Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Ngôn từ trong một mô hình thi pháp học

Ông Trần Đình Sử gọi sự trình bày thành chương mục cái giáo trình Thi pháp học của mình là “mô hình thi pháp học” với niềm tự hào không giấu diếm(1). Cái ý hướng nâng tầm trình bày đó ra ngoài phạm vi nhà trường đại học của ông rất nên tôn trọng. Vì vậy xin gọi theo ông. Tuy nhiên, không thể không xem lại các thành tố của cái mô hình đó với tư cách là thành tố của một khoa học đặc thù. Cũng có nghĩa là phải trả lời những câu hỏi như nó bị chi phối bởi các nguyên tắc nào của cái thi pháp nó tham gia mà khoa học ấy chỉ ra, và nó được trình bày khác ở các khoa học khác như thế nào?

Trong chương X của cuốn “Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học” mang tên “Ngôn từ văn học”, ông Trần bắt đầu bằng lời giảng về “Ngôn từ trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật” với sự nhấn mạnh “tính hình tượng” của nó, sự tái hiện bản thân nó… Tiếp đó ông nêu ra cái “nhãn quan và loại hình ngôn từ văn học” với hai thể loại sử thi và thể loại tiểu thuyết theo cách hiểu của mấy lý luận gia thế giới. Sau đó ông đi vào trình bày thi pháp ngôn từ trên cấp độ ngôn ngữ (từ, cụm từ, cú pháp) và thi pháp ngôn từ trên cấp độ hình thức nghệ thuật (ở lời nhân vật, lời người kể, tính trữ tình, sự kịch hóa, độc thoại…).

Thú thật rằng đọc cả chương tôi không thấy được cái điều mình muốn xem xét trình bày ở đoạn đầu. Cái gọi là “Thi pháp” ở tác phẩm văn học chi phối thế nào đến ngôn từ của tác phẩm? Đâu là cái lập trường, cái góc nhìn của nhà thi pháp với vấn đề ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm?

Ngôn ngữ, ngôn từ là đối tượng của nhiều ngành khoa học. Nhà ngôn ngữ nhìn ngôn ngữ trong mối quan hệ với tư duy, với giao tiếp. Họ sẽ xem xét mối quan hệ của từ ngữ với hình thức khái niệm, của câu cú với hình thức phán đoán, suy luận, và cả chứng minh lôgích. Họ sẽ nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, với những nguyên tắc như phù hợp với đối ngôn, hoàn cảnh khi xác định và thực hiện chiến lược giao tiếp, thực hiện mục đích của người nói. Nhà lý luận văn học sẽ nghiên cứu các đặc điểm cần có ở ngôn ngữ nghệ thuật khi sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Và như vậy thì nhà thi pháp cũng phải nghiên cứu những gì liên quan đến đặc điểm của ngôn từ khi nó tham gia “cấu tạo tác phẩm”, nghiên cứu những “nguyên tắc” cấu tạo tác phẩm theo một kiểu loại nào đó chứ. Thú thật ở cả chương, tôi chỉ thấy có hai chỗ ông nói liên quan đến yêu cầu ấy. Đó là đoạn nói về loại hình ngôn từ ở hai thể loại có những nguyên tắc chi phối khác nhau về sử dụng ngôn ngữ là sử thi và tiểu thuyết (dẫn lại lý luận của Bakhtin, Likhachốp). Còn phần nhiều vẫn nêu đặc điểm ngôn từ dưới góc nhìn lý luận văn học.

Hãy đọc một vài đoạn về tính hình tượng của ngôn ngữ trong giáo trình Dẫn luận: “Tính hình tượng của ngôn ngữ trước hết phái sinh từ tính hình tượng của việc sáng tạo thế giới bằng tưởng tượng. Mọi ngôn từ đều do tác giả phân thân ra mà phát biểu một cách hình tượng. Nhờ tính hình tượng này mà trong văn học không chỉ con người mà cả cây cỏ cũng đều có thể phát ngôn (…)”. “Tính hình tượng của ngôn từ văn học thể hiện ở chỗ toàn bộ ngôn từ ở đó đều là ngôn từ miêu tả mà từ vần, nhịp, từ, câu, tổ hợp trên câu đều có chức năng biểu diễn như diễn viên trên sân khấu nhằm tái hiện thực tại nghệ thuật”. Có thể gác ra một bên những ý, những lời diễn đạt cụ thể không dễ đồng tình. Chỉ cần hỏi xem đó là cách nói của Lý luận văn học hay của Thi pháp học? Dựa ngay vào bài “Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học” ông viết gần đây hơn cũng thấy khó trả lời. Đâu là cái lý do của cấu trúc bên trong của cái “tính hình tượng” ở ngôn từ văn học? Có phải cứ miêu tả hình tượng văn học là ngôn ngữ có tính hình tượng? Tính hình tượng ở ngôn ngữ trong các thể loại khác nhau như Thơ, Kịch có giống nhau? Chúng khác nhau vì lý do gì? Nói về ngôn ngữ trong lý luận văn học người ta cũng nói thế, vì đó là những yêu cầu của nghệ thuật ngôn từ nói chung, không phụ thuộc vào các nguyên tắc cấu tạo tác phẩm cụ thể với sự qui định về thể loại của nó. Và như vậy ta thấy ông không quan tâm chỉ ra sự chi phối về nguyên tắc cấu trúc bên trong của các thể loại Thơ, Truyện và Kịch với ngôn từ trong tác phẩm là việc lẽ ra Thi pháp học phải làm!

Trong những phần ông nói về ngôn từ văn học trong cấp độ ngôn ngữ cũng vậy, ta cũng chưa thấy ông chỉ ra cái “khía cạnh thi pháp học” ở các cách sử dụng hình ảnh so sánh khác nhau chẳng hạn. Nguyên tắc cấu tạo nào ở tác phẩm làm cho cách so sánh ở ca dao khác ở Thơ mới? Nếu như ông lấy nguyên tắc dùng ngôn từ đối thoại, độc thoại phù hợp với các mặt tính cách nhân vật (tâm lý, tính cách, truyền thống văn hóa…) có lẽ sẽ phù hợp với tác phẩm về lý thuyết thi pháp học hơn (2).

Cũng có thể nói như vậy về phần ông nói về “Thi pháp ngôn từ trên cấp độ hình tượng”. Sự tiến hóa về “kỹ thuật” trong tiến trình văn học khi trước kia dùng nhiều lời trực tiếp của nhân vật so với sau này chẳng hạn. Nó gắn với nguyên tắc nào trong thi pháp cấu trúc tác phẩm văn chương?

Trong lý luận, ông Trần luôn có ý thức phân biệt Thi pháp học và Lý luận văn học. Ông để công viết những bài như “Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học” . Trong bài ông nhấn mạnh “nghiên cứu các phương thức cấu tạo tác phẩm văn học” là thi pháp học. Ông đi tới kết luận “Theo cách hiểu của chúng tôi, bất cứ công trình nào nghiên cứu phương thức cấu trúc văn học, dù lí thuyết hay văn học, đều là thi pháp học, bất kể tác giả của nó gọi bằng tên gì”. Thế nhưng, trong vận dụng thực tế thì ông lại nghiên cứu thi pháp tác giả (Tố Hữu), thi pháp giai đoạn (Thi pháp văn học trung đại Việt Nam). Thực khó mà biết được với một tác giả thì người ta có thể “nghiên cứu phương thức cấu trúc văn học” ở người đó thế nào. Ông có nói đến hiện tượng có nhiều “Thi pháp học” nghiên cứu về thi pháp cũng như có nhiều lý thuyết ngữ pháp (ngữ pháp học) nghiên cứu ngữ pháp của một ngôn ngữ. Nhưng so sánh thế là khập khiễng vì ở ngữ pháp, các nhà ngữ pháp học có thể lý giải khác nhau nhưng về cùng một đối tượng! Cũng vậy, các nhà thi pháp học có thể giải thích khác nhau về các phương tiện và nêu nguyên tắc “cấu tạo” tác phẩm khác nhau theo kết quả nghiên cứu của mình nhưng phải là với cùng đối tượng nghiên cứu là sự “cấu trúc tác phẩm”!

Nếu hiểu một cách nhất quán “thi pháp” là phép tắc làm ra một sản phẩm văn chương (với chữ “thi” hiểu như chữ “văn chương” hiện nay gồm cả thơ và văn xuôi mang tính nghệ thuật) và chỉ xem là đối tượng của thi pháp học những tác phẩm văn học tức là cái “chỉnh thể văn học” tồn tại ở văn bản thì chúng ta có thể xem xét ngôn từ văn học một cách khác. Người ta có thể chỉ ra những đặc điểm ngôn từ đáp ứng các nguyên tắc cấu tạo tác phẩm thuộc hình thức thể loại đã chọn.

Ngôn ngữ thể loại Thơ (và cả văn xuôi trữ tình) phải phục tùng nguyên tắc cấu tạo tác phẩm trữ tình. Nó phải giúp cho việc bộc lộ cảm xúc trực tiếp được dễ tiếp nhận hơn. Trong ngôn ngữ thơ, cái thành phần “biểu cảm”, và cái thành phần “chức năng thơ”(3) rất nổi trội… Nói chung, như Bakhtin nói, để đáp ứng yêu cầu của thơ ca, ngôn từ bị “vắt kiệt” chất nhựa của nó. Tất cả các mặt đều được khai thác triệt để, từ âm thanh của ngôn từ (thuần túy nhạc tính của nó), nghĩa vật thể của ngôn từ (với tất cả các sắc thái và biến thể, khía cạnh quan hệ giữa các từ, khía cạnh ngữ điệu, cảm giác chủ động trong hành ngôn. Tất nhiên, ngôn ngữ thơ cũng phải thể hiện cá tính nhân vật (nhân vật trữ tình, nhân vật trong bức tranh cuộc sống ở bài thơ) như ở các tác phẩm văn chương thể loại khác. Xin nhắc lại rằng chính cái nguyên tắc này làm cho việc sử dụng thi liệu trong so sánh ở ca dao và cả thơ Nguyễn Bính (phù hợp với con người nông thôn Việt Nam trước Cách mạng) khác các thi liệu phù hợp con người đô thị trong Thơ Mới như ở Xuân Diệu…

Trong thể loại Truyện, ngôn ngữ cũng phải phục tùng nguyên tắc trần thuật – tái hiện bức tranh cuộc sống bằng lời kể, lời tả. Ở đấy tính rành mạch, tường minh hài hòa với tính gợi cảm. Tác giả phải thực hiện nguyên tắc cá thể hóa trong ngôn ngữ nhân vật, cả nhân vật người kể chuyện lẫn các nhân vật trong câu chuyện. Và nói chung, ngôn ngữ của truyện phải là thứ ngôn ngữ phù hợp với “không khí” của truyện – với cái nghĩa “thế giới”, “hoàn cảnh” nhân vật sống, thân phận và tính cách của họ… và cả những căng, chùng ở các tình huống. Nói như vậy theo chúng tôi hiểu mới là cách nói của Thi pháp học vì đó mới là “nguyên tắc” cấu tạo tác phẩm mà tác giả nào cũng phải tuân theo khi viết truyện. Còn những chuyện dùng cách kể ngôi một hay ngôi ba, dùng giọng nửa trực tiếp hay không là tùy mỗi tác giả.

Với ngôn ngữ Kịch cũng vậy. Tác giả phải tuân theo nguyên tắc cơ bản của thể loại kịch(4). Ngôn ngữ của tác phẩm hoàn toàn chỉ là những đối thoại, độc thoại của các nhân vật. Ngôn ngữ của nó hầu như chỉ là ngôn ngữ đời thường, rất nhiều yếu tố khẩu ngữ thậm chí lệch chuẩn tràn vào do yêu cầu “khắc họa” nhân vật… Tất nhiên đó vẫn là thứ ngôn từ văn học được “trau chuốt” theo yêu cầu văn chương và yêu cầu sáng tạo của tác giả(5).

Phải nói thêm rằng ngôn từ trong mỗi thể loại trên đây còn phân hóa ra các tiểu loại của nó. Ngôn từ truyện hài, kịch hài khác với loại chính kịch, “chính truyện”… Người sáng tác, người thưởng thức không thể không biết đến cái nguyên tắc mang tính thi pháp đó.

Thực ra thì chuyện người ta canh tác nhầm sang đất người khác cũng không phải là chuyện hiếm. Mà ông Trần lại là người đầu tiên canh tác bài bản trên mảnh đất ấy. Nhưng rất nên rành mạch, không vì cái công mà quên nhiều điều khác. Nhất là trong cái món Thi pháp học này đang có những điều không thể nói là không ngộ nhận ở nhiều người.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 376

 

————————–
(1) Xem bài “Toàn cảnh Thi pháp học”. Tôi có dẫn lại trong bài “Hình tượng tác giả”.
(2) Chính yêu cầu ngôn ngữ nhân vật phải phù hợp với nhân vật này cho thấy điều ông Trần nói về sự phân thân ra mà phát biểu một cách hình tượng của tác giả khi sáng tác là không ổn. Nói họ “hóa thân” vào các nhân vật là để nói cái yêu cầu ấy. Nhưng đấy cũng là đặc điểm ngôn ngữ văn học như quan niệm của Lý luận văn học nói chung, không ở riêng một thể loại nào.
(3) Xin nhắc lại, đó là hai trong sáu thành phần chức năng của ngôn ngữ giao tiếp:
Chức năng biểu cảm có mục đích thể hiện trực tiếp thái độ của người nói với cái anh ta nói đến.
Chức năng thơ là sự định hướng vào bản thân thông báo, làm đẹp cái thông báo đó. Cái hình thức thể hiện là sự “chiếu nguyên lý tương đương trên trục lựa chọn vào trục kết hợp” tạo ra các hình thức láy lại các âm thanh, các ngữ đoạn, có giá trị tạo nhịp cho câu thơ.
(4) Nói “cơ bản” vì gần đây nhiều tác giả đưa ra “người dẫn truyện” tham gia vào việc kể lại trên sân khấu những điều không trình bày trực tiếp bằng hành động của nhân vật trên sân khấu. Còn có sự tham gia của các Dàn Đồng ca và các biến tướng của nó.
(5) Nhân vật nhiều vở kịch hiện đại như Lý Chiêu Hoàng trong “Rừng Trúc” của Nguyễn Đình Thi có thứ ngôn ngữ sang trọng, uyên bác… quá. 

Ý Kiến bạn đọc