Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ngựa non háu đá ngựa già thảo mai (kỳ cuối)

(Đáp lời GS. Nguyễn Đình Chú trên Tạp chí Xưa & Nay, số tháng 6-2017)
Kỳ cuối (Tiếp theo số báo 459, ngày 20-7-2017)

Hình ảnh về sự hối quá của GS. Nguyễn Đình Chú quá thô tục và sự ví von hai hệ qui chiếu cũng quá ngây thơ như trẻ đồng dao: Bên nào thắng / Bên nào thua / Kéo cưa lừa xẻ… như trẻ kéo co. Cái dây kéo co nó vô tri vô can. Hệ nào thắng hệ nào thua mới là vấn đề. Phạm Quỳnh là vô can sao? Cụ Phan Chu Trinh suốt đời gối đầu lên Ẩm Bằng toàn tập (Lương Khải Siêu). Cụ Phan Bội Châu cuối cùng chỉ tin tưởng vào Nguyễn Ái Quốc. Phạm Tuấn Tài hết hạn tù Côn Đảo về thì chết vì kiệt sức. Nhưng trước khi chết, ông đã khuyên các anh em đồng chí của ông (Quốc dân đảng) hãy đi theo con đường của những người cộng sản (Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975).

Đối tượng phải phủ định của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam là thực dân Pháp và phong kiến Nam triều. Cá nhân nào, hội đoàn nào… tham dự vào quan hệ đó thì phải chấp nhận. Sự tổn thất của hai bên là không tránh khỏi. GS. Chú lại đem tính mệnh một con người, đem cái chết của Cụ Phạm Thượng ra làm điều kiện nghiên cứu học thuật ư? GS. Chú có bắt được người Pháp phải làm rõ cái chết của các cụ Nguyễn Văn Tố, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn An Ninh… được không? Cái giọng của GS có vẻ sụt sùi chị em quá, cha đưa mẹ đón, Trời cao đất dày ơi!… Trước khi trách cứ các chiến sĩ tự vệ Huế ngày ấy, GS. Chú hãy trách cứ De Gaulle sao lại ra mật lệnh cho quan tư tình báo gián điệp Castela phải liên lạc ngay với Ngô Đình Khôi và Cụ Phạm Thượng để lập lại chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam. Cụ Thượng Phạm đã biết điều rồi. Đã lui về viết Hoa Đường tùy bút, gớm ghê cho cái sự ấm lạnh ở đời rồi. Sao mà rách việc thế, mấy ông Tây già dái non hột, sao hồi 1940 ở Lạng Sơn, sao hôm 9-3-1945 không ra mà giữ lấy chánh quyền thuộc địa Nhà nước Bảo hộ… Mà điều này Cụ Thượng Phạm cũng linh cảm thấy từ năm 1922, ở tận Paris lận, hôm đến xem Nghị viện Nước Mẹ Đại Pháp nhóm họp: … “Nhưng mà đương buổi chiến tranh bối rối, những sự oan uổng ấy làm sao mà tránh cho khỏi được. Vả lại, dù thế nào nữa, việc đã dĩ nhiên rồi, bây giờ nói sao cũng không thể khôi phục mệnh người nữa. Như vậy thời dở dói ra làm chi, cho thêm nỗi đau lòng…” (Thượng Chi văn tập, Thuật chuyện du lịch Paris. NXB Văn học. H.2006. Trg.1.110). Đấy, Cụ Thượng Phạm, từ năm 1922 đã thấy như thế. Mà GS. Chú nên xem thân nhân các nhà văn học như Trần Đăng, Nam Cao, Dương Tử Giang, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân… họ có đòi “lập một đàn tràng giải oan”… như GS và các đồng thanh đồng khí hay không?! Trong Tiếng Việt hiện đại, có mấy từ rách chuyện, rách việc… kể cũng hay, nếu dùng đúng chỗ!

GS. Chú lại bảo sự phê phán Nam Phong và Phạm Quỳnh là chuyện riêng của miền Bắc sau năm 1954, và cho cả đến sau 1975. Ở trong Nam, ở cõi ngoài người ta tôn vinh lắm. Rồi kết lại rằng tôn vinh là do văn hóa đơn thuần. Phê phán là do chánh trị đơn thuần. Đúng thế! Hồi ấy trong Nam cụ thể là chánh quyền Sài Gòn, họ đối nghịch với miền Bắc. Cái gì miền Bắc Việt cộng chê thì họ khen và ngược lại. Còn chánh trị đơn thuần cũng đúng. Chuyện xưa, có người đến đám hỷ thì khốc (khóc) mừng. Đến đám hiếu thì cười để… phân ưu. Ở đám nào cũng được no đòn. Cho nên cái chánh trị đừng có nói ồn ào là giản đơn là xong! Đang lúc phải đánh Pháp đuổi Nhật, phải đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào… mà lại đi tôn vinh những người đã và đang làm việc rất đắc lực cho ngoại bang có họa là chập cái… IC! Tôi thì tôi nghĩ thế này GS ạ! Cái Nam Phong tạp chí hồi ấy nó cũng như cái casino văn chương. Cứ vào đấy tha hồ khảo Đông cứu Tây, lại được miễn phí. Chỉ nhớ là đừng quấy rối cuộc trị an của Nhà nước Bảo hộ. Ngày nay GS lại lấy cái văn chương, cái chữ Quốc ngữ của casino Nam Phong tạp chí ra mà tôn vinh Cụ Phạm Thượng thì chẳng là văn chương đơn thuần hay sao? Tôi nói cái Casino Nam Phong là bởi vào đấy mà khảo cứu Đông Tây quốc văn quốc ngữ thì được, chứ vào đấy mà ký cái Hiệp định Genève hay dựng cái Đại học Sư phạm Hà Nội thì đâu có được. Có mà mất đầu là cái chắc.

Về hai cái lý mà GS đưa ra để thử lý giải Nam Phong tạp chí và Phạm Quỳnh, tôi thấy GS là người thuộc nằm lòng các nguyên lý triết học nhưng vận dụng vào đời sống thực tế, lại như cái anh vừa nói, chỗ đáng khóc lại cười, chỗ đáng cười lại khóc.

Về sự phụ thuộc lẫn nhau

Rằng nhân loại và Việt Nam vốn có hai quy luật cơ bản là độc lập và phụ thuộc lẫn nhau. Một nước mất chủ quyền chính trị thì chỉ có hai phương án: bạo động và ôn hòa. Cụ Phạm Thượng, ông Trương Vĩnh Ký, ông Nguyễn Văn Vĩnh đi theo phái ôn hòa theo ngọn cờ của Cụ Phan Chu Trinh (bất bạo động) mà làm việc với Pháp, đặt quan hệ với Pháp. Nhưng là phụ thuộc lẫn nhau hay phụ thuộc, GS không nói rõ. Thôi cứ cho là phụ thuộc lẫn nhau. Không có bên này thì không có bên kia. A phải sống phụ thuộc vào B và ngược lại. Nghĩa là Pháp thừa công nghệ mà thiếu nguyên liệu. Hai bên quan hệ với nhau và phụ thuộc vào nhau cùng tồn tại. Trong thực tế có như vậy không? Hẹp hơn nữa, Cụ Phạm Thượng đặt, hay tạo ra, hay kiến tạo quan hệ Pháp – Nam. Có đấy. Nhưng bản chất quan hệ này như thế nào? Bằng một cái Thư ngỏ Cụ Phạm Thượng đứng ra xin lại cái Tổ quốc. Đúng là hơn cả Trương Nghi Tô Tần, xin người Pháp cho một cái quy chế quân chủ lập hiến. Người Pháp có cho nước Nam (chứ không riêng gì Cụ Phạm) cái gì không? Hai bên đã phụ thuộc lẫn nhau như thế nào từ 1847 đến 1954? Theo tôi thì có ít nhiều. Như lính thợ cho Thế chiến II là 20.000 người. Còn Thế chiến I thì tôi không rõ. Rõ ràng là không có 2 vạn cái bia thịt này thì người Pháp phải tự lo lấy. Mà người Pháp thì đang thiếu, hay không có, hay không muốn có, nên Anh Pháp nhờ Em Nam, phải nhờ Em Nam, phụ thuộc lẫn nhau đấy chứ. Giáo sư Chú tưởng đã mở mảnh đất mới cho các Cụ Phạm Thượng Chi, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… hồi sinh hóa ra GS lại đào sâu thêm cái mảnh đất để cho các cụ được đào sâu mà chưa được chôn chặt… Khổ thân các Cụ. Hậu sinh mà khả như thế thì các cụ đành… bất khả thôi. Mới biết cái siêu triết học, siêu minh triết nó tỏa triết, nó thiết lắm, thâm lắm, GS ôi!!!

Ta nói hẹp lại, Nam Phong tạp chí và Cụ Phạm Thượng và Phòng Chánh trị Phủ Toàn quyền có quan hệ như thế nào? Bẩm Thầy, Thầy tha cho em, hôm qua nhà em bị cúp điện, bẩm bài này con sợ lắm. Cụ Trần Đình Nam đã nói… Ông Huỳnh Bá Tòng đã nói… Cụ Phạm Khắc Hòe đã nói… Cựu hoàng Bảo Đại đã nói… Người đương thời đã nói… Thôi thầy cho con xin điểm liệt, con cắn bút cắn giấy xin Thầy… Năm Châu Đốc có lời xin GS tha cho Trò Này.

Động cơ và hiệu quả

GS. Chú cho rằng nước ta chủ về động cơ. Nước người chủ về hiệu quả. Bởi động cơ nó hư huyễn mà hiệu quả nó nhỡn tiền. Mèo đen mèo trắng đều được, miễn là có gắp chả chuột. Chuột luộc ép lá chanh, dân Hùng Yên đã ra tay thì bố thằng Tây cũng thèm nhỏ dải… Có tờ báo hôm nay, vở kịch nói, thiên tiểu thuyết, văn Quốc ngữ là HIỆU QUẢ còn CẦN VƯƠNG, TRƯƠNG VĨNH KÝ, NAM PHONG TẠP CHÍ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Việt Minh, Cộng sản… đều là các ĐỘNG CƠ… Mà dân thì trước đây nói Dân dĩ thực vi tiên, nay có thể nói Hiệu quả vi tiên, vi thiên…! Cái lý này trước hết nó vô đạo lý, phản nhân văn. Cứ theo lý này thì xưa nay không cần ngành Tư pháp. Mà Tòa án thì nhẹ việc lắm. Cứ chiếu theo Hiệu quả mà… Cá nhà ai mà vào ao ta là cá của ta cả. Cắm sừng cắm câu. Ao sâu là… Hiệu quả! Như thế xã hội đâm loạn. Trong nhà ngoài ngõ vô luân. Có cái anh ngồi ở quán bia tóm tắt Trăm năm cô đơn chỉ trong có một câu: Đúng là Anh khỏe hơn Bố. Mẹ cũng bảo thế. Khỏe mới là hiệu quả, còn lại là… Động cơ!

Gần đây có mấy vị xướng lên cái thuyết: Nhiều nước khác họ có chiến tranh cách mạng gì đâu, cũng giành được Độc lập, như nước Thái Đại Xiêm La… Rồi trước khi người Pháp đến, Việt Nam chưa có 1 mét đường xe lửa. Chưa có Nhà hát Lớn… Chắc họ từ lý thuyết của GS mà ra. Vì họ là thế hệ học trò của GS. Như Tấn sĩ Nguyên An, rất tán thành Tấn sĩ Nguyễn Bá Thành, xem Thơ Việt Nam 1945-1975 chỉ có 6 vị tiêu biểu là Hồ Chí Minh… Thanh Tâm Tuyền (xem bài kỳ trước). Chắc Loại hình tác giả là Hiệu quả, còn Cộng hay chống Cộng chỉ là… Động cơ. Hóa ra triết học của GS. Chú lại trở lại chủ nghĩa thực dụng cực đoan, phi nhân phản đạo, trở lại cái thuyết mèo trắng mèo đen của Đặng…

Chủ nghĩa tư bản, cơ chế thị trường, thặng dư giá trị từ cổ điển đến hôm nay đều ưng cái bụng về thuyết hiệu quả lắm lắm. Mà tệ nạn xã hội hiện nay… cũng là hiệu quả đấy. Cha giết con vợ giết chồng hàng xóm giết lẫn nhau… cũng vì hiệu quả: Tiền. Ông Huỳnh Văn Nén được đền bù 4,6 tỷ do bị tù oan lại vẫn kiện cha đẻ – người đã đẻ ra ông, lại bán hết ruộng vườn nhà cửa kêu oan cho ông – Vì sao thế? Hiệu quả đấy, vì tiền đấy!

Cũng cái thuyết này, ngành Giáo dục – Đào tạo trong bao nhiêu năm qua… Đến như Trường Tiểu học Nam Trung Yên (Cầu Giấy – Hà Nội)… đều… để đạt Hiệu quả đấy. Thôi! Con cắn rơm cắn cỏ lạy Thầy Chú! Chứ cứ Hiệu quả mà không xét Động cơ thì… văn chương chữ nghĩa mà là gì? Cần gì phải trường phải lớp cho nó tốn công Thầy nước sông!

GS. Chú phát biểu rất chân thành cảm động:

“Tôi xin được nói thật ý nghĩ của tôi hiện nay là: Trương Vĩnh Ký là người tiên phong của công cuộc hiện đại hóa văn hóa và phần nào cũng là văn học Việt Nam thời cận đại… Còn Phạm Quỳnh với Nam Phong tạp chí thì đã đi bằng hai chân lý thuyết và thực thi… đáng coi là nhà đạo diễn của công cuộc hiện đại hóa văn hóa văn học nước nhà của những năm đầu của thế kỷ XX” (Bđd. Trg.65).

Vâng! Cứ theo thuyết Hiệu quả thì có vẻ như thế. Nhưng lại kết hợp với thuyết Động cơ thì lại không phải thế. Nếu công cuộc Đồng hóa dân tộc An Nam theo văn hóa Pháp mà thành công. Nếu Paul Bert không chết đột ngột thì họ Trương tiếp tục “bao vây nhà vua, loại bỏ các sủng thần, sắp xếp lại Viện Cơ mật” (Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ) thì sẽ có vĩnh viễn cái xứ Đông Pháp hay An Nam thuộc Pháp, thầy trò ta cứ toi – moi mà tò mò thôi, cần gì và làm sao còn xếp Ví dặm Nghệ – Tĩnh vào Di sản văn hóa được nữa. Cái Hiện đại văn hóa của Toi nó Tres biens quá. Nếu công cuộc của Lại Bộ Thượng thư Phạm Thượng Chi thành công, thì Toi et moi lại phải khăn đóng áo dài thẻ bài áo mũ… mà hô: Hoàng đế vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế, mỗi khi vào chầu. Xong buổi chầu, về thay bộ complê cà-vạt đi khiêu vũ, nhớ má-đàm (madames) quá. Thì làm gì phải có cái Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973)… và Toi et moi et… sẽ cất vang bài Mac-xây-e mỗi đầu tuần ở công sở! Mỗi kỳ quốc khánh Nước Mẹ (14-7) lại vang lừng sâm-banh cứ là tràn ngập… Văn hóa văn học xứ An Nam thuộc Pháp, xứ Đại Nam Trung kỳ cứ là… Toi et moi mỗi người đều có hai bộ quốc phục Đông – Tây kết hợp thì quá hiện đại rồi! Tiếng Việt lơ lớ tiếng Tây bồi bồi cũng vui tai chứ!

Nhưng thưa GS, à quên, toi có điều kiện học hành, có bằng cấp công việc… có thể như thế. Còn hàng chục triệu anh Pha chị Dậu Chí Phèo Lão Hạc… sẽ ra sao? GS đến Nọc Nạn – Bạc Liêu(1) xem cái quan hệ giữa chủ điền và tá điền Hai Nghĩa (Nguyễn Văn Nghĩa) năm 1928 nó như thế nào?

Năm Châu Đốc có điều thắc mắc mong GS. Chú tường minh cho: Công trình của Thầy Petrus Ký, của Cụ Phạm Thượng Chi đến như thế, của ông Nguyễn Văn Vĩnh đến như thế mà sao nước Pháp, người Pháp họ không tỏ ra “phụ thuộc lẫn nhau” với nước Nam và người Nam ta. Ngay từ 1885, “Anh Pháp” đã qua mặt “Em Nam” ký Hiệp ước Thiên Tân với Tàu. Đến năm 1940, các anh Pé-tanh và Đờ-cu chịu cúi đầu trước người Nhật, để cho các “Em Nam” chết đói tới 2 triệu người vào năm 1945 (GS.Văn Tạo và cộng sự Nhật: Nạn đói ở Việt Nam năm 1945). Còn ông Nguyễn Văn Vĩnh, quan hệ công lênh là thế mà họ đặt điều kiện: Hoặc vào tù hoặc phải làm gì cũng được để trả nợ Ngân hàng Đông Dương, đến nỗi ông Nguyễn phải đi đào vàng trả nợ. Vàng chẳng thấy, đã thấy cái quan tài của ông từ sông Sê-pôn (Lào) đưa về Hà Nội. Thế thì “Anh Pháp” chẳng hay ho, chẳng đáng làm Anh, chẳng nên quan hệ làm gì? Mong GS. Chú đừng vẽ rắn thêm chân. Cứ tôn vinh Cụ Phạm Thượng như thế thì Cụ Phạm thành ra con người vuông như trong cái chuyện cổ Con rắn vuông vậy!

Trước khi người Pháp xâm lược Việt Nam, xóa thi chữ Hán, buộc phải học tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ thì các giới truyền giáo phương Tây đã đến Việt Nam – khoảng thế kỷ XVI mà ông Phan Huy Lê vừa ca ngợi ở Hội nghị Qui Nhơn – Bình Định với chữ Quốc ngữ năm ngoái (Xưa & Nay, số 472, tháng 6-2016). Không phải họ có ý định đem đến cho người Việt Nam thứ văn tự dễ học dễ đọc mà họ có chủ ý dùng văn tự mới La-tinh hóa Tiếng Việt để cắt đứt người Việt với văn hóa truyền thống là văn tự Hán, để đưa người Việt Nam vào quỹ đạo văn hóa Thiên Chúa giáo, mở rộng Nước Chúa, dựng nhà thờ, cắm cây Thánh giá lên toàn cõi Đông Dương và từ đó ra toàn bộ Đông Á.

Thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam – cuộc bình định này kéo dài từ 1847 cho đến Hiệp ước Patơnốt (1884). Chiếm được Việt Nam, thực dân Pháp đã “bức tử chữ Hán” (GS. Trần Văn Giàu), đưa chữ Quốc ngữ vào. Từ Trương Vĩnh Ký cho đến Phạm Quỳnh chỉ là những công cụ thực hiện ý đồ của người Pháp. Lúc đầu người Việt tẩy chay chữ Quốc ngữ. Pháp cần người Việt biết chữ Quốc ngữ, nên rất ưu đãi. Đến nỗi bưu tá bưu điện Hà Nội có lương đã đành, còn được cấp xe tay. Anh kéo xe cũng được cấp lương (Hà Nội Xưa & Nay. Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn – 2015). Trình độ khác nhau là anh bưu tá biết đọc được tên người, địa chỉ trên bì thư hay bưu phẩm. Còn anh kéo xe thì không. Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí kể ra cũng có công giúp anh bưu tá kia đọc được văn Quốc ngữ, khi anh bưu tá trưởng thành nên chủ sự (trưởng ban) hay chef de… (cấp trưởng như sếp ga, sếp bưu điện, sếp… sếp…). Lược đồ chính là như thế. Chữ Quốc ngữ là một thảm họa không thể hoán cải (Cao Xuân Hạo) là rất đúng.

Song, chúng tôi không phủ định đóng góp từ Petrus Ký đến Phạm Quỳnh, là cái tác dụng ngoài ý muốn, tác dụng phái sinh từ mục đích chính của Nhà thờ Thiên Chúa giáo và Nhà nước Bảo hộ Pháp ở Đông Dương. Nam Phong tạp chí giúp cho người mới học chữ Quốc ngữ. Mà lúc đó sách đâu có ê hề như bây giờ. Nam Phong lúc đó nó như cái tờ báo của Tênaeđiê ngồi chờ bữa ăn của Giăng Van Giăng. Không còn việc gì để làm. May mà có tờ báo để đọc đi đọc lại. Nam Phong được Pháp bảo trợ toàn bộ.

Chúng tôi không phủ nhận đóng góp của Nam Phong và Phạm Quỳnh với các chủ đề mà GS đã nêu. Nhất là đã đăng trọn công trình triết học rất đáng giá của Cụ Đạm Trai Hồ Phi Huyền, nhạc phụ của GS. Đặng Thai Mai, với lời Bản bảo trân trọng, xem Cụ là bậc Thạc Nho (quyển Nhân đạo quyền hành. Đăng trên Nam Phong khoảng 1929-1930. NXB Lý luận chính trị. H.2007). Hoặc Phạm Quỳnh đã tấu trình lên vua Bảo Đại xin khen thưởng cho Đội Hoàng Sa… Chúng tôi vẫn nhớ truyện Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn) hoặc thơ Ngụ ngôn La Phông-ten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch…

Ta nên xem chữ Quốc ngữ như chữ Hán. Nhờ bản lĩnh, người Việt đã dùng công cụ của kẻ thù cho công cuộc của mình. Sao lại phải mang ơn kẻ thù. Nhưng nên có Bảo tàng chữ Quốc ngữ để nghiên cứu là chính. Riêng Cụ Phạm Thượng Chi, chúng tôi đề nghị nên xử với Cụ theo lễ Phụ trái tử hoàn; Dương thanh danh, hiển phụ mẫu (2). Dù gì thì Cụ đã sinh thành, nuôi dưỡng nên các GS. Phạm Khuê, nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ai yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và sáng tác nhiều ca khúc ca ngợi Đảng như nhạc sĩ Phạm Tuyên. Cho nên vuốt mặt phải nể mũi. Yêu con cũng phải biết cách vừa lòng cha mẹ như Mạnh Phú Tư. Đại cuộc quốc gia xong rồi, thắng lợi rồi, phải nên mã thượng, phải nên thương xót những đồng bào của chúng ta, vì lẽ này lẽ kia, dẫu đã thế này thế kia… Dẫu sao cũng là giọt máu con Lạc cháu Hồng vương vãi. Xin dẫn lại mấy câu của Chu Giang để kết lại bài này:

Trần Văn Chánh ca ngợi Phạm Quỳnh là bậc chính nhân quân tử. Phạm Toàn ca ngợi Tầm cao ái quốc và chiều sâu bác học của Cụ Phạm. Nay xin truy tặng Cụ Bắc đẩu bội tinh Tầm cao ái quốc, ý Cụ thế nào? Cụ bảo:

Cứ xin cho được làm thinh
Kể ra dơ dáng dạng hình lắm thay
Nếu còn nhớ đến ta đây
Yên cho ta nghỉ đợi ngày gặp nhau!
(Luận chiến văn chương. Q.3. NXB Văn học – 2015. Trg.209)

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 460

——————————-
(1) Nọc Nạn: Năm 1928 xảy ra cuộc huyết chiến ở thôn Nọc Nạn, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữa chủ điền có quan binh Pháp hỗ trợ với gia đình tá điền Nguyễn Văn Nghĩa. Do chủ điền nhiều năm cướp thóc lúa của nhà Hai Nghĩa. Cuộc đó, nhà Hai Nghĩa mất 5 người thiệt mạng. Bên kia, một quan tư Pháp và mấy lính dõng bị chém chết. Nay còn Nghĩa trang gia đình Nguyễn Văn Nghĩa gần chợ Nọc Nạn.
(2) Phụ trái tử hoàn: Đời cha mang nợ đời con phải trả.
Dương thanh danh, hiển phụ mẫu: Con cái có danh vọng, mẹ cha được vinh hiển.

Ý Kiến bạn đọc