Tản văn

Người cựu chiến binh viết sách, tạc tượng tri ân Nam bộ kháng chiến

Kỷ Niệm 75 Năm (23/9/1945 – 2020) Ngày Nam Bộ Kháng Chiến

 

Về với đời thường

Mười tám tuổi, chàng thanh niên Tô Kường ở quê lúa huyện Thái Thụy (Thái Bình) xung phong lên đường nhập ngũ. Gần 20 năm trong quân ngũ, làm lính ở các sư đoàn 1, 8, 316 Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến đấu giúp bạn Lào, Campuchia; tham gia giải phóng miền Nam, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Năm 1982, Tô Kường ra quân, đưa vợ con vào thị trấn Mộc Hóa (thị xã Kiến Tường ngày nay), tỉnh Long An định cư. Ngoài việc chăm lo ổn định đời sống gia đình, Tô Kường còn nhiệt tình tham gia công tác xã hội, sẵn sàng chia sẻ niềm vui và những khó khăn của người dân trong cuộc mưu sinh ở một góc Đồng Tháp Mười (ĐTM) luôn bị lũ đe dọa. Nhờ đó, anh được chính quyền và nhân dân thị trấn Mộc Hóa (cũ) tín nhiệm, giới thiệu làm Chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị trấn. Tham gia công tác xã hội, được tiếp cận với những bậc cao niên, lão thành cách mạng ở vùng bưng biền ĐTM, Tô Kường phát hiện mảnh đất anh sống từng là “Thủ đô kháng chiến của Nam bộ”; trụ sở của Xứ ủy và Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ. Nơi đặt đại bản doanh của Khu bộ trưởng Trần Văn Trà. Nơi xuất phát tiểu đoàn 307 anh hùng đánh trận Mộc Hóa nổi tiếng (1948)… Không chỉ nghe chuyện kể về những ngày Nam bộ kháng chiến ở chiến khu bưng biền ĐTM, sẵn có tâm hồn yêu thích văn nghệ cộng với trách nhiệm công dân của người CCB, từ năm 2014, Tô Kường tích cực tìm hiểu sách, báo, tài liệu viết về Nam bộ kháng chiến, về chiến khu ĐTM… Anh dành nhiều thời gian lặn lội đến những vùng sâu vùng xa vốn chưa thuận tiện đường giao thông tìm gặp những bậc lão thành cách mạng từng tham gia Nam kỳ khởi nghĩa, Nam bộ kháng chiến để ghi chép những câu chuyện có thật, con người có thật. Trong các nguồn tư liệu “thành văn” và những câu chuyện của các nhân chứng chưa ai viết ra, Tô Kường đặc biệt chú ý trận phục kích chặn đánh một tiểu đoàn lê dương Pháp hành quân bằng hạm tàu theo sông Vàm Cỏ Tây lên chiếm huyện lỵ Mộc Hóa đêm 16/5/1946, diễn ra ở ấp Cả Nổ, xã Thạnh Hòa, huyện Mộc Hóa. Điều đặc biệt của trận phục kích tàu giặc do Chi đội 14 Quân khu 8 đảm nhiệm, ngoài quân số chỉ bằng 1/5 quân Pháp, vũ khí lại thô sơ, trong đó có khẩu Thần công đúc thời Minh Mạng từng được Đốc Binh Kiều sử dụng bên Gò Tháp (Đồng Tháp) cũng được sử dụng trong trận phục kích. Đây là chất liệu để Tô Kường hoàn thành tác phẩm truyện ký “Khai hỏa” và tạc tượng “Nam bộ kháng chiến”.

So-613--Nguoi-cuu-chien-binh-viet-sach-tac-tuong-tri-an-Nam-bo-khang-chien---Anh-3

Tái hiện hình ảnh Nam bộ kháng chiến

Truyện ký “Khai hỏa”(*) dày 215 trang, tập trung khai thác không khí những ngày đầu Nam bộ kháng chiến tại hai ấp Bắc Chan và Bình Tây, xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa (nay thuộc thị xã Kiến Tường). Địa bàn này là nơi đặt đại bản doanh của Khu bộ trưởng Trần Văn Trà. Nơi tiểu đoàn 307 làm lễ xuất quân đánh trận Mộc Hóa 72 năm trước (1948) và chi đội 14 Quân khu 8 đứng chân. Thông qua những nhân vật có thật, sự việc có thật từ hơn 70 năm trước, Tô Kường giúp người đọc hình dung không khí của chiến khu ĐTM trong những ngày đầu Nam bộ kháng chiến. Ở đấy người nông dân sẵn sàng nhường nhà cho Vệ quốc đoàn ngủ, đi bắt cá, ướp từng khạp mắm; trồng từng giàn hành, giàn mướp ủng hộ “Vệ quốc đoàn” (Nơi đây vốn đất phèn nặng, hành, mướp, các loại cây gia vị phải trồng trên giàn). Chưa hết, bà con sẵn sàng đưa con em vào bộ đội đánh Tây; gom ghe xuồng, nhân lực tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ chuyển quân, chở vũ khí, lương thực cho kháng chiến. Sau mỗi trận thắng, nông dân mổ gà, làm cỗ chiêu đãi bộ đội, cùng bộ đội tổ chức văn nghệ mừng công. Được Khu bộ trưởng Trần Văn Trà giao nhiệm vụ, sau khi chọn được xã Tuyên Thạnh làm căn cứ của Khu bộ trưởng, ông Bảy Tố (sau giải phóng làm Phó tư lệnh Quân khu 7), đứng ở ấp Bắc Chan phấn khích, suy nghĩ: “Từ ngày đất nước độc lập, người dân vùng bưng biền già như trẻ lại, trẻ con khôn trước tuổi, Nam bộ kháng chiến, dân mình đứng lên bảo vệ nền độc lập, có gì đánh nấy…” (Khai hỏa, tr.28). Trong một lần đơn vị tiếp nhận quà của Hội Phụ nữ cứu quốc huyện trao tặng, Bảy Tố cũng công khai, minh bạch lấy ra trong giỏ từng món đưa lên để mọi người thấy: “Nóp nè, bánh tét nè, chén ăn cơm nè, quà của quê hương ý nghĩa quá, đề nghị hoan hô” (Khai hỏa, tr.48). Ở đấy có anh nông dân tên Bảy, hội viên Hội Nông dân cứu quốc nói ngon ơ với vợ việc nhường nhà đón 3 chiến sỹ Vệ quốc đoàn: “… Giúp anh em vệ quốc đoàn là mình cùng bà con góp công tiếp sức cho kháng chiến, để anh em ngủ ngoài rừng, ngoài vườn coi sao đặng” (Khai hỏa, tr.55). Người nông dân bưng biền bước vào cuộc kháng chiến rất chân thật, tăng gia sản xuất làm thật nhiều ruộng lấy lúa nuôi bộ đội họ gọi là “Ruộng kháng chiến”.

So-613--Nguoi-cuu-chien-binh-viet-sach-tac-tuong-tri-an-Nam-bo-khang-chien---Anh-4
CCB Tô Kường giới thiệu tượng Nam bộ kháng chiến. (Ảnh tư liệu)

Nhân vật và cũng là điểm nhấn trong “Khai hỏa” là Lương, một thanh niên Hà Nội tốt nghiệp đại học lên tàu Nam tiến vô bưng biền ĐTM đánh giặc. Một lần, ông Sáu lão nông tri điền xã Tuyên Thạnh nói trong đám giỗ cha mình có lãnh đạo chi đội 14, Ủy ban Hành chính kháng chiến huyện và có Lương cùng đại diện chiến sỹ Chi đội 14 Vệ quốc đoàn, rót rượu mời Lương và nói: “Ở Mộc Hóa chỉ dạy đến lớp nhất (lớp 5), muốn học đến đệ tứ (lớp 9) phải đến Mỹ Tho, vậy mà thật là vui có cử nhân ở ấp mình lâu rồi mà mình không biết” (Khai hỏa, tr.90). Lương đẹp trai, khiêm tốn luôn học hỏi phong tục, tập quán vùng đất mới. Tại chiến trường này, Lương có mối tình vừa lãng mạn, vừa sâu lắng với cô gái đẹp người đẹp nết tên Hòa, cán bộ Hội Phụ nữ cứu quốc Mộc Hóa. Tình yêu chân thật của chàng sinh viên Hà Nội với cô gái ĐTM như chất xúc tác làm cháy lên ngọn lửa chiến đấu của Lương. Trong trận phục kích tiểu đoàn viễn chinh Pháp ở rạch Cả Nổ sông Vàm Cỏ Tây sáng 16/5/1946, Lương trực tiếp chỉ huy “khai hỏa” khẩu thần công Minh Mạng bắn vào tàu chở quân Pháp, làm quân Pháp hoảng hốt tháo chạy. Nhưng… trận đánh vang dội này Lương bị trọng thương và hy sinh trong niềm tiếc thương của hai bà má xã Thạnh Hòa, của Hoài, của đồng đội. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lương bảo y tá Ngọc gỡ chiếc đồng hồ cha mẹ anh trao trước khi lên đường Nam tiến, nói nhẹ với Hoài: “Đất nước độc lập, em cầm chiếc đồng hồ này đến số nhà… phố Hàng Bạc, Hà Nội là cha mẹ anh hiểu hết, em nhớ số nhà không?” (Khai hỏa, tr.212). Ngày nay, mộ liệt sỹ Lương được di về Nghĩa trang Liệt sỹ thị xã Kiến Tường. Và khẩu Thần công Minh Mạng được đặt trang trọng trong sân bảo tàng tỉnh Long An.

Từ cảm hứng về hình tượng người chiến sỹ Vệ quốc đoàn chỉ huy “Khai hỏa” đại bác thần công Minh Mạng đánh chiến hạm Pháp trong trận Cả Nổ trên sông Vàm Cỏ Tây, CCB Tô Kường còn tìm tài liệu, giáo trình sáng tác mỹ thuật rồi kiếm vật liệu đắp tượng “Nam bộ kháng chiến”. Tượng “Nam bộ kháng chiến” đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp bản quyền sở hữu. Ngoài ra, Tô Kường còn đắp tượng phi công đại tá Nguyễn Văn Bảy, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, người con của ĐTM…

Khuynh Diệp
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 613

———————
(*) “Khai hỏa” – NXB Quân đội nhân dân, 2018. Tái bản tháng 6/2020.

Ý Kiến bạn đọc