Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Người anh hùng lớn lên trong lửa đạn!

(Viết về chị Nguyễn Thị Ngọc Điệp, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp)

Gặp chị, tôi cứ suy nghĩ hoài: Đứa trẻ 10 tuổi bây giờ làm được gì nhỉ? Chưa chắc đã tự lo được cho bản thân nếu không có bàn tay cha mẹ. Vậy mà 10 tuổi, năm 1960 chị đã đi làm giao liên, đem thơ, công văn, giấy tờ cho ba, cho các chú. Chặng đường chị thường đi từ kênh Cao Đài tới Rạch Sâu, hay tới đình Thủ Củ ở Mương Điều phải đến 3, 4 cây số, “nhắm mắt” chị cũng nhớ từng gốc cây, đám cỏ. Ba chị là Nguyễn Văn Sâm, ở Quân báo Huyện đội Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (lúc ấy các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Sa Đéc và Châu Thành còn thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ba cho các con đi cách mạng hết, không kể trai hay gái. Ngẫm nghĩ lại, dù nhỏ nhưng chị luôn cảnh giác rất cao và cái linh cảm “bất bình thường” dường như đã “ăn” vào máu, vào thịt nên nhiều phen chị đã cứu được rất nhiều cô chú cán bộ, du kích và bộ đội trong tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Chú bác hồi ấy luôn nhắc đến chị với sự nể phục, tin tưởng.

Nhà chị nghèo lắm, cha đi làm cách mạng sớm, mẹ ở nhà tần tảo nuôi 6 đứa con. Chẳng ai có bộ đồ lành lặn. Để có chỗ đựng tài liệu đi qua đồn giặc, bà nội phải nối vải vụn may lưng quần để chị cuộn tài liệu vô. Chúng chỉ lo săm soi vào mấy người lớn, còn như chị chúng chẳng thèm để ý tới bởi chúng nghĩ: cỡ chị thuộc loại “hỉ mũi chưa sạch” mà làm được cái gì?! Một bữa chị Tư của chị đem cuốn tài liệu “Công tác tuyên truyền cách mạng” về nhà. Cho tới khi bị điệp báo, địch tràn tới lục xét nhà moi ra từ khạp gạo, chúng mới “để mắt” tới con nhỏ 10 tuổi đang ngồi thu lu trong góc nhà, vẻ sợ sệt, ôm chặt hai đứa em vào lòng. May mà ba mẹ không có nhà. Chúng lôi chị ra đấm đá, bạt tai lăn long lóc từ bên này qua bên kia như trái banh, truy hỏi tài liệu này ở đâu? Chị chỉ nói không biết, bởi khi đi đưa thư, ba mẹ thường nhắc: Nếu địch bắt gặp phải tìm cách giấu tài liệu và chối bay biến, nếu không chúng sẽ tra hỏi đến cùng. Chị lớn hơn, ông bà lại căn dặn: Chiến trường ác liệt, con phải cố gắng công tác, giữ truyền thống gia đình, đừng để “mình người, đầu thú”. Một hồi chúng lôi chị về đồn Mương Điều do trung đội Mười Miên đóng – Mười Miên là một tên ác ôn khét tiếng ở đây. Cả đêm một mình trong phòng giam, lúc ấy mà nói tới lý tưởng cách mạng hay yêu nước, nói thật chị chưa biết gì, chị không sợ bị chúng đánh, chị nghĩ chắc đau hơn hồi chiều là cùng nên tâm niệm nhất quyết không được khai ra cô chú hay tới lui trong nhà mình. Có điều, chị chỉ sợ… ma nên khóc mướt, run cầm cập cả đêm ngồi thu lu một góc phòng, không dám nhắm mắt ngủ. Cho tới sáng hôm sau, bà nội tới năn nỉ mãi “con nít mà biết cái gì”, chúng mới thả và như vậy, có lẽ chị là người tù nhỏ nhất ở cái đồn khét tiếng ác ôn của tỉnh Vĩnh Long này.

Vào tháng 10-1961, chi bộ họp ngay trong nhà chị, lúc ấy có chú Bảy Quí, chú Ba Thạch, anh Hai Đưng và anh Hai chị (tên Nguyễn Đắc Thành), chú Ba Thạch lúc ấy là Bí thư. Có điệp báo. Chị ra lộ trước nhà hết hồn nhìn thấy quá trời là đồ rằn ri quấn khăn choàng đỏ của biệt kích, chỉ cách nhà chừng 200m. Lanh trí, chị vừa mở dây cột con heo nhà khoảng 60 – 70 kg lùa ra vườn cây rồi ra ruộng vừa chạy vừa đuổi theo la ầm ĩ ột ột… Ở trong nhà nghe động, các chú chạy hết ở phía sau, băng qua vườn ra ruộng lúa nấp. Lúc ấy con heo cũng phóng tuốt ra ruộng. Vết đục nước của chị và con heo quần đảo “xóa đi” vết đục do các chú chạy. Chúng bắn hù họa, chỉ mình ba bị thương do đạn lạc, may quá, thoát hết. Không bắt được ai. Tức quá chúng quay lại đá và chửi chị: Đồ đĩ chó!… Chị cãi “Tôi đuổi heo!”… Chưa hết, một năm sau, năm chị 12 tuổi, đó là năm 1962, một lần nữa chị lại cứu các cô, các chú du kích. Lúc này địch lùa dân vô ấp chiến lược. Má không chịu vô, bà sợ vô đó làm sao giúp được cách mạng, ba đi hoạt động không về nhà được. Bà đưa cả gia đình về rạch Bờ Rào ở xã Long Hưng, sau đó chạy về ngoại ở Thủ Ô, xã Vĩnh Thạnh, Lấp Vò. Chị Ba, Phó bí thư xã Vĩnh Thạnh dẫn du kích đi công tác về kêu má đổ bánh xèo, bánh khọt ăn. Chưa kịp ăn. Có mấy người đầu hàng dẫn biệt kích về đánh điểm ở ngọn Thủ Ô đang có an ninh mình đóng. Lại như có linh tính, chị ra trước nhà dòm, hoảng hồn thấy toàn đồ rằn ri, nón cối đang lội ào ào cách nhà chừng trăm mét. Má kêu chị chạy cho an ninh hay, còn bà chạy vô trong kêu du kích chạy và dẹp bếp củi, sề bánh. Trận này chỉ có ông Năm Bàng, Công an huyện Lấp Vò bị bắn chết, còn du kích, an ninh chạy được hết. Tức quá. Chúng lôi chị ra lấy carbin phang thẳng vô đầu gối, ống quyển bởi chúng nghi chị báo. May mà không gẫy chân. Khi chị vừa tròn 18 tuổi ba má mới cho chị đi thoát ly, đó là năm 1968. Chị được đưa vào quân y. Vô đây chị mới biết thật không dễ dàng gì với chị bởi hàng ngày, hàng giờ chứng kiến cảnh anh em đau đớn, đổ máu, nhiều cô chú anh em hy sinh ngay trên cánh tay chị. Chị nói: Lúc đầu nhìn anh em bị thương, hy sinh chị cứ ôm anh em khóc ròng…

Còn kỷ niệm thời kháng chiến. Nhiều lắm. Kể mấy ngày không hết. Ban ngày đào hầm chông, hầm bí mật, công sự phi pháo, kiếm củi, bắt cá, thay băng rồi gom băng đi giặt để sử dụng nhiều lần. Nhớ lại sao lúc ấy chẳng biết sợ là gì bởi đơn vị đâu có tiền mua băng mới như bây giờ. Mỗi lần thay băng cho anh em xong, gom băng gạc đầy máu, mủ tanh hôi đi giặt. Giặt tới khi miếng gạc vàng khè, rách bươm mới bỏ đi. Giặt phơi khô rồi cột thành cọc cho vô nồi hấp cách thủy trong hai thùng “dầu lửa” ghép lại, 4 tiếng mới lấy ra cất để thay băng dần cho thương binh. Thuốc mua về thì bỏ trong lu chôn dưới đất. Năm 1973, Quận trưởng Lấp Vò đem quân và máy cày về xã Long Hưng, Rạch Chùa, Bà Năm, lấy đất của dân để sạ lúa. Ban đêm Quân y và Công trường kết hợp cắt lúa đem vô giấu trong các lùm sậy sau đập dần, thu hoạch cũng được trên 300 giạ rồi đơn vị gởi ngay trong bồ lúa của dân. Khi nào gần hết gạo thì tới lấy. Ở đâu thiếu gạo chứ ở đơn vị Quân y của chị, thật tự hào mười mấy năm kháng chiến, chưa khi nào thiếu gạo nấu ăn cho thương binh. Tới 30-4, số lúa này cũng còn tới 60 giạ lận.

Có trận đánh 8 người mình bị thương, khiêng vào trạm một hồi thì hy sinh 5, chỉ còn 3 người rất nặng, như chị Bẩy Mụ bị thương ở não (chị Bẩy Nhỏ bán vé số góp tiền hơn 70 triệu đồng tiền lời bán vé số và tiền lương chế độ để xây Nghĩa trang Long Hưng mà rất nhiều báo đài đã đưa năm trước). Tới giờ tôi mới hiểu hết ý nghĩa từng đồng tiền nhỏ nhoi chị gom góp hôm nay cho đồng đội đã nằm xuống. Chị bị hôn mê 8 ngày. Bác sĩ Ba Dân rất giỏi ở tỉnh Vĩnh Long mới về công tác. Không có dụng cụ, ông kêu qua công trường mượn khoan, bỏ vào nước nấu sôi khử trùng. Ông Tám Định y sĩ đứng khoan, chị đưa nhận dụng cụ, bông băng. Ông Ba Dân mổ não, lấy ống chích hút máu tụ ra. Chị kể lúc ấy tóc chị Bẩy Mụ rất đẹp, dài chấm gót. Máu chảy ướt đẫm tóc mấy ngày sanh chí. Trời nóng hầm hập nằm trong nhà cao su, chí bò lổm ngổm từng đàn ra hai bên mái, đen kịt. Xót thương. Chị khuyên cạo đầu, chị Bẩy không cho. Năn nỉ riết chị Bẩy chỉ cho cắt tóc ngang vai. Mấy tháng sau vết thương chị mới lành nhưng đầu óc không được bình thường. Liên hệ gia đình đưa chị về chăm sóc. Mới về, chị ra vườn, nằm dưới hố mặt mũi lem nhem đầy sình đất, nắm từng cục đất to, ai đi ngang cũng chọi, miệng kêu ầm ầm như lựu đạn nổ mỗi khi thảy. Mọi người run quá. May thời gian sau chị khỏi.

Còn nữa! Có anh bộ đội bị thương, miểng pháo tiện ngang đùi nguyên một bên chân. Cấp cứu may vết thương cho anh xong, đồng đội phải bỏ nguyên bên chân bị cắt gói vô tấm cao su đào đất chôn. Thật không may, ba ngày sau anh hy sinh. Dưới cái nóng trên 400, bên chân của anh chắc chắn đã bốc mùi thúi ùm, khi đi đào có khi anh em mình lại hy sinh tiếp. Nhưng thương quá, muốn anh chết còn nguyên vẹn, mọi người vẫn ra đào lên trong đêm tối, mở tấm cao su mò lấy phần thân thể sắp lại bên người anh như anh đang ngủ rồi mới gói đem chôn lại. Chị còn kể chị đã vuốt mắt cho mấy trăm bộ đội, du kích đã hy sinh. Thương lắm, chết rồi nhưng mắt cứ mở trừng trừng. Chị không tin ma quỷ thánh thần nhưng chị lại tin tâm linh. Vừa an ủi anh em, vừa vuốt từ trên đầu xuống, có người, chị phải vuốt cả chục lần hai mắt mới chịu nhắm lại. Chị nói: hồi nhỏ sợ ma lắm, nhưng kề cận anh em hy sinh chị lại không hề sợ một chút vì “đồng đội mình không à!”.

Một năm sau, chị cùng anh em đi kinh Thầy Lâm lấy lương thực. Vừa tới Công trường sản xuất vũ khí đóng ở Rạch Chùa, các anh làm cấn 60 kíp nổ. Ông Mười Thơ bị nặng cụt cánh tay sau đó chết, còn ông Thanh, ông Hà bị miểng văng mù mắt. Ông Hai Quýt bên dân y đến mổ bỏ về nửa chừng cùng bà mụ Hai đi đầu hàng. Ngặt nỗi không chịu mổ nhưng ông ta lại không muốn cho ai cứu thương binh, có lẽ để lấy “thành tích” với địch khi đầu hàng nên kim khâu vết thương ông gom đi hết. Lúc ấy chị chỉ là y tá. Không may vết thương kín lại thì máu chảy riết, anh em mình cũng chết. Chị lấy đại kim may quần áo hơ lửa cho nóng rồi bẻ cong, luồn chỉ may vết thương hở. Vậy mà cứu sống được hai ông. Còn anh có cái tên là lạ – Quách Mo Len, du kích xã Bình Thạnh Trung bị lựu đạn nổ, lúc này địch ruồng dữ quá, quân y bị chia cắt với tỉnh và huyện. Chị đứng mổ luôn, khâu từng đoạn ruột cũng cứu sống được anh. Còn dịch truyền đơn vị gọt thật bén trái dừa rút nước ra chai, qua cái phễu lược có lưới nhỏ rồi truyền trực tiếp cho thương binh. Nước cất cũng lấy từ nước sông hoặc trong mùa mưa, lấy miếng cao su cắm cây 4 góc hứng nước về chưng cất để dành pha thuốc tê. Ấy vậy mà không có thương binh nào bị nhiễm trùng vì các “loại thuốc” “có một không hai” này! Cứ thương binh ngủ là các anh chị lại thức. Mỗi ngày chiến sĩ còn phải đào mấy chục hầm chông, kiếm bom pháo lép, bom bi cho công trường làm trái. Chị cũng bị vướng 3 trái 105, may mà không nổ, chứ không thì… Để quan hệ tốt với dân, tranh thủ sự giúp đỡ của dân mua thuốc, mua nhu yếu phẩm cho thương binh (bởi trong đồng chỉ cá rau là vô kể, anh em thương binh muốn ăn gì đơn vị chạy vô nhờ dân lo cho bằng được), các chị các anh bào chế philatop từ gan gà chứ làm gì có nhau, rồi đi cấy cho dân. Nhân dân quanh vùng rất thương mến đơn vị. Khi chị cần gì cho anh em thương binh, bà con chạy lo rất nhiệt tình.

Tháng 10-1974, địch chuẩn bị chiến dịch “phát quang vùng nước xoáy”, tập trung lính thám báo 854, tiểu đoàn bảo an 441 của Tiểu khu Sa Đéc phối hợp cùng lính đồn Nước Xoáy tiến đánh Quân y và Công trường huyện. Chúng muốn xóa sổ hẳn 2 đơn vị để đưa dân vô lập ấp chiến lược. Anh Sáu Châu (sau là Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp), lúc ấy là Huyện đội trưởng Huyện đội Lấp Vò xuống triển khai Nghị quyết. Khoảng 2 giờ chiều, địch bắn pháo. Chị trèo lên cây quan sát thấy chúng bò vô lổm ngổm. Hai cánh quân của địch (2 tiểu đoàn) 1 từ bốt Nước Xoáy và 1 cánh từ rạch Ông Thắng kéo qua. Tụt vội xuống, chị và anh em đưa 20 thương binh và thuốc, dụng cụ vô hầm bí mật, ngụy trang chu đáo. Anh Sáu chỉ đạo phải quyết tâm chiến đấu, bảo vệ căn cứ. Hai cánh quân vừa sáp vào vườn bắn M79 ngay điểm, chị và anh Sáu Châu bị thương. Sau khi băng bó vết thương, chị bàn với anh Tư Đực chuyển anh Sáu ra phía sau. Chị bị thương vào đầu và cánh tay không nặng sẽ cùng Vẽ và Hùng Cường ở lại chiến đấu. Ba chị em cứ vừa bắn vừa bò từ điểm này qua điểm khác nghi binh suốt từ 3 giờ chiều tới tận 7 giờ tối, cản 7 trận tấn công của địch, không cho địch tràn vào cơ quan soi hầm thương binh. Tuyệt đối không để thương binh bị thương lần thứ hai. Sáng hôm sau, anh Sáu Châu chỉ đạo phải trở về căn cứ. Dù cả hai chị em bị thương, chị và Vẽ vẫn xung phong trở về tiếp tục chiến đấu. Trận chiến giằng co kéo dài 14 ngày đêm, 2 chị em diệt được 12 tên, 8 tên bị thương, thu 1 khẩu R15, 8 ba lô, 8 trái mìn và 12 quả lựu đạn, không kể 2 tấn thuốc nổ TNT trên tỉnh mới gởi về vẫn còn nguyên vẹn. Qua trận này, ông Năm Vinh (ông già chị Tư Hạnh sau là Bí thư Đảng ủy Khối) hỏi tìm: Cô Điệp là cô nào? Gặp chị ông la lên: Con gái sao vừa đẹp vừa giỏi quá bay! Sau đó, mừng húm, ông tặng chị luôn 1 khẩu AK…

Sau giải phóng, chị đã đảm trách nhiều chức vụ quan trọng: Vô cấp ủy phụ trách phụ nữ, quân y, Chủ tịch Hội LH Phụ nữ tỉnh, Phó trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy. Năm 2003, chị nghỉ hưu nhưng từ đó đến nay chị lại lao vào tham gia nhiều hoạt động xã hội: Vận động nhiều quĩ từ thiện để làm cầu, làm đường nông thôn, mua xe chở bệnh từ thiện, xây nhà tình nghĩa… Cái chất tiên phong của người cựu chiến binh ngày nào luôn luôn tỏa sáng trong chị ở mọi lúc mọi nơi. Chị kể: Lớn tuổi rồi nhưng lạ lắm. Những chuyện thời kháng chiến hầu như lại không hề quên. Nó cứ hiển hiện lên từng đêm, từng đêm trong đầu. Tôi hỏi, tôi nghe chị đã làm hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang về những thành tích trong thời kháng chiến, nhưng tới nay mấy năm rồi vẫn không có tin tức. Sao chị không hỏi? Ánh mắt lơ đãng: Tôi may mắn còn sống, còn được chứng kiến ngày đất nước được độc lập, hơn nhiều và rất nhiều đồng đội của mình, trong đó có ba, anh trai và em gái tôi, máu thịt của họ đã hòa vào lòng đất Mẹ, để tất cả chúng ta mới có ngày hôm nay. Sự thiệt thòi của tôi có là gì so với họ…

Chỉ nghe ít câu chuyện chị kể, nhưng tôi đã hình dung sự khốc liệt đáng sợ của cuộc chiến tranh, dù nó đã đi qua hơn 40 năm. Tôi cũng “nhìn thấy” khí thế cách mạng đầy hào hùng, vinh quang của một thời chống Mỹ và tình nghĩa thủy chung, gắn bó trọn vẹn của họ không khác gì anh em ruột thịt khi sống và tới tận lúc chết, cảm nhận được sự hy sinh, mất mát đến đau nhói con tim của những người Cộng sản khi đã xác định mình tham gia cách mạng vì độc lập tự do của đất nước, của quê hương. Và cái dữ dội, ác liệt của từng trận chiến đấu càng làm nổi rõ thêm hình ảnh lồng lộng, ngời sáng của người lính bộ đội Cụ Hồ, luôn tự hào đã được sống, chiến đấu và hy sinh cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.

Chị chưa được phong Anh hùng nhưng đồng đội của chị ở Quân y huyện Lấp Vò ngày nào, từ lâu luôn xem chị như một anh hùng …

Phạm Thị Toán
(Hội LHVHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 390

Ý Kiến bạn đọc