Tản văn

Người con đất Quảng anh hùng

Kỷ Niệm 73 Năm Ngày Thương Binh Liệt Sĩ (27/7/1947 – 2020)

 

Sáng ngày 1/2/2000 (26 Chạp – Tết Canh Thìn), tôi đọc báo Cựu chiến binh Việt Nam, thấy những dòng nhắn tin của chị Nguyễn Thị Chắt, 65 tuổi, ở số 11, đường Trần Hưng Đạo, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, tìm chồng là liệt sĩ Lê Công Thanh, sinh năm 1932, quê quán xã Cẩm Thanh, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, nhập ngũ năm 1946, tập kết ra Bắc năm 1954, đi Nam chiến đấu tháng 1/1971, hy sinh ngày 19/1/1973 tại mặt trận phía Nam. Nay chị muốn biết tin về đơn vị, trường hợp hy sinh và phần mộ của liệt sĩ ở đâu? Kèm theo là tấm ảnh chân dung của liệt sĩ và số điện thoại của gia đình chị.

Tôi vô cùng xúc động, nhận ngay ra liệt sĩ trong tấm ảnh này là thủ trưởng cơ quan đơn vị cũ của mình. Bất chấp thời tiết mưa phùn giá lạnh, tôi vội phóng xe máy lên Bưu điện huyện Lâm Thao, để gọi điện thoại dịch vụ công cộng, báo tin cho chị Chắt biết một số thông tin về chồng chị và giới thiệu về mình để chị tiện liên lạc. Suốt đêm hôm đó, tôi trằn trọc, thao thức không ngủ, nhớ về những ngày sống và chiến đấu với liệt sĩ Lê Công Thanh, người con ưu tú của quê hương “Quảng Nam trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Tháng 5/1971, những ngày cuối mùa khô đầy nắng nóng và không gian khét mùi bom đạn của chiến tranh. Tại phum Chi Phếch, sóc Mê Sang, huyện Trà Béc, tỉnh Prey Veng (Campuchia), trung đoàn Z15 chúng tôi thuộc Quân khu 2 (cũ, miền Trung Nam bộ), sau một năm liên tục tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ và ngụy Sài Gòn, thực hiện âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” đã mở chiến dịch “Chen La 2” (tìm diệt), tiến công càn quét ác liệt vào vùng giải phóng của ta và xâm lược sang cả các tỉnh biên giới Đông Bắc Campuchia. Ngày 15/5/1971, đơn vị chúng tôi được bổ sung d1 của E46 Quân khu 3 từ miền Bắc hành quân vào. Trong buổi lễ nhận bàn giao d1, tôi là trợ lý cán bộ của Ban Chính trị nên được làm việc trực tiếp với anh Lê Công Thanh, Bí thư Đảng ủy và Chính trị viên tiểu đoàn. Anh Thanh dáng người thấp đậm, chắc khỏe, nước da ngăm đen, phong cách người miền biển quen ăn sóng nói gió, giọng nói xứ Quảng đã pha nhiều tiếng Bắc nên dễ nghe hơn. Tính tình anh vui vẻ, cởi mở, chân tình và dễ mến. Anh cho biết, đội ngũ cán bộ sĩ quan của đơn vị đều trưởng thành qua các trường đào tạo cơ bản, có trình độ năng lực tốt, trong đó có các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn nhập ngũ từ thời kỳ chống Pháp, là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Tất cả cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thanh niên của đơn vị đều có quyết tâm chiến đấu rất cao, sẵn sàng xung phong ra trận tiêu diệt kẻ thù.

Sau thời gian đơn vị củng cố, tổ chức sinh hoạt học tập chính trị và huấn luyện quân sự bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế chiến trường. Đêm ngày 12/11/1971, Tiểu đoàn 1 ra quân đánh trận đầu, tiến công tiêu diệt địch ở khu vực chùa Soài Quang, phía Bắc Quốc lộ 1, đoạn thị trấn Trà Béc đi bến phà Niếc Lương. Với thành tích lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, anh Lê Công Thanh được phong quân hàm tiểu đoàn chính trị bậc trưởng (đại úy), bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm chính trị trung đoàn và bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ của Trung đoàn Z15 khóa mới. Anh được phân công phụ trách công tác tổ chức và cán bộ của Ban Chính trị, là thủ trưởng trực tiếp của cơ quan chúng tôi. Từ khi anh về lãnh đạo cơ quan chính trị, đã giúp đỡ các anh em trợ lý chúng tôi, vốn trưởng thành từ thực tế chiến đấu, đã được nâng cao thêm trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ công tác có bài bản căn cơ và nề nếp hơn. Chúng tôi càng thêm khâm phục và quý mến anh.

Đêm ngày 26/1/1973, tại Sở chỉ huy trung đoàn Z15 ở bên bờ kênh Tân Mỹ Chánh (Chợ Gạo), anh Thanh thay mặt Đảng ủy và Ban chỉ huy trung đoàn, đi xuống chỉ đạo Tiểu đoàn 1 đơn vị cũ của anh, làm nhiệm vụ chiến đấu đánh địch lấn chiếm xã Đạo Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (cũ, nay là tỉnh Tiền Giang). Đây là hướng tiến công chủ yếu của Trung đoàn, xác định phải chịu đựng nhiều ác liệt hy sinh nhất trong chiến dịch “Cắm cờ giữ đất, giành dân” của ta, ngay sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Cùng đi công tác với anh Thanh, có trợ lý cán bộ Đào Thái Hà, sinh năm 1938, quê ở xã Tống Chân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hải Hưng (cũ, nay là tỉnh Hưng Yên). Sau trận đánh này, đêm ngày 27/1/1973, anh Hà trở về cơ quan đã kể lại:

- Đêm ngày 26/1/1973, khi cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 1 tiến vào làm nhiệm vụ, nhân dân ta phấn khởi chào đón, phối hợp đào công sự chiến đấu, hạ bỏ cờ ba que của ngụy Sài Gòn, treo cờ giải phóng trước cửa nhà và trên các ngọn cây cao trong xóm ấp. Lúc 7 giờ sáng ngày 27/1/1973, khi Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực, địch dùng 1 trung đoàn bộ binh kết hợp với chi đoàn xe tăng và xe bọc thép, cùng pháo binh và máy bay ném bom, trực thăng vũ trang tiến công bắn phá dữ dội xã Đạo Thạnh. Anh em Tiểu đoàn 1 đã nêu cao tinh thần dũng cảm, ngoan cường chiến đấu nổ súng tiêu diệt hàng trăm tên địch và đánh lui hàng chục đợt xung phong của chúng, kiên quyết giữ đất, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Lúc 17 giờ 15 phút cùng ngày, anh Thanh không may bị trúng một mảnh đạn địch bắn găm vào ngực bên trái, ngã xuống. Anh Hà và y tá đơn vị liền chạy đến băng bó cho anh, thấy dòng máu phun ra nhuộm đỏ mặt đất và loang đỏ cả bộ quần áo anh Hà đang mặc trên người. Vết thương quá nặng, anh Thanh đã hy sinh ít phút sau đó. Tối hôm đó, anh em đơn vị phối hợp với bà con trong ấp, tổ chức an táng các liệt sĩ ngay tại các khu vườn trong xã. Được tận mắt chứng kiến tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của các cán bộ và chiến sĩ d1, bà con rất cảm phục, xúc động đã bảo nhau tháo dỡ các cánh cửa, gỗ ván phản nằm, làm quan tài chôn cất các liệt sĩ cho thật đàng hoàng, thay vì chôn cất chỉ gói buộc bằng vải võng và tăng nilon. Trong đó liệt sĩ Lê Công Thanh được chôn cất bằng 4 cánh cửa gỗ, thì 2 cánh cửa vẫn còn nối liền nhau bằng chiếc khóa đồng nhãn hiệu USA, vì chìa khóa bị mất nên không thể mở để tháo rời ra được.

So-604--Nguoi-con-dat-Quang-anh-hung---Anh-1
Liệt sĩ Lê Công Thanh (hàng đầu, bìa trái) - Mỹ Tho, 15/6/1972. (Ảnh tư liệu)

Nghe anh Hà nói chuyện xong, anh em chúng tôi đều ứa nước mắt, bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn của mình với người thủ trưởng cơ quan chính trị. Rồi chúng tôi tổ chức lập bàn thờ, làm lễ thắp hương ngay trên nóc chiếc hầm nổi, dưới tán cây vú sữa và bóng hàng dừa nước. Trước linh hồn anh, chúng tôi đều hứa quyết tâm nêu cao tấm gương chiến đấu dũng cảm hy sinh của anh, để trả thù cho anh và phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau đó, tôi cầm chiếc đèn pin soi cho anh Hà ra cầu kênh Tân Mỹ Chánh để tắm rửa. Nước mắt tôi lại tuôn chảy khi giúp anh Hà giặt bộ quần áo thấm đầy những vết máu khô của anh Thanh, tạo thành những sợi máu dài như sợi chỉ đỏ trôi trong con nước thủy triều đang dâng lên. Đó là những ấn tượng vô cùng mạnh mẽ, khiến tôi xúc động ghi nhớ suốt đời…

Trưa ngày 2/2/2000, thật bất ngờ, tôi đi làm về đến nhà thì gặp 2 người khách trẻ. Qua lời giới thiệu, tôi được biết cháu Lê Thanh Hồng, sinh năm 1965, là con gái cả của chị Chắt, cùng chồng là Bùi Đình Thiêm, sinh năm 1960, đi xe máy từ Hải Phòng lên Phú Thọ tìm tôi. Sau những phút đầu làm quen, tôi lấy ra chiếc ảnh kỷ niệm, trong đó có Phó Chủ nhiệm chính trị Lê Công Thanh. Tôi chưa kịp giới thiệu tên từng người thì cháu Hồng đã nhận ra bố trong tấm ảnh, liền khóc òa lên, nức nở gọi:

- Bố ơi!!! Bố ơi!!! Con đã tìm được tin về bố rồi.

Hồi lâu trấn tĩnh lại, cháu Hồng tâm sự:

- Bố mẹ cháu đều là bộ đội, mẹ cháu quê ở Hải Phòng, sinh được 3 chị em chúng cháu đều là con gái, đặt tên là Thanh Hồng, Thanh Thủy và Thanh Trường. Những cái tên này có ý nghĩa là dòng máu hồng của người chiến sĩ cách mạng còn chảy mãi cho đời sau. Năm bố cháu đi Nam chiến đấu, cháu mới 6 tuổi, hai em cháu đều còn thơ dại, nên chúng cháu nhớ được rất ít kỷ niệm về bố. Năm 1975, gia đình cháu nhận được Giấy báo tử bố cháu hy sinh như một số thông tin đã in trên báo. Mẹ và 3 chị em chúng cháu vô cùng đau khổ. Nhưng nhờ có chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với sự giúp đỡ của chính quyền các cấp và nhân dân khu phố, nên gia đình cháu cũng dần vượt qua được những ngày tháng khó khăn. Chị em chúng cháu được ăn học đầy đủ, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; em gái út được Nhà nước cho sang Liên Xô (cũ) học tập. Đến nay, chị em chúng cháu đều có gia đình riêng và cuộc sống hạnh phúc. Mẹ cháu đã nghỉ hưu, hàng ngày ở nhà giúp đỡ trông nom, chăm sóc các cháu ngoại. Bao nhiêu năm qua, điều băn khoăn nhất cả nhà cháu thường xuyên nhắc tới là bố cháu chiến đấu ở đơn vị nào? Hy sinh trong trường hợp nào? Ở đâu? Phần mộ hiện nay như thế nào?… Những năm trước, mẹ cháu còn khỏe, đã nhiều lần mẹ đưa chị em chúng cháu về quê nội ở Quảng Nam và đi tìm tin tức của bố cháu ở nhiều nơi; có chuyến đi dài hàng tháng mới về, tốn nhiều công sức và cả tiền của, nhưng vẫn không thu được kết quả gì. Đến nay tưởng chừng như đã hết hy vọng. May quá! Hôm qua chú gọi điện xuống báo tin, làm cả nhà cháu mừng vui và thắp lên niềm hy vọng mới; biết được tin này của gia đình cháu, nhiều bà con nhân dân khu phố đến động viên thăm hỏi. Suốt đêm qua mẹ con chúng cháu không ngủ, chỉ mong trời chóng sáng để lên đây gặp chú nắm thông tin thật đầy đủ và chính xác về bố cháu. Sau Tết Nguyên đán Xuân Canh Thìn này, chị em chúng cháu sẽ vào Nam thăm viếng mộ bố cho thỏa nguyện ước của mẹ con chúng cháu bấy lâu nay. Vợ chồng cháu xin chân thành cảm ơn chú!

Tôi bồi hồi xúc động, kể lại cho vợ chồng cháu Hồng nghe những kỷ niệm sâu sắc với liệt sĩ Lê Công Thanh. Tôi giới thiệu các địa chỉ cần liên hệ, như: CCB – Đại tá Đào Thái Hà, đã nghỉ hưu ở phường Xuân Hòa, thị xã Xuân Lộc, huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; CCB – Đại úy Phạm Ngọc Hiến, sinh năm 1943, nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 1, nghỉ hưu ở thôn Tháp, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, người trực tiếp an táng liệt sĩ Lê Công Thanh; Họa sĩ Bùi Đức Liễn, nghỉ hưu ở phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Thư ký Ban Liên lạc CCB Z15 và một số CCB là đồng đội chiến đấu cũ. Tôi khẳng định với vợ chồng cháu Hồng là liệt sĩ Lê Công Thanh, hy sinh vào chiều ngày 27/1/1973, ngày đầu tiên Hiệp định Paris có hiệu lực, chứ không phải là ngày 19/1/1973 như trong Giấy báo tử. Việc sai sót này có thể là do quá trình sao chép hồ sơ liệt sĩ đã xảy ra.

Sáng ngày 10/4/2000, tôi được tin chị em cháu Hồng, nhờ được sự giúp đỡ nhiệt tình của các CCB Z15 ở thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương đã tìm thấy, cất bốc và di dời được hài cốt liệt sĩ Lê Công Thanh từ tỉnh Tiền Giang, đưa về quy tập vào Nghĩa trang Liệt sĩ quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Tôi cùng các CCB Z15 ở Phú Thọ, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc đã đến dự lễ và thắp hương kính viếng hương hồn anh. Dù đang bận công việc gia đình rất bề bộn và lo đón tiếp hàng trăm người đến dự buổi lễ nhưng khi thấy anh em CCB Z15 chúng tôi tới nơi, chị Chắt và con cháu trong gia đình đã vội chạy ra đón tiếp niềm nở. Cháu Hồng háo hức kể lại chuyến vào Nam tìm mộ người bố của mình:

- Từ những thông tin ban đầu của chú cho biết, cháu về nhà đã gọi điện thoại liên lạc ngay với các bác, các chú trong Ban liên lạc CCB Z15 ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Sau đó, chú Hà và chú Liễn đã tổ chức một chuyến đi trước về xã Đạo Thạnh để tìm kiếm thông tin thật chắc chắn về ngôi mộ của bố cháu. Nhân dân địa phương đã cho các chú biết ở trong vườn nhà ông Chín On, 90 tuổi, ấp 2, xã Đạo Thạnh vẫn còn hai ngôi mộ liệt sĩ, nhưng không rõ tên tuổi và đơn vị. Lâu nay, ông Chín On lập ngôi miếu nhỏ trong vườn để thờ cúng và thắp hương như người thân của gia đình, mà không báo cáo với chính quyền các cấp biết, để tổ chức quy tập hai ngôi mộ đó vào Nghĩa trang Liệt sĩ địa phương, theo quy định của Nhà nước. Khi chú Hà và chú Liễn tới thăm và tìm hiểu, ông Chín On thông báo: – Đêm hôm đó, trước khi đơn vị bộ đội giải phóng rút đi, thì có một chú thay mặt cho Ban Chỉ huy đơn vị, tên là Chín Hiến (Phạm Ngọc Hiến) đã có lời nói nhờ ông chăm sóc, giữ gìn, thắp hương cho hai ngôi mộ liệt sĩ, trong đó có một liệt sĩ là cán bộ lãnh đạo đơn vị. Chú Chín Hiến còn hứa đến ngày chiến thắng, chú và anh em đơn vị sẽ về gặp ông để xin nhận bàn giao lại hai ngôi mộ liệt sĩ này. Lúc đó, ông Chín On đã hứa chắc như đinh đóng cột sẽ thực hiện đúng theo lời dặn của chú Chín Hiến. Ngay sớm hôm sau, phát hiện bộ đội giải phóng đã rút lui, bọn lính Ngụy Sài Gòn xông vào xã Đạo Thạnh, tiếp tục càn quét, cướp phá, bắt bớ, tra khảo và đàn áp đồng bào ta trong các ấp. Chúng buộc tội đồng bào ta đã treo cờ Việt Cộng, ủng hộ cách mạng, như thế là “Ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng sản”. Phát hiện ra hai ngôi mộ liệt sĩ mới chôn cất, còn đầy hương hoa ở trong vườn nhà ông Chín On, chúng bảo nhau phải khai quật cả hai ngôi mộ này lên để hành hạ thi thể các anh nhằm trả thù và khoe khoang chiến tích diệt cộng. Lập tức, ông Chín On với tính cách cương trực của người dân Nam bộ, không sợ gì súng đạn của kẻ thù đã hô hào bà con trong ấp kéo đến đấu tranh quyết liệt với địch, tố cáo tội ác dã man của chúng đã ném bom, bắn phá làm tan hoang nhà cửa, vườn tược và giết chết nhân dân. Trong khi quân giải phóng lại có công chiến đấu hy sinh, không tiếc máu xương để bảo vệ xóm ấp. Rồi ông lại tuyên truyền, giải thích cho chúng hiểu về tinh thần Hiệp định Paris, hai bên đã cam kết ngừng bắn, chung sống hòa bình, hòa hợp dân tộc. Cuối cùng, ông khơi gợi tình cảm con người nói về truyền thống đạo lý của dân tộc ta “Nghĩa tử là nghĩa tận”, và đe dọa nếu chúng sống thất đức, táng tận lương tâm sẽ phải mang thù chuốc oán, chịu oan gia quả báo đến nhiều đời con cháu. Nhờ thái độ đấu tranh kiên quyết, có lý có tình của ông Chín On và bà con xã Đạo Thạnh nên bọn địch phải chùn tay, đành hậm hực rút lui. Từ đó, hai ngôi mộ liệt sĩ ở trong vườn nhà ông Chín On được đông đảo bà con trong ấp 2 tổ chức thờ cúng công khai, thắp hương tưởng nhớ vào những ngày rằm, mùng 1 hàng tháng và lễ Tết hàng năm. Giờ đây, ông Chín On hứa sẽ trao lại cho Nhà nước và gia đình hai ngôi mộ liệt sĩ này, với điều kiện chú Chín Hiến phải vào đây để có lời nói lại trực tiếp với ông. Biết tin này, chú Hiến dù đang ốm đau, bệnh tật và bận công việc gia đình, vẫn vui vẻ cùng chị em chúng cháu lên tàu Thống Nhất vào Nam để đón bố cháu về quê. Vì trong hai ngôi mộ liệt sĩ đó, chưa biết ngôi mộ nào là của bố cháu, nên trước khi đào lên, các chú xác định hễ ngôi mộ nào có chiếc khóa bằng đồng in chữ USA thì đó chính là hài cốt liệt sĩ Lê Công Thanh. Quả đúng như chú đã nói và các chú ở trong đó đều khen ngợi chú có trí nhớ tốt. Sau đó, hài cốt của bố cháu được các bác, các chú CCB Z15 ở TP. Hồ Chí Minh đưa về làm lễ tưởng nhớ và tiễn đưa trọng thể tại Trường Quân sự Quân khu 7. Trên đường đi ô tô thuê chở ra Bắc, chị em chúng cháu đã đưa hài cốt bố cháu về thắp hương trình báo tại Nhà thờ Tổ họ Lê ở thị xã Hội An và đón đại diện bên nội của bố cháu ra Hải Phòng dự lễ. Khi ra đến Hà Nội, các CCB Z15 ở thủ đô yêu cầu chúng cháu dừng lại ít phút để tổ chức thắp hương kính viếng hương hồn đồng đội chiến đấu cũ đã hy sinh. Hôm nay, buổi lễ quy tập hài cốt bố cháu vào Nghĩa trang Liệt sĩ của địa phương, do Bộ Chỉ huy Quân sự và Sở Lao động – Thương binh & Xã hội TP. Hải Phòng cùng lãnh đạo, chính quyền và tổ chức đoàn thể nhân dân các cấp phối hợp tổ chức, theo đúng nghi thức trọng thể của Nhà nước quy định.

Ngập ngừng một lát, cháu Hồng mới tiết lộ thêm và nói ra những điều tâm huyết:

- Toàn bộ kinh phí chi cho việc tổ chức tìm kiếm, cất bốc, di dời và lễ viếng, rồi tiễn đưa hài cốt bố cháu từ Nam ra Bắc, kể cả chị em chúng cháu thuê nhà nghỉ, ăn uống sinh hoạt hàng ngày và thuê xe ô tô, đều do các bác, các chú CCB Z15 ở phía Nam đóng góp, ủng hộ và hỗ trợ mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, góp phần đền đáp công ơn của các đồng đội đã chiến đấu hy sinh khiến mẹ con chúng cháu vô cùng cảm động và biết ơn. Giờ đây, cháu mới thực sự hiểu sâu sắc về tình cảm cách mạng thủy chung son sắt của nhân dân Nam bộ anh hùng – Thành đồng Tổ quốc. Chúng cháu càng hiểu hơn phẩm chất truyền thống cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, tình cảm đồng chí và đồng đội chiến đấu cũ vẫn trước sau như một, luôn vô tư, trong sáng tuyệt vời.

Trong không khí trang nghiêm thành kính và vô cùng xúc động của buổi lễ hôm đó, để tưởng nhớ công ơn tấm gương dũng cảm chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân của liệt sĩ Lê Công Thanh, người con đất Quảng anh hùng và các Anh hùng Liệt sĩ của TP. Hải Phòng – thành phố “Hoa phượng đỏ”. Tôi bỗng thấy làn gió Đông từ cửa biển sông Cấm thổi vào, làm những bát hương trên ngôi mộ anh Thanh và các liệt sĩ xung quanh đều bốc lửa cháy sáng rực, tung làn khói trắng cuồn cuộn bay lên trời, tạo nên những hình ảnh một đoàn quân mờ ảo, đang dũng cảm xông lên dưới mưa bom bão đạn, tiêu diệt kẻ thù và ngã xuống trong mùi hương trầm ngào ngạt. Bất giác, khi tôi ngắm nhìn bức ảnh chân dung anh Thanh được khắc bằng đá gắn trên ngôi mộ, hình như tôi thấy hiện lên ánh mắt, nụ cười trìu mến của ảnh và văng vẳng bên tai tôi giọng nói của con người miền biển Quảng Nam ấy ầm ào như sóng vỗ:

- Chú thấy đó! Anh đã sống và chiến đấu xứng danh là người con đất Quảng anh hùng và quê hương Hải Phòng yêu dấu.

Bùi Ngọc Quế
(Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 604

Ý Kiến bạn đọc