Văn học nước ngoài

Ngụ ngôn Ấn Độ

Ba dạng người

Một lần nhà vua Ấn Độ Akbaru nhận được món quà lạ: 3 hình người nhỏ bằng vàng giống hệt nhau và 1 bức thư với nội dung ngắn gọn báo trước rằng, mỗi một hình người có ý nghĩa và giá trị riêng. Thấy lạ nhà vua triệu các cận thần lại, ban lệnh xác định sự khác nhau của 3 bức tượng nhỏ đó. Các nhà thông thái liền tiến hành cân trọng lượng, đo chiều dài, chiều rộng cũng như cho thử tuổi vàng của từng bức tượng hết sức kỹ lưỡng, nhưng không thể xác định được điểm khác nhau bên ngoài và bên trong của chúng. Các cố vấn chỉ còn biết buông xuôi hai tay, thừa nhận sự bất lực của mình.

Riêng nhà thông thái Akbar nhất định không chịu đầu hàng. Sau nhiều cố gắng, nỗ lực nghiên cứu ông phát hiện ra trong các lỗ tai của các bức tượng có những lỗ nhỏ xíu rất khó nhận ra. Akbar dùng 1 sợi dây nhỏ bằng vàng xỏ vào từng lỗ một trong tai tượng. Ở bức tượng thứ nhất, đầu sợi dây vàng chui ra từ tai; ở bức tượng thứ hai, dây chui ra từ miệng; bức tượng thứ ba, dây chui ra từ rốn. Nhà thông thái suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Câu đố đã có lời giải rồi. Bức tượng thứ nhất biểu trưng cho dạng người “tai thủng”, nghe tai này lọt ra tai kia. Bức tượng thứ hai đại diện cho dạng người “tai mỏng” mới nghe lõm bõm lời người khác nói, không hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra sao, đã lập tức chạy vội đi kể cho người khác biết. Còn bức tượng thứ ba cho ta liên tưởng tới dạng người “tai gin” ghi nhớ ngay lời người khác nói và cố gắng cho nó chạy qua tim. Bức tượng này quý nhất trong số 3 bức tượng.

Điều chính yếu nhất

Ngày xưa có một ông vua trong suốt cuộc đời bị dày vò bởi 3 câu hỏi: Thời điểm nào chính yếu nhất? Ai là người chính yếu nhất? Việc gì chính yếu nhất?

Nhà vua nghĩ trong bụng: “Nếu trả lời được 3 câu hỏi này ta sẽ chinh phục được cả thế giới, tất cả những gì ta mong muốn đều thực hiện được, khi đó thần dân sẽ tôn kính ta như một nhà thông thái vĩ đại”.

Không biết bao nhiêu người, trong đó có vô số những bậc trí giả tài danh thông tuệ khắp cả nước đến yết kiến nhà vua, nhưng tịnh không một ai trả lời được những câu hỏi này.

Cum-thanh-tich-Mahabalipuram
Cụm Thánh tích Mahabalipuram.

Một ngày đẹp trời nọ có những tin đồn lan tới tai vua rằng, ở vùng xa xôi kia, có một ẩn sĩ nổi tiếng tài cao đức trọng. Nhà vua liền truyền lệnh thắng yên cương cho mình 1 con ngựa và đích thân lên đường tìm vị ẩn sĩ đó. Vượt qua một cánh rừng rậm rạp nhà vua nhìn thấy một túp lều tả tơi xiêu vẹo và cạnh đó có một ông già nhỏ bé đang cuốc đất. Nhà vua xuống ngựa, tới gần cúi chào ông cụ rồi nói:

- Tôi đến đây gặp ông để nhận câu trả lời cho 3 câu hỏi nung nấu mãi trong lòng: Thời điểm nào chính yếu nhất? Ai là người chính yếu nhất? Việc gì là chính yếu nhất?

Nghe xong 3 câu hỏi, ẩn sĩ không hề đáp lời, cặm cụi cuốc đất tiếp, như không có việc gì xảy ra.

- Ông hẳn là mệt mỏi lắm rồi, để tôi cuốc đất đỡ cho – Nhà vua đề nghị.

Nói là làm ngay, nhà vua cầm chiếc cuốc của ông già và bắt tay vào việc. Cuốc được một lúc, nhà vua nhắc lại 3 câu hỏi của mình. Cả lần này nữa ẩn sĩ vẫn không đưa ra câu trả lời, chỉ đề nghị nhà vua trả lại cuốc cho mình. Nhà vua bỏ ngoài tai lời đề nghị đó, không trả lại cái cuốc, tự thầm nhủ sẽ làm cho xong mảnh đất.

Xong việc, nhà vua bỗng thấy một người đi đường tiến về phía thửa đất, mặt mũi bê bết máu. Nhà vua bảo anh ta dừng lại, hỏi han sự tình, an ủi người gặp nạn, rồi tự mình xuống suối lấy nước mang về rửa sạch vết thương, băng bó cho anh ta. Người bị nạn khát nước, nhà vua cho anh ta uống xong, dìu vào lều, cẩn thận đỡ người bị thương nằm xuống giường ngủ nghỉ. Trời đã tối từ lúc nào không hay, nhà vua cũng sửa soạn đi ngủ sớm, vì đã cảm thấy thấm mệt, sau quãng đường dài đi đường và cuốc xới đỡ đần ông già.

Sáng hôm sau nhà vua lại đến gặp ẩn sĩ, trong lúc ông đang gieo hạt trên mảnh đất hôm qua cuốc xới xong.

- Này nhà ẩn sĩ – Nhà vua mở lời – phải chăng ông sẽ không trả lời những câu hỏi của tôi?

- Chính ông đã đưa ra đầy đủ các câu trả lời rồi – Ẩn sĩ đáp lời.

- Ta có đưa ra câu trả lời nào đâu – Nhà vua ngạc nhiên nói.

- Thấy ta già yếu, ông đã động lòng thương xót giúp ta cuốc đất. Hôm qua nếu ông không ở lại đây giúp đỡ ta, mà cứ đi tiếp hẳn sẽ bị bọn bất lương sát hại, giống như người khách bộ hành kia bị chúng hành hung vô cớ.

Nhà vua hết sức kinh ngạc, không thốt ra lời, còn vị ẩn sĩ lại nói tiếp:

- Thời điểm chính yếu nhất là khi ông giúp ta cuốc đất. Người chính yếu nhất vào thời điểm đó là ta. Việc giúp ta của ông là chính yếu nhất lúc đó. Khi khách bộ hành gặp nạn xuất hiện, thì anh ta là người chính yếu nhất. Người ra tay cứu giúp anh ta là việc chính yếu nhất.

Nhà vua thấy mình sáng ra một chút ý nghĩa trong những lời của ẩn sĩ.

- Ông hãy nhớ lời ta nói nhé: Hôm nay là thời điểm chính yếu nhất. Người ở bên cạnh lúc đó là chính yếu nhất. Còn việc chính yếu nhất, đó là làm việc thiện đối với những người ở cạnh mình, bởi chúng ta sinh ra là để làm việc này.

Nói xong ẩn sĩ lại gieo hạt tiếp, nhà vua lên ngựa trở về hoàng cung. Lời dặn dò lúc tiễn chân của vị ẩn sĩ nọ nhà vua ghi nhớ trong lòng suốt đời, và rồi tiếng tăm về lòng độ lượng, công tâm của nhà vua được lan truyền trên khắp thế gian.

Anh-minh-hoa---Ngu-ngon-An-Do---Anh-1

Câu chuyện về những cái đinh

Ngày xửa ngày xưa đôi vợ chồng nọ sinh hạ được một người con trai, tính tình nóng nảy, hơi tý đã phát khùng. Thói xấu đó càng bộc lộ rõ khi chàng trai đã thành một cậu thiếu niên. Thấy thế ông bố đưa cho con trai một túi đinh và ra lệnh nó mỗi lần không kiềm chế được bản thân lên cơn phát khùng, thì hãy đóng 1 cái đinh vào chiếc cột gỗ hàng rào.

Ngày đầu tiên trên chiếc cột đã xuất hiện đến vài chục cái đinh. Sang tuần sau do phần nào đã tiếp thu được bài học kiềm chế bản thân nên số đinh đóng trên cột mỗi ngày mỗi ít đi. Chàng trai bắt đầu rút ra kết luận là việc kiểm soát “cơn điên” dễ dàng hơn việc đóng đinh “găm tội” lên cái cột bất hạnh kia.

Cuối cùng, đến một ngày đẹp trời kia, cả ngày anh chàng không còn phải đóng chiếc đinh nào lên cột vì đã kiềm chế được mình. Nghe con trai vui mừng báo tin tốt lành xong, ông bố “ban lệnh” mới: Giờ thì mỗi lần kiềm chế được cơn nóng nảy, con có thể rút bớt 1 chiếc đinh ra khỏi cột.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, chàng trai hồ hởi báo tin tốt lành lần thứ hai cho bố đẻ biết, trên cái cột tịnh không còn một cái đinh nào. Ông bố bèn cầm lấy tay con, dẫn chàng đến bên cái cột hàng rào và nói:

- Con đã “thắng” được bản thân mình khá ngoạn mục, nhưng như con thấy đấy, cái cột phải mang trên thân mình biết bao nhiêu là vết thương. Nó vốn lành lặn, nay hình hài không bao giờ trở lại được như trước nữa. Mỗi khi con nói lời “điên khùng”, ác độc với ai đó sẽ găm lại “vết sẹo” giống như những lỗ sâu hoắm này mà con tạo ra. Sau đó dù cho con có ngàn vạn lần hối hận xin lỗi cũng chẳng ăn thua gì, vết sẹo kia vẫn còn nguyên vẹn.

Hai nụ cười của tu sĩ

Trong một lần tiếp con chiên đến cầu nguyện, tu sĩ thấy một người vào giáo đường, đứng trong một góc xa im như thóc, không thỉnh cầu gì.

Thấy vậy tu sĩ liền đến bên, cũng không nói năng gì mà chỉ lấy 2 tay vuốt vuốt đầu mình. Người kia liền cúi đầu, lấy lòng bàn tay che kín miệng. Tu sĩ vuốt mặt, người kia vuốt họng. Tu sĩ vuốt tay lên bụng, người kia vuốt tay lên chân.

- Ta ban thưởng cho người này 1 thỏi vàng! – Tu sĩ hài lòng nói.

Viên thủ quỹ ớ người ra không hiểu sự thể ra sao, nhưng vẫn nhanh chóng chấp hành mệnh lệnh của tu sĩ. Nhà thông thái nhận quà tặng xong, rời khỏi giáo đường.

Chứng kiến màn kịch lạ này, viên trợ giáo thân cận của tu sĩ lấy làm tức giận hỏi ông:

- Hà cớ gì mà ngài lại hào phóng ban tặng món quà quý giá đó cho cái tên cha căng chú kiết kia?

- Ta ngưỡng mộ con người “bên ngoài” rách rưới, nhưng “bên trong” trí tuệ tuyệt vời. Ta nêu ra 3 câu hỏi, người đó đều “giải mã” tức thời.

- Nhưng chúng tôi có nghe thấy câu hỏi, câu trả lời nào đâu! – Viên trợ giáo lên tiếng.

- Cặp mắt là để nhìn, trí óc là để suy xét – Tu sĩ mỉm cười lần thứ nhất, tiếp – Ta vuốt 2 tay từ đỉnh đầu, qua đôi mắt, đến cổ họng, người ấy hiểu ta muốn nói gì liên quan tới những “bộ phận” quan trọng đó. Ví như: “Điều gì khiến chúng ta phải luôn tâm niệm trong lòng hơn cả?” – “Phát ngôn cần thận trọng” – Nhà thông thái trả lời. “Ai có nguy cơ dễ bị “mất mặt” nhất?” – “Đó là những người dễ “để lọt” thời gian, của cải quý giá của mình qua cổ họng nhất” – “Vậy, phải chăng con người không thể thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho chính cái dạ dày của mình à?” – “Không – Nhà thông thái trả lời – Về điều này, con người đã được Thượng đế ban cho đôi chân để đi tìm kiếm công ăn việc làm và không được bỏ lỡ những cơ hội diệu kỳ trên trần thế đến với mình”.

Tu sĩ đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người đứng quanh mình và mỉm cười lần thứ 3:

- Nhân câu chuyện này ta muốn các con ghi nhớ lấy câu châm ngôn rút ra trước mắt chúng ta: “Cái miệng thường đem đến tai họa, còn đôi chân giúp ta tìm kiếm miếng cơm manh áo”.

Nguyễn Chi Được
(Sưu tầm và dịch từ tiếng Nga)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 485

Ý Kiến bạn đọc