Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ngôn ngữ tác giả – ngôn ngữ nhân vật trong truyện – trong thơ

1. Từ xưa khi nói về văn nghệ thuật, người ta thường nói đến ba loại hình thể loại là trữ tình (thơ ca), tự sự (truyện), và kịch. Thực ra đó là ba hình thức thể hiện tác phẩm ở văn hư cấu. Ở mỗi phương thức này có những nguyên tắc khác nhau về sự thể hiện các kiểu loại ngôn ngữ của các loại người ở trong tác phẩm. Đó là điều không khó hiểu. Do yêu cầu tái hiện sự kiện đời sống, có sự xuất hiện nhiều nhân vật nên trong tác phẩm có ngôn từ của nhiều người mà từ xưa người ta nói bao gồm tác giả, người kể chuyện và các nhân vật trong các câu chuyện. Thời cổ Hy Lạp, nhà lý luận Platon chỉ đưa ra hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật (chưa đưa ra khái niệm “ngôn ngữ người kể chuyện”). Ông bảo: trong trữ tình chỉ tác giả nói, trong tự sự, cả tác giả và nhân vật cùng có quyền nói, trong kịch chỉ nhân vật có quyền nói (1). Nhưng từ khi có khái niệm “người kể chuyện”, trong thơ, truyện có sự khó phân biệt ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện.

2. Ngôn ngữ tác giả?(2).

Khi trình bày tác phẩm, người viết (tác giả) có hai cách dùng ngôn ngữ trình bày câu chuyện hoặc thể hiện cảm xúc. Có thể trực tiếp đưa thông điệp, trải nghiệm có thể gián tiếp đưa thông điệp, trải nghiệm ấy, thông qua một phương tiện là một bức tranh cuộc sống. Cái “bức tranh” ấy có thể là một “sự kiện đời sống” có tầm lớn rộng, cũng có thể chỉ là một tâm trạng của một con người.

Truyện là hình thức gián tiếp như thế, tác giả giấu mặt, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm để nói năng diễn giải, bình luận. Nhưng nhiều người vẫn cho lời người kể chuyện là lời tác giả như ông Phan Ngọc. Trong quyển “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều”, ông cho ngôn ngữ người kể chuyện ở đó là ngôn ngữ chính tác giả. Sự không phân biệt đó là đáng trách vì người kể chuyện chỉ là người được tác giả giao cho làm việc kể chuyện mà thôi, dù người đó có thể đứng ngoài câu chuyện biết tất cả mọi thứ như ở Truyện Kiều hay có thể là một nhân vật trong truyện (chính hay phụ) như kiểu Nam Cao hay dùng (trong “Lão Hạc” hay “Chí Phèo”). Sự không rạch ròi này có những hệ quả xin nói rõ ở phần sau.

Thơ cho phép sử dụng hai cách: trực tiếp và gián tiếp. Khi trực tiếp thì tác giả xuất hiện, nói bằng ngôn ngữ tác giả. Rõ nhất ở thơ thù tạc, xướng họa. Gián tiếp thì đó là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình (tương đương “người kể chuyện” ở thể loại truyện). Khi Tố Hữu trình bày, kể lại tâm trạng anh chiến sĩ trong “Bầm ơi” bằng chính lời của anh ta, người đọc dễ thấy ngôn ngữ ở đó là ngôn ngữ nhân vật, nhân vật trữ tình tự bộc lộ tâm trạng trong bài thơ. Nhưng sẽ dễ lầm khi tác giả dùng ngôi thứ nhất để trình bày cảm xúc nhân vật như ở “Người con gái Việt Nam” hay nói trống không ở bài “Lơ thơ mấy hàng tỏi…” của Nguyễn Gia Thiều.

Có những người như ông Trần Đình Sử thấy “chủ thể” xưng “tôi” trong bài thơ “Người con gái Việt Nam” thì cho rằng đó chính là ông Tố Hữu – ông bí thư trung ương nữa! – xưng “tôi” trong bài thơ và ông cho rằng ngôn ngữ trong bài thơ là “ngôn ngữ tác giả”. Trong khi thực ra nhà thơ có bút danh Tố Hữu ấy chỉ làm việc thể hiện cảm xúc của một nhân vật trữ tình có “nhân thân” thi sĩ trong buổi đến thăm người nữ anh hùng! Ngôn ngữ trong bài là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình ấy, anh ta tự bộc lộ cảm xúc bằng ngôn ngữ của mình! Và vì là “cảm xúc thi nhân” mang tính ước lệ nghệ thuật nên anh ta có thể gọi nữ anh hùng là “em’ và bộc lộ những hành động yêu thương, tôn quí trong ước lệ nghệ thuật như “hôn” bàn chân, “hôn” bàn tay… Vì là theo ước lệ nghệ thuật nên người đọc không ai cho rằng những lời nói, cử chỉ ấy là không phù hợp giữa hai người khác giới.

Với bài thơ “Lép nhép vài hàng tỏi/ Lơ thơ mấy cụm gừng/ Vẻ chi tẻo teo cảnh/ Thế mà cũng tang thương của Nguyễn Gia Thiều, thì có thể chấp nhận cả hai khả năng diễn đạt trực tiếp và gián tiếp… Ông Trần Đình Sử hiểu đó là ngôn ngữ tác giả tự trình bày cảm xúc của mình (3) không để giao tiếp với ai. Chúng tôi và chắc một số người cũng thế, hiểu đó là lời nhân vật trữ tình cảm xúc trước cảnh vật mà tác giả ghi lại để giao tiếp với bạn đọc.

3. Như chúng tôi đã nói, việc không xác định rõ ràng hai loại hình ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ người kể chuyện đã dẫn đến nhiều hệ quả không hay. Khi đồng nhất tác giả với người kể chuyện, người ta đã gán cho tác giả những tư tưởng mà có khi tác giả buộc lòng phải đưa vào lời đánh giá, bình luận của người kể chuyện khi đã giả định về tư cách xã hội của nhân vật này. Chắc chắn trong chế độ phong kiến chuyên chế, Nguyễn Du không thể không để người kể chuyện có những lời bình phẩm sự việc theo hướng tôn quân hoặc theo đúng lễ giáo chính thống… Có thể thấy không thể đồng nhất ông giáo trong truyện Chí Phèo là người kể chuyện với Nam Cao vì trong lời người kể chuyện ở đó có những lời miêu tả Chí Phèo và Thị Nở với sự ác cảm rõ rệt.

Trong trường hợp đồng nhất lời tác giả với lời nhân vật trữ tình trong bài “Người con gái Việt Nam”, ông Trần Đình Sử đã phải đưa ra lý luận về sự “thủ tiêu ngữ cảnh trực tiếp”. Ông nói khi Tố Hữu gọi chị Trần Thị Lý là “em” và nói những lời bóng bẩy rất đẹp, có những cử chỉ rất thân mật như “cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt…” là lúc nhà thơ đã thủ tiêu “ngữ cảnh trực tiếp” – cái ngữ cảnh cuộc đến thăm của một lãnh đạo Đảng biểu thị sự quan tâm của Đảng, của nhân dân với chị Lý. Nhờ làm thế mà chủ thể trong bài thơ đã được giải phóng và tự do nói được rất nhiều điều so với trong ngữ cảnh trực tiếp. Còn khi là tác giả bài thơ đề tặng chị Lý thì tác giả vẫn viết rất trang trọng: “Tặng chị Lý anh hùng”. Chúng tôi đã có dịp viết về điều này (4) để phản bác sự lầm lẫn về “chủ thể ngôn ngữ” trong bài với lý lẽ đã trình bày ở đoạn trên.

Cái hệ quả nữa về lý luận là sự nhận thức về ngôn ngữ tác giả ở bài thơ về cảnh tang thương sau bão của Nguyễn Gia Thiều. Ông Trần Đình Sử đã phủ nhận tính cách giao tiếp ở bài thơ theo quan niệm chung. Ông bảo tác giả không giao tiếp với ai, chỉ giao tiếp Tôi – Tôi. Đó là điều khó chấp nhận như đã nói. Dù cho rằng đó là lời tác giả thì khi viết ra ông vẫn giao tiếp với bạn đọc, hướng tới mục đích chia sẻ cảm xúc của mình với họ.

Trên đây là mấy suy nghĩ của chúng tôi xung quanh một vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương. Xin được trình bày ra để được bạn đọc rộng rãi chỉ giáo.

Lê Dân
(TP. Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 382

——————————

(1) Dẫn theo Trần Đình Sử (Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học).
(2) Chữ “ngôn ngữ” chúng tôi dùng như mọi người thường dùng, có nghĩa là “lời nói”, “ngôn từ” của tác giả, nhân vật, khác với chữ “ngôn ngữ” ông Phan Ngọc trong “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” với nghĩa một kiểu hình ngôn từ có những đặc điểm riêng xét theo “phong cách học” khác “lời nói” đáp ứng các yêu cầu ngữ cảnh.
(3) Tuy nhiên, khó có thể chấp nhận đấy là “giao tiếp Tôi -Tôi” theo lý luận của ông Trần như tôi có dịp nói trong bài “Giao tiếp không lời – lạ đời lý luận” (Văn Nghệ TP.HCM, số 367 ngày 20/8/2015).
(4) Xem bài “Giao tiếp đời thường, giao tiếp văn chương nghệ thuật” (Văn Nghệ TP.HCM, số 353 ngày 24/5/2015).