Tản văn

Người cha nuôi

Chiều ngày 29/4, hơn 5 giờ chiều, tôi và 2 người khách nữa vẫn đứng ngồi nhấp nhổm bên đường. Mỗi chuyến xe đi qua, chúng tôi lại nhào ra vẫy. Nườm nượp, nườm nượp, hàng chục, hàng trăm chuyến xe đi qua nhưng chẳng một xe nào dừng lại. Hai người khách đi cùng mất hết kiên nhẫn, đành điện thoại gọi taxi quay về nơi xuất phát. Còn lại một mình, tôi ngồi xổm xuống ven đường, mệt mỏi, thất vọng, giận cái tính gan lỳ của bản thân cũng như cái điện thoại chết tiệt tự nhiên lại bị hỏng, mất hết số khiến không sao liên lạc với đứa bạn dưới Vũng Tàu, chắc đang sốt ruột đợi chờ. Ngày lễ 30/4 năm nay liền với thứ bảy và chủ nhật, nghỉ 4 ngày nên người Sài Gòn đổ xô về các khu du lịch. Xe khách về Vũng Tàu mọi khi chỉ 80 ngàn một vé còn thừa mứa vậy mà bữa nay chém khách với giá vé 200 ngàn vẫn chật cứng, không chen lên nổi. Biết thế này bắt xe ôm lên bến xe từ trưa hoặc ở nhà cho khỏe. Tự nhiên lại kêu xe ôm ra đứng nắng hứng bụi suốt mấy tiếng đồng hồ. Thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào.

Có tiếng còi xe sát bên tai, tôi ngẩng lên. Một chiếc xe Nokia morning nhỏ nhắn dừng ngay gần tôi. Người lái xe thò đầu ra hỏi:

- Chị không bắt được xe đúng không? Chị về đâu, có về Vũng Tàu không? Tôi cho chị quá giang.

Trời ơi! Đúng là chết đuối vớ được cọc. Tôi vơ vội vơ vàng cái túi du lịch, mở cửa bước lên xe.

Người lái xe, nhìn từ phía sau, là một thanh niên thanh mảnh có khuôn mặt trắng trẻo dễ mến của những người có học. Những người nho nhã thư sinh như thế rất khó đoán tuổi. Tôi không biết xưng hô như thế nào cho phải, đành nói đại:

- Thật may mắn cho tôi quá! Không có anh, tôi không biết mình còn phải đợi đến bao giờ.

- Dạ, cũng là tình cờ thôi. Đường Sài Gòn bị kẹt xe ghê quá. Tôi phải đi xe máy ra ngoại thành lấy xe của người bạn ở Sóng Thần. Ra quốc lộ, thấy chị ở đó, đoán ngày lễ chắc chị không bắt được xe…

- Dạ! Tại tôi chủ quan quá, tính đi từ trưa mà lại không ngược lên bến xe mua vé, cứ liều đứng vẫy xe, thành ra…

- Rất nhiều người bị trễ xe chị à. Thật ra xe có thể thêm một vài người nữa nhưng tôi gấp quá nên có lẽ chúng ta đành đi thẳng luôn. Chị về đâu ạ?

- Tôi về Vũng Tàu vì đã hẹn với gia đình một người bạn. Điện thoại của tôi lại vừa bị hỏng mất hết số nên không liên lạc với họ để hoãn được. Thế còn anh? Anh về Vũng Tàu du lịch hay thăm nhà?

- Thực ra tôi về Vũng Tàu có việc đặc biệt chị à. Không phải là du lịch, cũng không phải là thăm nhà.

- Anh đi công tác hay thăm bạn bè?

- Tôi… tôi đi về thắp nhang cho ba tôi. Hôm nay chính là ngày mất của ba tôi.

Tôi sững người:

- Dạ, xin lỗi anh, tôi vô ý quá. Cụ nhà mất đã lâu chưa hả anh?

- Ba tôi, chính xác là ba nuôi của tôi, mất từ năm 84 chị ạ!

- …

Đoạn đường dài, trên xe lại có hai người, hết những câu xã giao. An Bình – tên người thanh niên đã kể cho tôi nghe câu chuyện về người cha nuôi, người đã thay đổi cả cuộc đời anh.

*
Đêm đã khuya, đường phố vắng người, trời đột ngột đổ mưa rất to. Những giọt mưa giữa mùa mưa bão to và nặng, quất vào những chỗ da thịt để trần khiến Chiến đành phải tấp vào bên hông Trường Mẫu giáo Kim Đồng. “Mình ẩu quá, chị Vi đã nhắc những cơn mưa Sài Gòn thường đến đột ngột lắm, ra đường phải mang theo áo mưa ấy vậy mà mình cứ chủ quan”. Chiến lầm bầm tự trách mình. Có tiếng động. Với phản xạ nhanh nhẹn của một người lính đặc công, Chiến né người sang bên, hướng ánh nhìn sang phía phát ra tiếng động. Xuyên qua bóng tối mờ mờ của ánh đèn đường, cách anh chừng 20 mét, có 3 người đang ngồi co ro: một cụ già khoảng 60 tuổi, một phụ nữ trạc ngoài 30 và một cháu bé. Cụ già và người phụ nữ ôm siết lấy cháu trai ngồi giữa, trên mình đứa bé chỉ bám dính một chiếc áo mỏng ướt lướt thướt. Cả 3 người đều gầy gò. Cậu bé và cụ già môi tím tái. Cái lạnh khiến họ run lập cập, nỗi lo sợ bị đuổi bắt làm người phụ nữ càng run hơn khi Chiến tiến đến hỏi chuyện. Lau dòng nước mắt, người phụ nữ khẩn khoản: “Chúng tôi là người lương thiện, hằng ngày đi bán vé số, tối về quanh đây tá túc qua đêm. Xin chú thương tình, đừng đuổi chúng tôi đi!”. Giọng nói run run của người phụ nữ khiến nỗi thương cảm lẫn chạnh lòng dấy lên trong Chiến. Anh nhẹ nhàng: “Chị đừng sợ, tôi là công an thật nhưng cũng chỉ là người vào trú mưa. Sao chị và gia đình không nghỉ sớm, tìm chỗ nào kín đáo hơn trước khi trời mưa để cụ và cháu ướt hết như vậy?”. “Dạ! Tại mấy ngày lễ khách đi chơi, đi ăn khuya nhiều nên cả nhà chúng tôi tranh thủ…”. Cậu bé tròn mắt nhìn mẹ và chú công an nói chuyện. Cơn mưa vừa nhẹ hạt, Chiến dặn dò gia đình người phụ nữ, rồi chậm chạp đạp xe về, lòng ưu tư: Giờ này trong khi mọi người đang ở trong chăn ấm nệm êm thì người mẹ già và cậu bé này phải chống chọi với mưa lạnh giữa đêm mưa giông trên hè phố. Chiến thấy thương họ quá. Bố mẹ mất sớm, tuổi thơ anh cũng đã trải qua đủ thứ thiếu thốn trong cuộc sống. Hơn 20 năm trước anh cũng giống như chú bé vừa rồi. Từ cậu bé bán nước, bưng bê ở quán phở mậu dịch cho đến ngày khoác lên người bộ đồng phục cảnh sát biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu đã rơi. Thật tội nghiệp! Chiến khe khẽ mở cổng vào nhà. Không dám bật đèn, sợ anh chị và các cháu thức giấc, anh đành dùng đèn pin lấy vội mấy bộ quần áo của cậu cháu trai chắc cũng tầm tuổi cậu bé, lấy cả ít bánh khô, chị vẫn chuẩn bị cho anh mang theo người để ăn lót dạ lúc đi tuần tra. Anh quay lại chỗ gia đình nọ trú mưa và đưa cho cậu bé chỗ quần áo và số bánh ấy, không quên dặn họ đừng rời đi xa.

So-504--Anh-minh-hoa---Nguoi-cha-nuoi

Sáng hôm sau, tạm gác việc nghỉ bù, Chiến tìm đến gia đình trú mưa hôm qua. Biết được chị là Lê Thị Cẩm 30 tuổi, bà già là mẹ ruột chị tên Nguyễn Thị Sâm và cậu con trai là Lê An Bình mới 8 tuổi. Nước mắt vắn dài, chị Cẩm kể: Chị vốn là giáo viên dạy Anh ngữ, chồng chị là sĩ quan chế độ cũ chết, mất tích hay di tản sang Mỹ trong quãng thời gian nhộn nhạo của những ngày tháng 4/1975. Từ đó đến nay, không ai trong gia đình chị biết được một tin tức gì. Thằng bé sinh ra sau cái ngày mà cả Sài Gòn phát sốt vì vui mừng và hoảng loạn đúng 1 ngày: ngày 1/5. Gia đình lúc ấy chỉ có một mong ước nhỏ nhoi là được an bình nên nó mang cái tên An Bình. Chẳng ai động chạm đến mẹ, vợ, con của viên sĩ quan không tên tuổi nhưng những lời đồn thổi về tắm máu, về trả thù của Việt Cộng, cộng với sự kỳ thị xa lánh của bạn bè người thân ở thành phố khiến chị bán rẻ như cho căn nhà mặt tiền đường Điện Biên Phủ. Sau đó, cả nhà đùm túm nhau đi kinh tế mới, ở tít tận vùng Xuyên Mộc. Cuộc sống với hai bà mẹ già, một đứa con dại, cùng với sức lực yếu ớt của người phụ nữ trẻ đẹp chỉ quen với việc dạy học thật là khó khăn. Thực ra công việc giảng dạy không liên quan tới chính trị, ở vùng xa xôi hẻo lánh này người ta cũng chẳng biết chị là vợ sĩ quan ngụy. Nhưng chị lại là giáo viên tiếng Anh, cái thứ tiếng mà người Mỹ hay xì xồ lại là thứ tiếng cần phải dẹp bỏ với bất cứ giá nào lúc bấy giờ. Tiền bạc dành dụm hết. Đồ nữ trang cuối cùng đã bán. Chị đi phát cây làm rẫy, cấy thuê gặt mướn. Một tay chị làm không đủ mua gạo và rau ăn độn cho 3 miệng người. Mẹ chồng suốt ngày than thở, trách móc. Mẹ ruột thì liên tục ốm đau. Thằng Bình suy dinh dưỡng. Gánh nặng cuộc đời đè lên đôi vai đã mài mòn nhan sắc của người phụ nữ. Ba mươi tuổi mà trông chị tàn tạ, cằn cỗi như ngoài 40. Đó lại là những năm 80 đói kém. Đồng tiền cuối cùng, cất kỹ trong túi mẹ chị cũng hết. Họa vô đơn chí. Khi ở Xuyên Mộc – Vũng Tàu, mẹ chồng chị lại bị rắn cắn chết. Sau khi chôn cất cho mẹ chồng, thằng Bình lại lăn ra ốm, chẳng biết làm thế nào, cả gia đình chị đành trở về thành phố lang thang kiếm sống bằng nghề bán vé số, báo dạo, thậm chí là phải cầu xin lòng tốt của mọi người để có miếng ăn và chút tiền thuốc thang cho hai bà cháu.

Khi nghe xong câu chuyện của người phụ nữ, lòng người công an vốn khô khan lại mềm xuống. Anh móc túi cho gia đình chị Cẩm một ít tiền lẻ, dặn họ giữ liên lạc với mình. Anh ra về mà lòng nặng trĩu. Thân hình còi cọc của thằng bé và ánh mắt rụt rè, sợ hãi của nó gây xúc động mạnh cho anh. Tuổi thơ của nó chắc cũng vất vả như anh. Nó hơn anh vì có mẹ nhưng nó phải chịu những mặc cảm không đáng có vì cha nó là sĩ quan ngụy, là tay sai cho kẻ thù, là người làm việc cho một chế độ đã sụp đổ. Bố mẹ Chiến đều chết vì bom Mỹ. Bản thân anh là một người lính, được trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, được rèn luyện, học tập trong quân ngũ, lại có vinh dự được kết nạp Đảng từ khi còn rất trẻ, anh hiểu và căm thù những tội ác mà bọn giặc Mỹ và ngụy quân ngụy quyền ngày xưa đã gây ra. Nhưng chiến tranh, ai mà chẳng biết nào phải trò đùa, la hét chạy nhảy, ngã xuống và đứng dậy. Tuy nhiên, dù có thế nào thì chiến tranh cũng đã kết thúc, mà trong thời loạn lạc trừ những người cầm đầu có khả năng gây ra cuộc chiến, còn lại hầu hết cả quân đội đứng phía sau, từ tướng tá tới binh nhì, có làm gì thường cũng chỉ là làm theo lệnh. Nói cho cùng, việc bắn giết trong thời chiến có khác việc xây nhà, đánh máy thời bình. Phần lớn họ là những kẻ không quyết định được vận mạng của mình nói gì tới vận mệnh quốc gia. Vậy thì khi chiến tranh chấm dứt, những hận thù cũng nên khép lại. Huống gì vợ con những người đã gây ra tội không thể là thủ phạm gánh chịu những tội lỗi của họ. Trừng phạt hay nuôi hận thù với họ đều là việc vô nghĩa.

Chiến xin ý kiến Ban chỉ huy Công an phường. Anh nhờ UBND phường trợ cấp khó khăn, đồng thời vận động bà con trong khu tập thể công an anh đang ở, của ít lòng nhiều giúp đỡ che tạm cho gia đình chị Cẩm căn chòi sau Trường Mẫu giáo Kim Đồng. Thời điểm ấy, phía sau trường và nhiều nơi trên tuyến đường Phạm Văn Hai còn ít nhà cửa, nhiều chỗ cỏ hoang mọc dày nên cũng chẳng mấy ai quan tâm đến căn chòi cả 3 con người ấy đang ở. Hằng ngày, chị Cẩm và thằng An Bình đi bán vé số. Thỉnh thoảng anh ghé qua thăm hỏi động viên, lần nào bà cụ cũng cầm tay Chiến rưng rưng: “Chú là ân nhân của gia đình chúng tôi, không bao giờ chúng tôi quên ơn chú. Quân đội Cụ Hồ có những người như chú nên mới thắng. Việt Cộng là những người như chú thì chúng tôi không phải trốn chui trốn nhủi”.

Bà cụ có nói thật lòng không thì không biết chứ với An Bình, chú Chiến là thần tượng. Nó có quần áo lành lặn cũng nhờ chú Chiến. Nó có nhà ở cũng nhờ chú Chiến, có bạn chơi cũng nhờ chú Chiến. Những hôm bán vé số bị ế chú Chiến mua giúp hoặc vận động anh em đồng đội của chú mua giúp. Chú Chiến dẫn nó đi chơi. Chú Chiến làm cho nó những thứ đồ dùng học tập thô sơ, nho nhỏ. Và quan trọng hơn, chú Chiến là bộ mặt, là niềm kiêu hãnh của nó. Cha nó mất trước ngày nó sinh ra. Nó mang họ mẹ, chẳng ai nhắc về cha nó với nó ngoài tiếng: Chết rồi! Mới 8 tuổi, trong suy nghĩ non nớt của nó lúc bấy giờ thì cha nó là người đối ngược với chú Chiến. Chú được yêu quý kính trọng bao nhiêu thì cha nó bị khinh khi làm vậy. Nó không muốn các bạn gọi nó là thằng ngụy con, cũng không muốn phải chịu cảnh mỗi dịp 30/4 cũng là sinh nhật nó lại phải chui vào trong nhà, lẩn tránh hoặc cúi mặt trước những cờ, hoa, băng rôn, khẩu hiệu. Khỏi phải nói, những ngày này nó trông chú Chiến đến chừng nào. Khi chú Chiến với bộ quân phục cảnh sát và 2 quân hàm đính 4 ngôi sao trên áo xuất hiện, toàn gương mặt nó nở ra một nụ cười sáng rỡ. Ánh mắt nó trong veo. Nó nắm lấy tay, đi sát vào chú Chiến, thỉnh thoảng nó nhìn nhanh ra xung quanh xem có ai để ý không. Trong giấc mơ nó thấy chú Chiến là cha nó. Đã hơn một lần nó nói dối khi phải trả lời câu hỏi: Bố mày làm gì? Bố tao là công an! Bố tao là cộng sản! Những đứa trẻ tròn mắt lên nhìn nó ngưỡng mộ. Mấy đứa lúc trước vênh mặt vì “Bố tao là bộ đội!” cũng phải nhìn nó ghen tỵ. Hồi đó ước mơ lớn nhất và duy nhất của nó là một ngày nào đó sẽ đường hoàng nói câu “Bố tao là công an!”, mà không phải run run vì biết mình nói dối. Nó đã mừng vui biết bao khi thấy chú Chiến hay ghé nhà, có lần nó còn thấy chú Chiến nắm tay mẹ nó. Nó khấp khởi mong cho cái ước mơ của mình nhanh nhanh thành hiện thực. Cho đến một đêm trăng, nó tình cờ nghe được câu chuyện giữa bà và mẹ.

- Thằng Chiến sao mấy bữa nay ít ghé? Chuyện tụi bây đến đâu rồi?

Bình nhỏm đầu ra ngoài mùng lắng nghe. Đã thành thói quen, hễ cứ nhắc tới tên chú Chiến là nó dỏng tai lên. Nhưng tiếng mẹ nó nhỏ quá khiến nó chỉ nghe thấy lõm bõm câu được câu mất.

- … Dù gì thì ảnh cũng là công an còn con là vợ sĩ quan ngụy. Ảnh chưa có vợ con gì… Còn con… con khổ lắm… Con thương ảnh lắm. Má biết mà, người như ảnh ai mà không thương… Ảnh thương con nhưng má không hiểu đâu, với những người như ảnh thì cơ quan là gia đình. Tổ chức là bố mẹ… Mà nghe nói mấy bữa rày cơ quan người ta nói dữ lắm… Cái gì hình như là lập trường không vững vàng, tư tưởng không ổn định ấy… Có thể ảnh phải thuyên chuyển công tác… Con cũng không biết là về Đồng Nai hay Vũng Tàu.

- Trời ơi ! Vậy rồi, rồi sao… Thế nó có nói bao giờ nó đi không?

- Ảnh cũng có biết đâu mà nói?

Thằng Bình còn nhỏ và cũng không nghe rõ những điều bà và má nói nhưng có một điều như mũi kim đâm vào lòng nó thì nó hiểu: Như thế là nó sẽ không bao giờ được gọi chú Chiến bằng ba. Không bao giờ được đường hoàng khoe với lũ bạn ở trường về người cha công an của mình. Nước mắt nó tuôn ướt gối. Chú ơi! Ba Chiến ơi!

*
Bình lặng thinh một lát như chìm trong hồi ức về tuổi thơ của mình, một lát sau anh chậm rãi nói tiếp:

- Sau đó chú Chiến được điều xuống Vũng Tàu. Thời kỳ đó các tổ chức phản động tuyên truyền về cuộc sống giàu sang bên nước Mỹ dữ lắm. Tất cả những gia đình có người thân ở nước ngoài đều có suy nghĩ phải ra đi, phải tìm đến thiên đường trên mặt đất, vùng đất hứa bên kia đại dương. Đi bằng đường hợp pháp khó lắm nên hầu như ngày nào cũng có tàu tổ chức vượt biên chị ạ! Giao thông đi lại thời ấy còn khó khăn lại thêm công việc vô cùng bận rộn nhưng ba tôi vẫn về thăm bà, mẹ và tôi. Thỉnh thoảng ba cũng viết thư cho tôi. Ba kể về tuổi thơ của ba, động viên tôi, nói thương tôi như con vậy. Ba cũng kể chuyện vây bắt tàu vượt biên, nói về những hiểm nguy khi hàng trăm người chen chúc trên những con tàu nhỏ mỏng, chỉ cần một trận sóng lớn cũng đủ để tàu bị lật hoặc lạc hướng tới mức sẽ phải lênh đênh trên biển hàng tháng trời, không có nước uống đồ ăn, đối mặt với gió, bão, cướp biển. Ba tôi còn kể chỗ bãi sau của biển Vũng Tàu tươi đẹp bây giờ hầu như không mấy ngày không có xác người vượt biên dạt vào. Ba tôi cũng dạy tôi rằng chẳng có thiên đường nào cả. Chỉ có ngu dốt và lười biếng người ta mới nghèo khổ mãi còn cứ chịu khó làm, chịu khó học chẳng trước thì sau người ta cũng thoát nghèo. Tự ta phải tìm lấy thiên đường thay vì mơ tới việc có người đã tạo dựng sẵn cái thiên đường đó và vẫy gọi ta tới. Những suy nghĩ của ba nuôi tôi, lưu ý chị đó là một chiến sĩ công an chứ không phải một thầy giáo hay nhà báo chị nha, thật là mới mẻ và rất nhân văn phải không chị?

- Dạ, quả thực là vào lúc ấy, không mấy ai đã có được những suy nghĩ như vậy… Rồi sau đó thì sao? Má anh có lấy được… ba nuôi anh không ạ?

- Má và ba nuôi tôi không lấy hay nói đúng hơn là chưa kịp kết hôn. Tôi chỉ được gọi chú ấy bằng ba khi ba đã mất.

- Bác mất trong trường hợp nào hả anh?

Bình lại lặng thinh. Xe đã về đến Bà Rịa. Tại đây, đèn đuốc chuẩn bị cho ngày lễ lớn sáng trưng. Đã gần 8 giờ nhưng xe cộ vẫn đi lại nhộn nhịp. Bình cho xe lách qua đoạn đường thu phí, im lặng một lát anh mới lại khẽ nói tiếp:

- Ba tôi mất trong một chuyến truy cản người vượt biên. Gia đình tôi thậm chí đến gần 1 tháng sau mới được một người bạn của ba báo tin. Người đó đọc được nhật ký của ba và mang lá thư ba viết dở về cho tôi. Ba chỉ còn một người thân duy nhất chính thức là bác Vi, chị họ của ba. Không ai công nhận chúng tôi là người thân của ba. Ba chỉ là ba trong ước mơ tuổi thơ của tôi. Gia đình tôi cũng không dám qua lại gia đình bác Vi người thờ cúng cuối cùng của ba nhiều vì ba tôi được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ, còn chúng tôi ngoài lý lịch có vết đen như thế, hồi đó cũng vẫn còn rất nghèo khó. Suốt những năm tuổi thơ, tôi đã nhờ vào những lời dạy của ba để mà vượt qua những khó khăn, vươn lên phía trước. Cũng may đến thời của chúng ta cuộc sống đã đổi thay nhiều. Tôi thi đại học và sau này còn có điều kiện để sang Mỹ học master. Học xong cũng có nhiều công ty giữ tôi ở lại làm việc. Điều kiện sống ở Mỹ tốt hơn ở Việt Nam rất nhiều nhưng tôi vẫn nhớ lời ba tôi: Thiên đường phải do ta xây dựng lên chứ không ai mang tới tặng ta cả. Mười mấy năm nay, từ ngày về nước, mỗi năm một lần đúng ngày này, tôi lại tìm về thắp hương, thả hoa xuống biển mênh mông, nơi ba mãi mãi ra đi và cầu nguyện cho ba luôn được siêu thoát dưới suối vàng.

Tôi và Bình đứng nhìn những cuộn sóng trắng xô vào đẩy ra những chùm hoa trắng. Ngoài xa kia, ánh sáng nhạt nhòa từ những ngọn đèn lênh đênh trên các con tàu lớn vẫn giúp những chiếc thuyền câu nhỏ xác định được độ an toàn giữa biển và bờ.

Bùi Đế Yên
(Tôn Thất Tùng – TP. Vũng Tàu)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 504

Ý Kiến bạn đọc