Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Ngôn ngữ có “văn”

Trong giao tiếp đời thường ta thường nghe khen nhau: “Anh nói có văn”. Điều đó là có thật, bởi ngôn từ của nhiều người trong đời thường cũng có cái hay, cái đẹp hấp dẫn người nghe. Chất văn, chất thơ không chỉ có ở các bài văn chương. Nhiều nhà ngôn ngữ đã quan tâm nghiên cứu điều đó.

Roman Jakovson không chấp nhận sự đối lập quá đáng giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường ở một số người khi họ bảo ngôn ngữ đời thường “ngẫu nhiên”, “không chủ đích”, “nói xong thì thôi” khác ngôn ngữ nghệ thuật ở văn thơ… Ông cho rằng, mỗi hành vi nói năng giao tiếp đều có mục đích nên các phương tiện ngôn ngữ đều được sử dụng phù hợp với mục đích mong muốn. Ông căn cứ vào các yếu tố tham gia cuộc giao tiếp để xác định các thành phần chức năng của một phát ngôn. Có đến 6 chức năng hướng vào các yếu tố tham gia giao tiếp như chiếu vật qui chiếu vào cái thông báo được nói đến, biểu cảm thể hiện cảm xúc, thái độ người nói, kêu gọi hướng tới người nghe… Trong đó có chức năng thơ. Ông, nhận xét về hình thức, thấy chức năng thơ này thể hiện ở sự “chiếu nguyên lý tương đương của trục lựa chọn lên trục phối hợp”. Nói như thế có nghĩa là giống như việc chọn lựa các từ ngữ tương đồng có thể thay thế nhau trên “trục dọc” (ở cái điểm xuất hiện từ ngữ cần chọn) thì trên “trục ngang” (trục phối hợp) người ta cũng chọn những hình thức tổ chức ngôn từ với các ngữ đoạn cấu trúc tương đồng (song trùng) tạo các câu chứa các “nhịp” có tính nhạc mang tính thẩm mĩ, kiểu các điệp từ, điệp ngữ…

Roman Jakovson có nhấn mạnh rằng “chức năng thơ” không chỉ ở trong thơ mà ở cả ngoài phạm vi thơ, ta có thể nghe thấy được cả trên tàu điện… nghĩa là trong ngôn ngữ đời thường.

Với những cứ liệu ngôn ngữ thơ ở nhiều loại hình ngôn ngữ, luận điểm của tác giả có sức thuyết phục rất lớn và được nhiều người trên thế giới vận dụng khai thác trong nghiên cứu phê bình. Tuy nhiên, nếu vận dụng xem xét “chất văn” trong các cách tổ chức ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ đời thường thì nhiều khi ta sẽ lúng túng nếu chỉ xem xét về hình thức âm thanh với những yếu tố “lặp lại”, những cấu trúc “song trùng” như thế. Mà nhiều khi lối cấu tạo lời nói với các “nhịp” giống nhau một cách cầu kỳ cố ý không cần thiết còn bị chê là “biền ngẫu”, cổ lỗ như văn xuôi của nhiều nhà nho đầu thế kỷ trước.

Vậy thì có câu hỏi phải đặt ra: Cái gì có thể coi là tiêu chí phân biệt một văn bản hay ngôn bản có “chất văn”, “chất thơ” tức có giá trị “nghệ thuật” trong ngôn từ? Và cái “chất văn” ấy thể hiện ở ngôn từ đời thường như thế nào?

Đi tìm câu trả lời, chúng tôi gặp luận điểm của Mikhail Bakhtin. Ông đã chỉ ra nhiều điều về ngôn ngữ trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật. Ông không chỉ chú ý đến hình thức – âm thanh của ngôn từ. Ông coi trọng vai trò “chất liệu” của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Nó chỉ là “yếu tố kỹ thuật” như gỗ đá trong điêu khắc, nhưng nó phải phục tùng sự sáng tạo nghệ thuật, phải tôn vinh nội dung… Vì vậy do yêu cầu cao ở nghệ thuật, nghệ sĩ phải khai thác triệt để những phẩm chất của chất liệu, phải “vắt kiệt” chất nhựa của nó để phục vụ sự sáng tạo của mình. Ông còn chỉ ra sự cần thiết phải phân biệt các khía cạnh khác nhau trong chất liệu ngôn ngữ ở thơ ca. Có đến 5 cái phải xem xét:

- bình diện âm thanh của ngôn từ.

- nghĩa vật thể của ngôn từ.

- khía cạnh quan hệ giữa các từ.

- khía cạnh ngữ điệu.

- cảm giác chủ động trong hành ngôn, cảm giác về sự chủ động sản sinh âm thanh có nghĩa.

Điều Bakhtin nói về ngôn từ trong tác phẩm nghệ thuật có thể áp dụng vào ngôn từ đời thường? Tôi nghĩ rằng có thể được. Cũng như Roman Jakovson nói về chức năng thơ có trong cả ngôn ngữ đời thường, ta cũng có thể nói: “chất văn” – chất “nghệ thuật” – trong ngôn ngữ cũng có ở trong ngôn ngữ đời thường. Bởi vì về cơ bản, dù chỉ là giao tiếp đời thường, người ta vẫn có ý thức nói sao cho hay cho đẹp, thích hợp với yêu cầu nhiều mặt của cuộc giao tiếp… Ý thức đó cao hay thấp, đạt hiệu quả đến đâu tùy người. Và đó là cơ sở để nghĩ đến “chất văn” trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ ở các văn bản phi văn chương. Khi nói hay viết, người ta cũng chú ý khai thác các “bình diện” ở ngôn từ như M. Bakhtin nói. Tất cả các thứ “biện pháp tu từ” trên các bình diện đó đều được khai thác cả. Có thể lấy các thành ngữ tục ngữ vốn là con đẻ của lời nói thường để chứng minh. Những từ “bắt vần”, những vế song hành, những từ dùng “đắt” đơn nghĩa hay đa nghĩa, những từ chọn lọc, đồng nghĩa, trái nghĩa… có cả. Tất cả làm cho lời nói gợi hình, gợi nhạc kích thích sự liên tưởng trong tiếp nhận ở người nghe. Cái đó có cả ở những ngôn từ đời thường ta có thể gặp trên tàu xe như Jakovson nói. Nhà văn Tô Hoài đã cần cù ghi lại những từ ngữ, những cách nói hay trong “khẩu ngữ” của các người bình thường thậm chí ít học mà ông nghe được.

Có thể có người nghĩ rằng nói như thế là không có cơ sở. Người thường làm gì có được khả năng đó khi họ không có thói quen và kinh nghiệm hoạt động nghệ thuật. Thực ra “hoạt động nghệ thuật” không phải chỉ có ở người sáng tạo mà có cả ở người thưởng thức. Bakhtin quan niệm “tác phẩm nghệ thuật” không chỉ là “tác phẩm trong thực tại cảm tính của nó” (tức “văn bản” ở văn chương) mà là thứ hiện ra “trong hoạt động thẩm mĩ của người nghệ sĩ và người thưởng thức”. Thế thì người đọc, người nghe, người xem các tác phẩm nghệ thuật văn chương sao không thể có thói quen và kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ có chất văn chất thơ khi mà bản thân hoạt động nghệ thuật của người sáng tạo và người thưởng thức là hoạt động “nhập cảm”, hoạt động “đồng cảm nghiệm” , “đồng đánh giá”, “thẩm mĩ”? Từ những cái đặc sắc trong ngôn từ nghệ thuật cảm nhận được khi đọc được, nghe được, người ta “bắt chước” đưa vào ngôn ngữ của mình là tự nhiên. Thế thì ngôn ngữ đời thường của mọi người đều có thể có chất thơ, chất văn lắm.

Tuy nhiên, cần nói ngay để tránh ngộ nhận. Cái chất văn ở ngôn từ không chỉ là cái hay ở “hình thức ngôn từ” như vừa nói. Cái hay ở hình thức đó bao giờ cũng gắn với cái hay ở nội dung. Nó chỉ là cái “vỏ” của nội dung vì ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy. Cái đặc sắc của ngôn ngữ cá nhân gắn chặt với tư duy của người đó. Ngôn từ khi diễn đạt trong giao tiếp cũng “đồng chất” với ngôn từ khi tư duy ở mỗi người. Họ nghĩ bằng ngôn ngữ có chất thơ, chất văn thì khi nói ra bằng lời trong giao tiếp, ngôn từ của họ cũng có cái hay đó. Ngôn từ hay nhưng phải là thứ hay diễn đạt cái hay cái đẹp của sự vật cảm nhận được từ quan sát, từ cảm xúc trong tư duy, trên nền tri thức, nền văn hóa của người phát ngôn và cả những ứng xử linh hoạt có tầm văn hóa trong giao tiếp của họ. Và nói cho đúng, cội nguồn của ngôn ngữ giàu chất thơ chất văn chính là cái tư duy hình tượng phát triển ở người có cái năng lực tư duy ấy, ở tình người của họ… Và đó là cơ sở để ngôn từ của người ta giàu chất thơ, chất văn hơn. Thực tế cũng cho thấy như thế. Những người có khả năng sử dụng ngôn ngữ có nghệ thuật thì khi nói ngoài đời hay viết các loại văn bản phi nghệ thuật, ngôn ngữ của họ đều có chất văn chất thơ, đều hấp dẫn với người nghe, người đọc.

Chúng tôi nghĩ rằng nhận thức về chất thơ chất văn trong ngôn ngữ nên hướng vào các biểu hiện toàn diện của nó, không thể chỉ hướng vào một mặt nào đó. Và như thế cái hướng rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ có nghệ thuật cũng phải toàn diện như thế. Ngay cả việc đọc các văn bản văn chương cũng phải chỉ cho người ta thấy đó là “hoạt động nghệ thuật” – không phải là thứ đọc lấy thông tin, rút những đánh giá đạo lí – mới có tác dụng đầy đủ trong đó có mặt học cách sử dụng ngôn ngữ có nghệ thuật. Nhưng cũng phải nói thêm rằng việc đòi hỏi học sinh đọc nhiều cũng nên chỉnh lại yêu cầu. Không phải đọc nhiều kiểu nhà nghiên cứu giảng dạy đi tìm những cái có thể củng cố, minh họa kiến thức lý luận. Mà đọc nhiều trước hết vì nâng cao kiến thức và kỹ năng đọc trong đó có yêu cầu học cách dùng ngôn từ diễn đạt các sự kiện đời sống.

Vấn đề này cũng đụng tới việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở nhà trường và cả ở gia đình. Việc cho trẻ tiếp cận sớm với ngôn từ nghệ thuật ở các truyện cổ hay đồng thoại phù hợp, với các đồng dao, ca dao thơ nhi đồng là hết sức cần thiết. Nghe nhiều – đặc biệt thuộc lòng nhiều – trẻ sẽ nhập tâm các “khuôn” các “mẫu” ngôn từ hay, từ đó trẻ sẽ tư duy bằng thứ ngôn ngữ giàu tính hình tượng ấy kể cả tính lô-gích mạch lạc nữa. Ngôn ngữ của trẻ sẽ giàu chất văn thôi. Cần phải chống lại quan niệm sai lầm một thời là coi nhẹ việc học thuộc lòng. Đa số trẻ học cấp tiểu học hiện nay thường không thuộc bài thơ nào ngay ở cái lớp vừa học xong! Trong khi đó nhiều bài “văn xuôi” kiểu “Ai bảo chăn trâu là khổ”, các lứa học trò trước Cách mạng Tháng Tám vẫn có thể đọc thuộc sau mấy chục năm vào đời!

Nhân gặp một câu hỏi có cái ý thú vị, xin được bàn đôi lời.

Minh Xuân
(Q. Ba Đình, Hà Nội)
Tuần bao Văn Nghệ TP.HCM số 382

Ý Kiến bạn đọc