Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Ngựa non háu đá ngựa già thảo mai (1)

(Đáp lời GS. Nguyễn Đình Chú trên Tạp chí Xưa & Nay, số 6 – 2017)

Sự hối quá (2) của GS. Nguyễn Đình Chú trong bài “Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí thử tìm một cách lý giải” trên Tạp chí Xưa & Nay tháng 6-2017 chứng tỏ sự không nhất quán trong tư tưởng và cung cách nghiên cứu khoa học chưa đúng mực, như GS tự nhận là Ngựa non háu đá. Nhân vớ được một tài liệu của Sở Mật thám Đông Dương nói về quan hệ của Phạm Quỳnh với thực dân Pháp – Dễ dàng quá nhỉ, dạo ấy, năm 1960, chắc nó vương vãi ở sân Bệnh viện E chăng? Mà không chua xuất xứ: tên và nguồn tài liệu để bạn đọc tìm hiểu thêm. Thứ tư liệu kiểu hàng dưa quán nước này ai mà tin được. Trong một đêm trông con ở phòng cấp cứu mà viết được bài nghiên cứu về Phạm Quỳnh và Nam Phong thì – nếu không phải có sức cường ký như Lê Quý Đôn – thì đúng là ngựa non háu đá, rất giống một vị đồng châu cũng ngựa non háu đá về già thảo mai! Không có gì để hơn ai cũng không có gì để kém ai! Khiếp! Nghiên cứu văn học mà so kè như thợ thổ mộc thì xưa nay có một.

Xem phần Ghi thêm trong bài viết (Bđd. Trg.53) thì không còn là ngựa non háu đá mà rất chân chỉ hạt bột theo truyền thống mo cơm quả cà, thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn… nhưng lại gặp đâu nhặt đấy như người mót khoai mót lúa, đầu thừa đuôi thẹo miễn là khoai; bông dài bông ngắn miễn là lúa, cứ năng nhặt là… chặt bị. Dạo trước có người nói GS chắc tuổi già sức yếu nên đọc được ít. Nếu chưa đủ thông tin mà cứ tung ra luận điểm như Bí thư Huyện ủy Bời trong truyện ngắn Phiên chợ Giát của cố nhà văn Nguyễn Minh Châu – lại cũng đồng châu phổ! Vì nếu GS đọc bài của Cụ Đặng Minh Phương: Bài Một mối thân tình của ông Sơn Tùng: Nhiều điều bịa đặt” trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 450 ngày 18-5-2017, thì GS. Chú không dám nói năng liều mạng như thế. Cụ Tôn Quang Phiệt ngay sau ngày giành chính quyền ở Huế được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, trăm công nghìn việc tối tăm mặt mũi suốt ngày (Lúc ấy ở Huế còn hơn 5.000 lính Nhật và cuối tháng 8-1945, De Gaulle đã có mật lệnh cho tình báo nhảy dù xuống Huế tìm gặp ngay Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh để lập lại chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam). Cụ Tôn Quang Phiệt được bầu vào Quốc hội khóa I, 1946. Đến khi họp Quốc hội Cụ mới ra Hà Nội được. Thế thì làm sao có chuyện Cụ Tôn Quang Phiệt ra Hà Nội báo cáo với Bác Hồ: Phạm Quỳnh đã bị khử! Đến nỗi nghe hung tin, Bác Hồ đã duỗi hai tay, gục mặt xuống bàn, lúc sau mới ngẩng lên… Cụ Phạm…! Rõ là bịa đặt. Mà bịa đặt cho lãnh tụ, cho danh nhân chứ đâu chỉ cho thầy đồ Chú. GS. Chú lại viết Lời giới thiệu cho bộ tác phẩm Tôn Quang Phiệt 1900-1973, Hai tập, Ba quyển, đến mấy nghìn trang, NXB Văn học – 2014. Trong phần Hồi ký, Cụ Phiệt tịnh không nói gì đến Phạm Quỳnh. Cụ cũng nói rõ ngày tháng rời Huế ra Hà Nội họp Quốc hội. Nên ta chỉ áng chừng mấy ngày trước khi khai mạc kỳ họp Quốc hội khóa I, đủ thời gian bàn giao công việc, thu xếp việc nhà và đi tàu hỏa hay ô tô từ Huế ra Hà Nội. Rõ ràng là GS. Chú đã đọc bản thảo Tôn Quang Phiệt 1900-1973 một cách qua loa đại khái rồi viết theo cảm hứng. Đọc mà không suy luận, không “soi chồng văn bản, thấu thị xuyên tầng” (Văn Tâm tiên sinh). Thế thì hàng vạn học trò của GS. Chú đều thành thầy giáo giỏi, thành Tấn sỹ văn học xuất sắc như TS. Nguyễn Đức Thuận (GS trích dẫn trong bài). Hay nhà văn, nhà lý luận – phê bình văn học, hội viên Hội Nhà văn, Tấn sỹ văn học Nguyên An, một trong những người giám định bản thảo Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975, đề tài quốc gia trọng điểm do Tấn sỹ Nguyễn Bá Thành thực hiện (trong không đầy 2 năm chỉ với khoảng 350 triệu USD), trong giai đoạn này chỉ xếp có 6 nhà thơ tiêu biểu là: Hồ Chí Minh – Tố Hữu – Chế Lan Viên – Vũ Hoàng Chương – Bùi Giáng – Thanh Tâm Tuyền. Trong đó chỉ có tác giả câu thơ:

Sẽ có ngày ta về lại Thủ đô
Lưỡi lê no máu giữa Tây Hồ.
(Vũ Hoàng Chương)

Là không phải người miền Trung. Thế này thì Tấn sỹ Nguyễn Bá Thành còn cao tay hơn cả Sơn Tùng (quê Diễn Châu – Nghệ An). Mà Tấn sỹ Nguyên An (đồng hương với Thanh Tâm Tuyền) còn “trách nhiệm, thiên chức” hơn cả sư phụ Chú. GS. Chú lại nói Tố Hữu cứ day dứt bao nhiêu năm về cái chết của Phạm Quỳnh… Thế này là đương sự có niên quan rồi! Nhưng xin GS. Chú cho biết xuất xứ của tư liệu này! Hay là ở Hội đồng hương miền Trung, ở Lý luận – phê bình văn học miền Trung (NXB Đà Nẵng), hay ở chỗ gốc “Cây táo ông Lành” ??? Luận cứ khoa học theo kiểu Thầy Đồ xưa, thì ông Đỗ Trung Lai nói cũng có lý: Thừa Sỹ này mà thiếu Sỹ kia!

Anh-minh-hoa---Ngua-non-hau-da-ngua-gia-thao-mai

Cũng cần nhắc lại rằng GS. Chú đã rất sai lầm khi cho câu “Truyện Kiều còn, Tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn” là hoàn toàn chân lý. Nguyên câu đó Phạm Quỳnh nói năm 1924, đầy đủ là: “Truyện Kiều còn, Tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ” (Nam Phong, số 86, năm 1924). Sư phụ của GS. Chú, cố GS. Đặng Thai Mai nói câu đó là lập dị, không có cơ sở khoa học. Chúng tôi cho đó là câu sai hẳn về khoa học, phản động về chính trị. Cần phải xem bài Truyện Kiều Phạm Quỳnh viết năm 1919, in lại trong Thượng Chi văn tập (NXB Văn học – 2006), mới thấy bản chất của câu nói này. Cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư trong Hà Nội Xưa & Nay (NXB Hội Nhà văn – 2015) còn nói thẳng ra là Pháp sai Phạm Quỳnh tổ chức tôn vinh Truyện Kiều. Còn làm cả phim Truyện Kiều, nhân vật thế nào, cảnh nào cảnh nào dựng ở đâu, quay ở đâu. Kinh phí chắc là Hội Khai trí Tiến Đức có nuôi được mệ gà Gauloi, được mấy lứa trứng, chắc cũng đủ trang trải. Chúng tôi chỉ phiền tiếc là GS đọc ít quá về đối tượng cần nghiên cứu chứ không dám khẳng định là GS. Nguyễn Đình Chú đọc tất cả đấy nhưng cứ biện thuyết như thế đấy. Có dám nuốt búa (3) thì ra đây!

Ấy, cái cung cách nghiên cứu gia trưởng thầy đồ xưa nó cản trở khoa học thế đấy! Nhân chi sơ… Thánh bảo, Thầy bảo, Tao bảo… Trò kia, giơ tay ra đây! Trò kia đưa cái thước cho Thầy, quái, tao mới để đây hôm qua. Này, nhớ nhá! Cá không ưa muối… này! Trò kia, châm đóm cho Thầy! Các con phải nhớ lời Thầy chứ!

Còn nhiều người có cung cách còn quá quắt hơn GS. Nguyễn Đình Chú. Chúng tôi sẽ hầu chuyện sau.

Năm 1960, GS. Chú cho Nam Phong và Phạm Quỳnh là làm chính trị, chính trị của bọn tay sai thực dân phong kiến. Đến năm 2017, GS. Chú lại hết lời tôn vinh, mượn lời người phía Nam trước đây xem Phạm Quỳnh là Descartes của Việt Nam. Mượn lời người nước ngoài mà xem Phạm Quỳnh là nhà bác học, nhà Đại văn hào. Nam Phong tạp chí là cả một Viện hàn lâm. Rằng nhờ Trương Vĩnh Ký mà hôm nay ta có tờ báo đọc. Nhờ Phạm Quỳnh mới có kịch nói, mới có tiểu thuyết hiện đại, nhờ Nam Phong mà chữ Quốc ngữ… thôi thì đủ cả! Đúng là tư duy trên cành đào, cành đa (4), chứ không phải trên thực tế văn bản, trên thực tiễn cuộc sống.

Phải xem bản chất của Nam Phong là như thế nào? Sao GS. Chú không dẫn công trình Lịch sử Báo chí Việt Nam của TS. Huỳnh Bá Tòng bảo vệ ở Đại học Sorbonne khoảng thập kỷ 60 thế kỷ trước. GS nên cho bạn đọc biết Chánh sở Mật thám Đông Dương Marty là người như thế nào? Bạn thân của Cụ Phạm là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Albert Sarraut nguyên Toàn quyền Đông Dương là người như thế nào mà được Cụ Phạm xem bài nói của ông này ở Sài Gòn năm 1917 là khuôn vàng thước ngọc cho báo giới Việt Nam (Thượng Chi văn tập). Các nhân vật này có quan hệ như thế nào với Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí. Năm 1917, Phạm Quỳnh cho rằng vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ (Thượng Chi văn tập. NXB Văn học – 2006. Trg.58). Năm 1919, Phạm Quỳnh có biết Hội nghị Versailles và bản Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc không? Nếu không biết tức là Phạm Quỳnh không biết tiếng Pháp, là vô lý. Trong khi Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đến Hội nghị Versailles đưa yêu sách đòi độc lập thì ở Việt Nam Phạm Quỳnh làm gì? Ông khảo về Truyện Kiều, về danh dự luận, về thế lực của đồng tiền, về đạo đức, về gia tộc luận, về tịch mịch… cũng hay chứ. Khảo cứu Đông Tây kim cổ, thổ nạp Á Âu mà… Chỉ như thế thôi thì Cụ Thượng Phạm có hề hấn gì. Mà Nhà nước Bảo hộ họ mừng hơn vui hơn. Cần gì phải có các nhà tù Côn Đảo, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Hỏa Lò… Đáng ra Cụ Thượng Phạm phải được thưởng Bắc đẩu Bội tinh. Sao người Pháp lại bất công một cách khôn ngoan như thế: Trương Vĩnh Ký với Phạm Quỳnh khó so hơn đọ kém. Vậy mà Trương thì đầy ngực. Còn Cụ Phạm thì bị mật thám Pháp theo dõi, người Pháp nghi ngờ, vào tháng 1-1945… Cho nên, Nam Phong tạp chí là công cụ của thực dân Pháp. Làm một công cụ mềm dẻo như thế thì Cụ Phạm Thượng “còn điều chi nữa mà ngờ (Kiều). Nhưng mà nếu GS. Chú đọc các tiểu luận bằng tiếng Pháp của Cụ Phạm Thượng mới thấy ra vấn đề. GS. Chú cũng có đọc, nhưng cũng lại đọc qua loa, tìm được câu nào để chiêu tuyết cho Cụ Phạm Thượng là GS ghi, trích dẫn ngay tắp lự (5). Như cái câu: “Vào năm 1931, Phạm Quỳnh đã dõng dạc tuyên bố cho người Pháp đọc… Câu đó trong Thư ngỏ gửi Ngài Tổng trưởng thuộc địa, xin Ngài cho chúng tôi cái Tổ quốc đã bị mất để chúng tôi thờ. Nếu được thế thì dân nước Nam sẽ mang ơn trọn kiếp, sẽ quên cả cái Tổ quốc bị mất vừa xin lại được để chỉ còn trung thành với nước Đại Pháp nữa thôi. GS có biết vì sao năm 1931, Paul Reynaud phải sang “kinh lý Đông Dương” không? Xin GS đọc Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975 sẽ rõ. Năm 1930 ở Việt Nam, ở Yên Bái, ở Nghệ – Tĩnh quê GS, ở Tiền Hải – Thái Bình, ở Phú Riềng – Nam bộ… có những sự kiện gì chứ? Và Pháp đã khủng bố trắng như thế nào? Kẻ nào đã nói câu: Hữu Nghệ – Tĩnh bất phú / Vô Nghệ – Tĩnh bất bần (Có Nghệ – Tĩnh cũng không giàu. Không có Nghệ – Tĩnh cũng không nghèo). Nghĩa là khủng bố trắng, là làm cỏ không chỉ một thành, một làng, mà cả một vùng… Và phong trào nhân dân tiến bộ Pháp do Đảng Cộng sản Pháp tổ chức lãnh đạo, đã phản đối chính sách của Chính phủ Pháp ở Đông Dương như thế nào? Đảng Cộng sản Pháp đã vận động nữ văn sĩ André Violis cùng đi với phái đoàn đó. Khi về Pháp bà đã viết cuốn Đông Dương kêu cứu (L’Indochine S.O.S) làm chấn động dư luận Pháp và thế giới. Trong bối cảnh đó, Phạm Quỳnh đưa ra Thư ngỏ gửi Ngài Tổng trưởng Thuộc địa như đã nói trên. Có tình cờ không? Cũng như năm 1924, Phạm Quỳnh nói về Nguyễn Du và Truyện Kiều khác hẳn năm 1919, tại sao thế? Khi thực dân Pháp đang đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, đất nước bị chia thành ba kỳ nhưng thực chất vẫn nằm trong tay Toàn quyền Đông Dương mà dám khẳng định: Nước ta còn… còn điều chi nữa mà ngờ thì là học thuật hay chính trị. Có đúng là chính nhân quân tử hay không? (Trần Văn Chánh. Lời giới thiệu Thượng Chi văn tập. NXB Văn học – 2006). 

Năm 1929, Phạm Quỳnh viết về Chủ nghĩa Dân tộc, nói đến truyền thống lịch sử dân tộc, đến phong trào dân tộc do các sĩ phu ở trong và ngoài nước lãnh đạo, Phạm Quỳnh đã mách nước chỉ đường cho thực dân Pháp hãy lái cuộc cách mạng dân tộc này theo hướng có lợi cho chúng ta (Pháp và Phạm Quỳnh) bằng cách làm sao cho người nước Nam không còn cảm giác xa lạ trên Tổ quốc họ, họ cảm thấy không bị mất nước. Tư tưởng đó đã thể hiện từ trước đó, năm 1924, với vấn đề Truyện Kiều. Nếu công cuộc Kiều hóa văn hóa dân tộc này mà thành công thì chắc chắn hôm nay chúng ta vẫn được đọc Nam Phong tạp chí, với những thế hệ chủ bút và biên tập hậu Phạm Quỳnh. Vì sao? Năm 1946, tại trụ sở Bộ Thuộc địa ở Paris, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp đã tuyên bố với GS. Trần Đức Thảo và Hoàng Xuân Hãn: Không có chuyện dân chủ ở Đông Dương. Chỉ có thay Toàn quyền này bằng một Toàn quyền khác (Triết gia Trần Đức Thảo. NXB Đại học Huế – 2016). Và trước đó, khi Phạm Quỳnh chưa ra đời, thì Toàn quyền Paul Doumer nhiệm kỳ 1897-1903 đã tuyên bố: Khu nghỉ dưỡng của người Pháp ở Đông Dương phải là Vân Nam (Nam Trung Hoa). Đây là mảnh đất của người Pháp, không thể để mất vào tay kẻ nào khác (Hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer. NXB Thế giới – 2016). Bản chất của bọn thực dân xâm lược ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản từ thực dân chuyển sang chủ nghĩa đế quốc nó như thế. Không hề thay đổi cho đến Đác Giăng Liơ (1946) và Nava (1954) cho đến tận sau này. Nếu không có Điện Biên Phủ dưới đất (1954) và Điện Biên Phủ trên không (1972) thì thế giới này vẫn không thay đổi. Các thế hệ Toàn quyền Đông Dương vẫn tiếp tục. Các thế hệ Phạm Quỳnh và Nam Phong vẫn tiếp tục. Có thể thay đổi chút ít cho phù hợp với thời đại công nghệ điện tử, làm báo chủ yếu bằng công cụ vi tính!

Đánh giá, lý giải Nam Phong và Phạm Quỳnh phải nhìn trên đường hướng cơ bản chi phối lịch sử thế giới và dân tộc. Nam Phong tạp chí và Phạm Quỳnh là sản phẩm của thực dân Pháp ở Đông Dương và Việt Nam. Đó là bản chất không hề thay đổi. Nếu không có công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kể từ sau năm 1958 và Đảng Cộng sản Việt Nam (sau 1930) thì thế cuộc sẽ ra sao? Cái “sống lại vẻ vang của Nam Phong” như GS hiểu chính là hoài niệm của các học giả thực dân và hậu Nam Phong, hậu Phạm Quỳnh mà thôi. Hoài niệm này đang trở thành hiện thực, đang có vẻ sôi nổi kể từ các sự kiện thế giới năm 1991, từ sau khi Việt Nam thực hiện Đổi Mới (1986), cùng với thị trường kinh tế mở cửa, thị trường văn hóa tự do và ngôn luận tự do (sách, báo và các phương tiện truyền thông hiện đại khác). Tất nhiên, các hậu duệ Nam Phong tạp chí đang tìm cách hồi sinh. Cũng tất nhiên. Và dù có chủ ý hay do quán tính, hai cách thử lý giải Nam Phong và Phạm Quỳnh cũng chỉ nằm trong trường tư tưởng đó thôi.

Đánh giá Nam Phong tạp chí và bình luận về hai cách lý giải của GS xin dành đến kỳ sau hầu tiếp.

Kính.

14-7-2017

(Xem tiếp kỳ sau)

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 459

————————————–
(1) Thảo mai (tiếng Nghệ): Lắm điều trí trá.
(2) Hối quá (tiếng nhà Phật): Sám hối quá đáng.
(3) Nuốt búa (tiếng Nghệ): Gan nuốt búa, ý nói gan lắm!
(4) Cành đào, cành đa: Con kiến mà leo cành đào / Leo phải cành cụt leo vào leo ra (Ca dao).
(5) Tắp lự (tiếng miền Trung): Tức thì, ngay tức khắc.

Ý Kiến bạn đọc