sầm sập đổ mưa. Từng cơn gió thổi thốc vào người làm chị tối tăm mặt mũi, người chị run lên. Lạnh quá! Sao mà lạnh cóng thế này? Cả đời chị chưa bao giờ cảm thấy lạnh như thế. Không thể gục ngã trên đường, chị cố chạy theo con đường cho đến khi thấy trước mặt hiện ra một ngôi nhà nhỏ, có hai ông bà già đang ngồi trong nhà nhìn ra. Khi đó, chị mới gục xuống và không biết gì nữa. Thì ra chị đã bị cảm lạnh và ông bà chủ nhà đã cứu chị.

Lòng rưng rưng tủi phận mình. Thì ra, người ta dù có sức khỏe đến đâu, mạnh mẽ đến đâu, cũng có giới hạn. Và cái giới hạn đó đã đến trên con đường chị đi tìm anh. Anh ơi! Em đã nghe theo lời nói của anh. Em đang đi tìm về quê của anh đây. Vùng quê dưới chân dãy núi xanh biếc hình con kỳ lân. Người ta bảo, ở đâu có hình dáng con kỳ lân là ở đó có điềm lành. Không biết điềm lành ấy có đến với em không, nhưng chỉ biết, còn sống là em vẫn tìm đến phương anh. Và hôm nay, trên con đường tìm anh, em đã gục ngã. Vâng! Em đã gục xuống giữa sân một gia đình tốt bụng. Biết đâu, lần gục ngã này lại là điều may mắn?

Thổn thức, chị quờ tay đặt nhẹ lên lưng bà mẹ già đang ngồi bên mình. Bà mẹ như choàng dậy, nói trong sự vui mừng: “Ông ơi! Con nó tỉnh lại rồi!”. Bà cúi xuống bên chị: “Con tỉnh rồi à? Thầy bu lo quá! Buổi chiều hôm qua, bị mưa đột ngột nên con bị cảm lạnh, người ngợm ướt sũng nước, nhưng thân thể nóng như hòn than. Khổ thân con tôi! Làm sao mà phải một thân một mình lặn lội đi bán thuốc lào? Quê con ở mãi đâu? Thôi, để bu xuống bếp múc cháo cá mang lên cho con ăn cái đã. Phải ăn vào thì mới khỏe ra được”. Nói rồi bà lão cầm ngọn đèn dầu lụi cụi đi xuống bếp. Thầy bu? Chị chợt nhớ có một lần anh nói với chị: “Ở quê, giờ chỉ còn lại thầy bu và cô em gái…”. Không lẽ chị đã về đến quê anh rồi ư? Lòng thắc thỏm, chị cố nén cảm xúc.

Ông lão nằm ở chiếc giường tre bên cạnh húng hắng ho mấy tiếng rồi cũng ngồi dậy, ân cần hỏi thăm. Tự nhiên chị thấy đói cồn cào. Cả ngày hôm qua, hình như chị chưa có hạt cơm nào vào bụng. Bà cụ bưng nồi cháo cá lăng bốc khói nghi ngút lên. Ăn hết một bát cháo cá lăng, chị thấy người tỉnh hẳn. Cháo cá lăng thơm quá. Bà cụ bảo, cá lăng do con trai cụ bắt dưới lồng mang lên từ hôm trước.

Những ngày sau, chị sống trong ngôi nhà nhỏ với ông bà chủ nhà vì bà cụ khuyên chị chưa nên vội đi vì người vẫn còn yếu, trông nước da là biết. Chị ngoan ngoãn nghe theo. Ông bà nhân hậu quá, coi chị như đứa con gái út mới đi xa về. Chị thấy lòng quyến luyến như có sự quan hệ do trời sắp đặt.

Chiều hôm ấy, chị đang ngồi nhặt rau trước nhà thì nghe tiếng lộc cộc ngoài ngõ, chị ngẩng đầu lên. Một người đàn ông tay phải chống nạng, tay trái xách một con cá lăng đang tiến vào. Người đàn ông đến gần, người chị bỗng nhiên run bắn, tim đập thình thịch. Chẳng lẽ là anh sao? Trời ơi! Đúng anh rồi. Đôi mắt to đen đầy can đảm của anh. Khuôn mặt vẫn như xưa, chỉ nước da xạm lại thôi. Chị cầm nguyên cả bó rau trên tay, bật dậy lao ra: “Anh Chu Nhạc! Có phải anh đó không? Anh ơi! Em đã đi tìm anh suốt mấy năm qua. Nào ngờ đến đây thì mới gặp”.

Chị ôm chầm lấy anh. Nước mắt tích tụ từ bấy lâu nay giờ rơi lã tã như giọt mưa đầu hạ. Người đàn ông sửng người lại một lúc và anh đã nhận ra chị. Anh ném cái nạng gỗ ra xa và buông rơi con cá xuống đất, hai tay ôm chặt lấy người đàn bà, hôn tới tấp lên mắt lên tóc chị.

- Lan Phương em! Anh Chu Nhạc của em đây! Làm sao có thể ngờ mình lại còn có ngày gặp nhau. Thầy bu ơi! Con dâu của thầy bu đã về rồi này!

Hai ông bà đứng như chôn chân trong nhà, chẳng hiểu chuyện ra làm sao. Mới hôm qua, nó còn là cô con gái đi bán thuốc lào rong mà hôm nay lại là con dâu nhà mình. Thật trời xanh sao khéo sắp đặt!

Hai người vẫn ôm nhau đứng giữa sân. Mọi thứ trên đời với họ bây giờ đều không còn nghĩa lý gì. Họ cứ đứng như thế cho nước mắt chảy, cho hai cơ thể tan biến vào nhau trong ánh chiều dần buông. Ba cái chân trụ vững vàng như thể chiếc kiềng. Rồi kể từ nay, họ sẽ cùng nhau đi đến tận cùng của tình yêu và hạnh phúc…

Chiều hôm ấy, nhà ông bà Nhân chưa bao giờ có bữa cơm vui vẻ và hạnh phúc ngập tràn đến thế. Ông bà như thấy mình trẻ ra trước hạnh phúc của đứa con trai. Thảo nào, từ ngày nó xuất ngũ đến nay đã bảy tám năm, ông bà cũng nhăm nhe mấy đám, nhưng đám nào nó cũng lắc. Hóa ra, nó đang chờ đợi người con gái này đây. Nhưng tại sao cô ta lại đi bán thuốc lào rong? Nếu không có trận mưa chiều đổ xuống, và nếu cô ta không bị cảm lạnh thì liệu chúng có gặp được nhau không? Hai ông bà cứ thắc mắc không yên. Nhất định phải bắt chúng tường trình cho rõ nguồn cơn mới được.

Cơm xong, Chu Nhạc nhanh nhẩu dắt người yêu xuống bờ vụng, nơi anh đang chăm mấy lồng cá. Ngay đêm đầu tiên họ đã trở thành vợ chồng. Trên trời trăng thượng tuần treo lơ lửng, dưới nước, mấy cái lồng cá cứ dập dình như bị cơn gió mạnh, lắc lư. Hai người ôm chặt lấy nhau, bao nhiêu kỷ niệm ngày họ gặp nhau trong chiến trường ập về. Mười năm, từ ngày xuất ngũ, xuống vụng nuôi cá lồng, đêm nay là đêm duy nhất, người ta không nghe thấy anh dậy hút thuốc lào. Anh thơm lên mái tóc chị thủ thỉ: “Thật là giấc chiêm bao! Sao em lại nghĩ ra là đi bán thuốc lào nhỉ?”.

- Nếu không đi bán thuốc lào thì làm sao gặp lại anh?

Hai thân hình lại quấn lấy nhau, cười khúc khích…

Ngày ấy, tháng giêng năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Quân Mỹ rút toàn bộ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Mặc dù đã có lệnh ngưng bắn, nhưng giữa ta và quân Ngụy Sài Gòn vẫn cài thế răng lược. Hai bên vẫn tranh giành nhau từng mét đất để giữ thế thượng phong. Trận địa ta với địch cách nhau vài trăm mét. Chỉ khác là bên nào cắm cờ bên ấy. Qua một đêm, cờ địch đang ở phía trước, sáng ra lại phía sau. Bên nào cũng lợi dụng đêm tối để lấn chiếm đất. Anh bị thương nặng, từ trước khi có hiệp định ngưng bắn, sốt li bì. Chị là quân y sỹ chăm sóc anh. Hai người đã yêu nhau từ cái lần anh đè lên chị khi quả đạn cối từ phía trận địa địch vù vù bay tới. Chị thì nguyên vẹn, còn anh bị thương. Chân phải dập nát.

Đêm xuống. Phía trận địa địch, tiếng bọn Ngụy rít thuốc lào chói tai. Khói thuốc bay sang tận trận địa bên ta, thơm nồng và quyến rũ đối với những ai ghiền thuốc. Chúng cứ vô tư rít thuốc, có ngờ đâu, bên trận địa đối phương có một người lính ghiền thuốc lào đến rỏ dãi. Nhìn anh nuốt nước bọt, chị thương lắm.

- Anh ơi! Bây giờ anh khao khát nhất điều gì?

- Anh chỉ thèm một điếu thuốc lào thôi!

Một điếu thuốc lào thôi? Ở phía bên kia, cách vài trăm mét là có thuốc lào nhưng là chiến tuyến giữa ta với địch, làm sao có thể vượt qua? Nếu mình vượt sang bên ấy, cấp trên mà biết nhất định sẽ bị trừng phạt theo quân pháp. Không được! Nhưng chẳng nhẽ để anh?

Mình chạy sang xin thử. Cùng là người Việt Nam với nhau, không nhẽ?

Anh đã không tiếc mạng sống để cứu mình, lẽ nào mình tham sống sợ chết, không đền đáp lại? Nghĩ thế, chị một mình tay không xăm xăm đi về phía trận địa địch.

Bọn địch không thể ngờ nổi, một cô gái trẻ tay không đang đi về phía chúng. Một tên hướng mũi súng AR15 về phía chị. Tên chỉ huy giật khẩu súng trong tay tên kia, hướng mũi súng về phía khác:

- Mù à? Một cô gái đi tay không, mày định bắn người ta sao?

Cả mấy tên đều trố mắt nhìn. Chúng không đoán nổi việc gì sẽ xẩy ra.

Và chị đã gặp chúng, giọng gấp gáp:

- Các anh ơi! Ở phía bên kia, có một người lính sắp chết. Trước khi chết, anh ấy chỉ thèm một điếu thuốc lào…

Mấy tên lính Ngụy trố mắt. Chúng không tin nổi lời cô gái vừa nói. Nhưng rồi chúng tin khi thấy cô gái nói trong nước mắt: “Tôi xin các anh! Cũng là người Việt cả mà…”.

Tên chỉ huy giọng trầm xuống, vẻ thông cảm:

- Có chuyện ấy thật sao? Tôi biết rồi, cũng là dân ghiền thuốc cả. Thế thì bà giải phóng cứ mang về cho ổng hút. Chỉ còn có vài điếu thôi! Bà mang cả điếu về. Đây! Tụi tôi chỉ nhờ bà nhắn lại với các ổng, hiệp định ký kết. Người Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Giờ chỉ còn người Việt Nam mình với nhau. Đất Việt Nam, người Việt Nam, bên nào chiếm mà chẳng được? Bà bảo với mấy ổng đừng nổ súng vào tụi tôi nữa. Tụi tôi chán ghét chiến tranh đến tận cổ rồi. Chỉ mong cuộc chiến mau kết thúc để về với vợ con thôi…

Và lần ấy, chị đã mang được thuốc lào về cho anh. Nhưng khi chị mang được cả điếu và thuốc về thì anh đã được đội phẫu thuật tiền phương đưa về tuyến sau, không một lời để lại…

*

Chuyện này tôi nghe nhiều người kể, chẳng biết thật hư?! Chỉ biết mấy chục năm trôi qua, dưới chân dãy Núi Mầu có hình con kỳ lân ở gần quê tôi, có một gia đình sống rất hạnh phúc. Bây giờ họ đều đã lên tuổi ông bà, con cháu đề huề, kinh tế khá giả nhờ mấy cái lồng nuôi cá lăng được chăm nuôi trong một cái vụng, nước xanh thăm thẳm, ngoài kia là dòng sông chảy xiết. Ông chồng thương binh bị mất chân phải, tên là Chu Nhạc và bà vợ cũng tên là Lan Phương. Nếu ai không tin, cứ về quê tôi, tôi sẽ đưa đến thăm ngôi nhà và mấy cái lồng cá của họ. Chắc chắn sẽ được ông bà chủ nhà thết đãi một bữa canh chua cá lăng ngon hết sẩy.

4/2016

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 416

Ý Kiến bạn đọc