Tản văn

Ngọn lửa Kênh Ngang anh hùng

Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2018)

 

Sáng 11/10/2018, anh Trần Duy Quang, ở xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao (Phú Thọ), đồng đội chiến đấu cũ thân thiết, gọi điện thoại mời tôi tới nhà để giúp anh một việc quan trọng.

Trên đường đi, tôi suy nghĩ về anh Quang: anh sinh 1943, trong một gia đình nông dân lao động nghèo khổ, trên quê hương Đất Tổ giàu truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng và truyền thống văn hóa. Ngày 22/2/1964, anh tình nguyện lên đường nhập ngũ chiến sĩ thông tin, Tiểu đoàn 7,

Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Ngày 31/12/1965, từ Thậm Thình, Việt Trì (Phú Thọ), anh cùng đơn vị vào Nam đánh Mỹ, tham gia chiến đấu trên các chiến trường. Anh luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được kết nạp vào Đảng ngày 8/2/1968 (chính thức Đảng ngày 8/11/1968), từng bước trưởng thành lên cán bộ chỉ huy Trung đội, Đại đội, rồi Tiểu đoàn. Năm 1984, anh được nghỉ hưu, cấp bậc Thiếu tá, Thương binh hạng 4/4, vẫn tích cực tham gia công tác địa phương, nhiều năm liền làm Chủ tịch Hội CCB xã Thạch Sơn.

So-529--Ngon-lua-Kenh-Ngang-anh-hung---Anh-1
CCB – Thiếu tá Trần Duy Quang (bên phải) kể lại trên bản đồ quân sự với tác giả
về trận đánh của D7/E88A/QK 2 (cũ) ở Kênh Ngang mồng 1 Tết – 1970.

Tháng 6/1969, các chiến sĩ mới chúng tôi từ miền Bắc hành quân vào bổ sung cho E88A/F9 miền Đông Nam bộ, được học tập chính trị về những trang sử truyền thống vẻ vang và gương các Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ diệt Mỹ của đơn vị. Tôi rất vui mừng, thấy vinh dự tự hào trong số đó có anh Trần Duy Quang, là đồng hương, đã lập công trong trận đánh địch trên Quốc lộ 22, Tây Ninh. Mặc dù cả Trung đội đã bị thương vong, nhưng một mình anh vẫn kiên cường chiến đấu, giữ vững trận địa, sử dụng 7 loại vũ khí, diệt được 50 tên Mỹ. Bao năm qua, hai anh em chúng tôi vẫn gắn bó tình cảm mật thiết, động viên nhau giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng gia đình và quê hương đất nước.

Nghe thấy tiếng tôi chào từ ngoài ngõ vọng vào, dù anh Quang đang đau yếu phải nằm trên giường vẫn cố gắng vùng dậy để tiếp đón và buồn rầu nói với tôi:

- Ban Liên lạc Cựu chiến binh E88A ở TP. Hồ Chí Minh viết thư động viên anh cố gắng nhớ và viết lại toàn bộ diễn biến trận đánh của Tiểu đoàn 7, ở Kênh Ngang và Kênh 62, thuộc vùng 8, tỉnh Kiến Tường (cũ), trong 2 ngày mùng 1 và mùng 2 Tết Canh Tuất – 1970 (ngày 5/2 và 6/2 dương lịch). Để bổ sung vào hồ sơ Di tích lịch sử cách mạng ngôi Đền thờ Liệt sĩ tại ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Nhưng dạo này anh bị đau yếu, mắt mờ, tay run, thoái hóa đốt sống lưng, không ngồi lâu được, nên không thể viết. Anh đành phải mời chú lên giúp anh việc này. Như thắp một nén hương thơm để tri ân các Anh hùng Liệt sĩ.

Nói xong, anh Quang vịn tay vào bàn đứng lên và gọi tôi tới bê giúp anh chiếc hòm sắt nhỏ, được khóa kỹ, lấy từ trong chiếc tủ bàn thờ ra, để lên bàn. Tôi liền cười, hỏi vui anh:

- Anh có tiền bạc gì nhiều mà cất giữ trong hòm này nặng thế?

- Toàn những thứ còn quý giá hơn cả vàng bạc đấy chú ạ!

Khi anh mở hòm ra, tôi tò mò nhìn vào, thấy toàn là giấy tờ, sổ sách đã cũ. Anh rút một tập giấy có chữ đánh máy, ố vàng, đưa cho tôi, vẻ trịnh trọng nói:

- Anh có thể chết, nhà anh có thể cháy, nhưng những tài liệu quý giá này không thể mất. Vì nó có liên quan đến hàng trăm cán bộ và chiến sĩ đơn vị cũ đã hy sinh. Bao năm qua, anh luôn bảo quản, giữ gìn rất cẩn thận. Giờ là lúc cần thiết phải lấy nó ra để làm việc.

Tôi vội lật giở xem mấy trang giấy. Anh Quang thấy vậy liền giải thích:

- Đây là mấy bài báo của các phóng viên và bài viết của các nhân chứng trận đánh. Họ đều là những chiến sĩ cũ của đơn vị, vẫn đang còn sống gửi cho anh. Trong đó, có anh Nguyễn Thế Điệp, sinh 1950, quê ở Kiến An, Hải Phòng, nguyên là chiến sĩ thông tin máy K63 vô tuyến của D7, đã trực tiếp tham gia trận đánh Kênh 62. Còn đây là anh Trần Thái Hùng, sinh 1949, quê ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp, nguyên là chiến sĩ Quân báo, Quân khu 2 (cũ), phụ trách máy PRC25, Trinh sát kỹ thuật, tăng cường cho D7, đã trực tiếp tham gia trận đánh Kênh Ngang. Cả hai anh dù đã về đời thường, vẫn thể hiện tình cảm và trách nhiệm, trăn trở suy nghĩ với đơn vị cũ. Họ đã cung cấp cho anh những thông tin quan trọng về hai trận đánh ngày ấy, giúp anh nhớ lại. Nếu không, thời gian đã gần 50 năm trôi qua, anh làm sao nhớ nổi. Thôi giờ đây chú cất các tài liệu này đi, để về nhà xem sau. Hãy nghe anh kể lại diễn biến trận đánh này.

Tôi bất ngờ thấy anh Quang lấy ra tấm bản đồ quân sự đã cũ, trải rộng lên bàn. Rồi anh cúi gập người, ghé sát đôi mắt già nua hấp háy sau cặp kính lão, đưa bàn tay trái bị thương cụt mất ngón cái và bàn tay phải với những ngón tay gầy guộc lần tìm các địa danh, địa vật ghi trên bản đồ. Bỗng anh ngẩng đầu lên và hỏi tôi:

- Ngày ấy chú làm gì? Đơn vị nào? Ở đâu nhỉ?

Tôi vui vẻ trả lời:

- Em là chiến sĩ trinh sát của Tiểu đoàn 8. Sau trận đánh địch ở Chi khu Long Khốt ngày 3/12/1969, đơn vị em rút về ở ấp Bình Hòa, đón Tết, vui Xuân mới với nhân dân.

Tôi chỉ tay lên bản đồ và nói tiếp:

- Em biết lúc đó Tiểu đoàn 7 của anh ở sóc Ban Chăng, Tiểu đoàn 9 ở Tà Nu, còn Trung đoàn bộ E88A ở ấp Bình Phong Thạnh. Bộ Tư lệnh Quân khu 2 (cũ) ở Tân Lèo. Tên các địa danh ấy đây này… đây này… anh nhìn thấy không?

Anh Quang phấn khởi nhận ra các địa danh theo tay tôi vừa chỉ và phàn nàn:

- Tấm bản đồ này lâu ngày đã ố vàng, chữ in nhỏ, mờ hết cả rồi, anh thấy khó xem quá.

Chợt anh nhìn tôi và lại hỏi:

- Chú biết tại sao ngày ấy ta lại phải đưa quân gấp xuống chiến trường Đồng Tháp Mười không?

Tôi liền cười hề hề và nói ra những điều đã thuộc lòng:

- Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược, góp phần cùng với quân và dân miền Trung Nam bộ, đánh thắng âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” và kế hoạch “Bình định, gom dân, lập ấp chiến lược” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, nhằm phá thế kìm kẹp, đưa nhân dân ta trở về với ruộng vườn, tự do làm ăn, sinh sống, xây dựng vùng Giải phóng ngày càng lớn mạnh.

Anh Quang xua tay, mỉm cười và giải thích:

- Đấy là theo cách nói để tuyên truyền thôi. Còn thực chất là ta quyết tâm phá tan âm mưu mới rất thâm độc của kẻ thù. Chúng chuẩn bị mở chiến dịch lớn tiến công càn quét ác liệt nhất vào vùng giải phóng của ta và xâm lược biên giới Đông Bắc Campuchia. Nên ta phải khẩn trương đưa quân xuống Đồng Tháp Mười, để chiến đấu nhằm giam chân chúng tại chỗ, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó. Chú hiểu chưa?

- Vâng! Em hiểu rồi ạ!

- Vì vậy, để thực hiện âm mưu mới này, địch đã tung nhiều lực lượng thám báo, biệt kích, bọn thiên nga, phượng hoàng và tình báo, gián điệp nằm vùng. Chúng theo dõi ta từng bước. Anh nói thế không có nghĩa là ca ngợi địch tài giỏi, hay sợ địch. Mà ta phải biết địch để tìm cách đối phó bằng phương pháp nghi binh, tung tin giả và lừa chúng từng bước một.

Thấy tôi im lặng lắng nghe, anh nói tiếp:

- Chiều 29 Tết 1970, năm đó thiếu 1 ngày, nên coi như là 30 Tết rồi. Tiểu đoàn 7 các anh mới về ở sóc Ban Chăng được vài ngày, thế mà trinh sát kĩ thuật của ta đã cho biết:

- Địch thông báo cho nhau: D7, bí danh là K7A, của Z15, hay còn gọi là E3, cũng chính là E88A mới cơ động từ tỉnh Tây Ninh sang đóng quân ở sóc Ban Chăng, biên giới tỉnh Kiến Tường (cũ). Sau đó, chúng cho 2 chiếc máy bay loại ĐaKôTa bay rất thấp, dọc biên giới, để rải truyền đơn và uy hiếp vùng giải phóng. Tất cả những điều này đều có liên quan đến việc Tiểu đoàn 7 của anh vừa hành quân xuống đến chiến trường, đã bị địch phát hiện và đánh phá ác liệt.

So-529--Ngon-lua-Kenh-Ngang-anh-hung---Anh-7
Ngày 27/7/2018, cán bộ, chiến sĩ và Đoàn viên, Thanh niên ưu tú của E88A/F302/QK7 tổ chức về Kênh Ngang
tìm hiểu truyền thống lịch sử cách mạng  của địa phương. (Ảnh: CCB Trần Thái Hùng).

Tôi thảng thốt:

- À ra thế! Các anh là cán bộ Tiểu đoàn mới biết được những điều tối mật đó. Còn lính tráng chúng em chỉ được cấp trên phổ biến những điều chung nhất thôi.

Anh Quang đắc ý cười khà khà. Anh với tay lấy chiếc điếu cày, tự thưởng cho mình một điếu thuốc lào, châm lửa và rít lên, làm nõ điếu kêu roanh roách, rồi phun khói mù mịt lên trời. Sau phút giây hưng phấn, anh lại tiếp tục cúi xuống nhìn bản đồ và nói:

- Bộ Tư lệnh Quân khu 2 (cũ) giao nhiệm vụ cho Trung đoàn ta xuống đứng chân, hoạt động và tác chiến ở địa bàn 3 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong (cũ) và Mỹ Tho (cũ). Để thực hiện được nhiệm vụ này, từ tháng 11/1969, các chỉ huy quân sự cấp trưởng từ Đại đội trở lên trong toàn Trung đoàn đã đi trước xuống địa bàn để nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường. Sau đó, Tiểu đoàn 7 các anh là đơn vị hành quân đầu tiên xuống chiến trường. Tiếp đến là Tiểu đoàn 8 của chú, rồi Tiểu đoàn 9. Lúc này, Tiểu đoàn 7 có 3 Đại đội bộ binh: C1, C2 và C3. Mỗi Đại đội quân số khoảng 70 người. Một Đại đội hỏa lực: C4, quân số khoảng 50 người. Trung đội thông tin khoảng 30 người. Trung đội trinh sát cũng khoảng 30 người. Tiểu đoàn bộ khoảng 15 người, trong đó: Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 6 người, anh là Tiểu đoàn phó 1 phụ trách chung về quân sự, thay thế anh Tô Thành Sóc, là Tiểu đoàn trưởng, đã đi nghiên cứu chiến trường. Anh Trần Quốc Thành, sinh 1945, là Tiểu đoàn phó 2, quê ở xã Xuân Huy, cùng huyện Lâm Thao. Anh Nguyễn Văn Chân, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn. Anh Đào Văn Luyện, Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn. Hai anh Nguyễn Văn Chí và Nguyễn Văn Huấn là Chính trị viên phó Tiểu đoàn. Cấp trên tăng cường cán bộ lãnh đạo: Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn Ong Thế Huệ, cùng Trợ lý chính trị Nguyễn Văn Tảo. Ngoài ra, còn các Trợ lý tác chiến, Trợ lý chính trị, Quân y sĩ và bộ phận phục vụ Ban Chỉ huy D7. Khi đơn vị hành quân xuống chiến trường, cấp trên còn tăng cường 1 Tiểu đội trinh sát, 1 Trung đội hỏa lực và 1 Đội tiểu phẫu. Tổng quân số khoảng 400 người. Tổ chức chia làm hai cánh hành quân, với quân số tương đương như nhau. Cánh quân thứ nhất gồm có: C2, C3 và một số Tiểu đội tăng cường, do anh trực tiếp chỉ huy, cùng anh Nguyễn Văn Huấn, Chính trị viên phó Tiểu đoàn. Phó Chủ nhiệm chính trị Ong Thế Huệ và Trợ lý chính trị Nguyễn Văn Tảo cùng đi. Thời gian xuất phát hành quân vào tối 29 Tết. Dự kiến hành quân trong 3 đêm: giao thừa, mồng 1 và mồng 2 Tết. Địa điểm tập kết cuối cùng của D7 là xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (cũ). Theo hợp đồng hành quân: Cánh 1 xuất phát trước một đêm, rồi đến cánh 2 xuất phát. Để đảm bảo bí mật và an toàn tuyệt đối, khi hành quân không được phép dùng máy thông tin vô tuyến liên lạc. Nếu xảy ra tình huống xấu, bị địch phát hiện, các đơn vị phải độc đảm chiến đấu, kiên cường bám trụ trận địa, tiêu diệt địch, đợi tối đến mới tiếp tục hành quân di chuyển. Dẫn đường cho đơn vị hành quân là tổ du kích của địa phương. Trước khi xuất phát hành quân, đơn vị được tăng cường thêm tổ Quân báo của Quân khu 2 (cũ) do anh Trần Thái Hùng phụ trách máy PRC25 trực tiếp theo dõi tình hình địch. Khó khăn lớn nhất của đơn vị lúc này là: Trên chiến trường Đồng Tháp Mười, lực lượng địch quá đông, hỏa lực địch rất mạnh. Sau bao năm càn quét, bắn giết dã man nhân dân ta, chúng đã gom được dân ở các tỉnh biên giới Kiến Tường, Kiến Phong vào các ấp chiến lược. Tạo ra vùng đệm, vùng trắng, toàn cánh đồng trống trải, hoang vắng dọc tuyến biên giới. Kèm theo hệ thống kênh rạch chằng chịt, ngập nước, ta khó vượt qua. Anh em đơn vị lại chưa quen tác chiến ở đồng bằng. Nhưng đơn vị có thuận lợi rất lớn, rất cơ bản đó là: tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu, vượt qua mọi hy sinh gian khổ của 100% cán bộ và chiến sĩ, đều háo hức về chiến trường, để mong góp phần chiến đấu giải phóng nhân dân quê hương Đồng Tháp Mười. Lợi dụng vào hai bên ta và địch đã tuyên bố, thỏa thuận ngừng bắn trong thời gian 24 tiếng đồng hồ vào dịp Tết Nguyên đán, từ 12 giờ ngày 29 Tết đến 12 giờ mồng 1 Tết. Cấp trên ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 bí mật tổ chức hành quân theo đúng kế hoạch đã đề ra.

Từ mấy ngày trước Tết, đơn vị đã luôn ở tư thế sẵn sàng và liên tiếp báo động hành quân di chuyển trong đêm, nhằm nghi binh đánh lạc hướng địch. Đơn vị đã tổ chức cho bộ đội ăn Tết trước vào sáng ngày 29 Tết, số quà Tết đồng bào gửi tặng và hậu cần đơn vị cung cấp gồm có: mứt, kẹo, thuốc lá, cả bánh chưng và thịt lợn… được anh em gói buộc sẵn trong ba lô. Đúng 7 giờ tối 29 Tết, khi bóng đêm đã phủ kín, đơn vị bắt đầu tổ chức hành quân. Anh em nhanh chóng rời khỏi các bụi le, cụm dứa dại và tuyến công sự chiến đấu phòng ngự trên các bờ đất kênh rạch xung quanh sóc Ban Chăng. Mệnh lệnh được phát ra “giữ bí mật tuyệt đối, không phát ra tiếng động, tiếng nói và ánh lửa”. Các Tiểu đội trưởng tạm thu giữ hết đèn pin và bật lửa của anh em. Trời tối đen như mực, anh em phải bám sát nhau từng bước đi, vượt qua cánh đồng cỏ khô dọc biên giới. Khoảng 9 giờ tối hôm đó, đơn vị vượt qua sông Vàm Cỏ Tây, đoạn phía Đông bốt Bình Châu và phía Tây bốt gò Măng Đa. Anh thấy các bốt địch đều bắn pháo sáng. Lát sau lại thấy máy bay C130 của Mỹ bay lượn, thả pháo sáng rực trời và phát loa “tâm lý chiến”, vẫn những nội dung quen thuộc: Tiếng mẹ ru con khóc, than trách số phận lấy chồng đi lính, chiến đấu ở miền Nam xa nhà, vợ đợi chờ trong mòn mỏi, vô vọng… Dù sao cũng tác động ít nhiều đến tâm tư, tình cảm của những chiến sĩ trẻ, cái Tết đầu tiên xa nhà và lại phải hành quân giữa đêm giao thừa ở cánh đồng xa lạ, hoang vắng. Anh cũng rất thương anh em đơn vị, toàn lứa tuổi 18, đôi mươi, vừa rời ghế nhà trường và vòng tay yêu thương của cha mẹ, người thân, chưa từng trải cuộc đời, nhưng với tấm lòng yêu nước thiết tha và ý chí căm thù giặc sâu sắc, đã chấp nhận dấn thân vào cuộc chiến tranh, chấp nhận hy sinh gian khổ, để góp phần làm nên thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, hòa bình, thống nhất đất nước Bắc – Nam xum họp một nhà. Càng thương yêu anh em, anh càng đem hết tinh thần, trách nhiệm của người chỉ huy để tổ chức đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

So-529--Ngon-lua-Kenh-Ngang-anh-hung---Anh-2
Nhân dân đến thắp hương ngôi miếu thờ Liệt sĩ D7/E88A
do anh Sáu Dùng dựng lên năm 2010 ở Kênh 62, tỉnh Long An. (Ảnh của CCB Trần Thái Hùng)

Anh Quang ngừng lời, tháo cặp kính lão ra lau, hình như mắt anh đang rớm lệ, tránh nhìn vào tôi, tiếp tục cúi xuống nhìn bản đồ, đưa ngón tay tìm địa danh và nói tiếp:

- 4 giờ sáng mồng 1 Tết (6/2/1970), đơn vị hành quân đến vị trí để trú quân, đêm thứ nhất tạm dừng. Tổ du kích dẫn đường thông báo cho anh biết: Đây là ấp Láng Sen, Kênh Ngang, thuộc vùng 8 – Kiến Tường (cũ), cách biên giới gần 20 km. Con kênh này chạy theo hướng Bắc – Nam, dẫn nước từ vùng sình lầy ra kênh Dương Văn Dương, hai bên Kênh Ngang có rừng tràm vẫn còn ngập nước, cho nên đơn vị phải bí mật trú quân trong cánh đồng cỏ khô ven rừng tràm. Anh liền tổ chức cán bộ chỉ huy đi nghiên cứu địa hình, xây dựng phương án chiến đấu tại chỗ. Khi bị địch phát hiện tiến công, sẽ cho anh em đơn vị rút ngay vào rừng tràm, lợi dụng bờ kênh, rạch để bám trụ chiến đấu. Anh em ẩn mình trong cỏ khô theo từng tổ 3 người, ăn bánh chưng, lương khô và gạo rang mang theo, tuyệt đối không ai được nhô đầu lên khỏi ngọn cỏ. Anh rất mừng khi thấy anh em đơn vị nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Đến 7 giờ sáng cùng ngày, anh thấy máy bay trinh sát L19 bay trên cao và máy bay trực thăng cán gáo (NốcMíc) của địch bay thấp sát ngọn cây tràm, hình như nó đang soi đoạn đường ta vừa hành quân trong đêm đã để lại dấu vết nghi ngờ. Quả đúng vậy, chiếc máy bay L19 hạ thấp, lượn vòng ngay trên đầu anh và bắn xuống một quả pháo khói trắng. Cùng lúc, chiến sĩ Đài trinh sát kỹ thuật Trần Thái Hùng báo cáo: “Địch đã phát hiện ra nơi ta trú quân, lệnh cho máy bay trực thăng vũ trang lên quần đảo, khống chế. Chúng đợi qua 12 giờ trưa, hết giờ ngừng bắn sẽ đổ quân bao vây, tiến công ta”. Anh tổ chức hội ý Đảng ủy và Ban Chỉ huy Tiểu đoàn, xác định không thể tổ chức hành quân di chuyển giữa ban ngày. Nên một lần nữa, lại xác định quyết tâm bám trụ chiến đấu theo phương án đã vạch ra. Anh ra lệnh cho các Đại đội nhanh chóng rút vào cánh rừng tràm ở hai bên bờ Kênh Ngang, chặt cây làm công sự nổi, khoét hầm hố dọc bờ kênh, rạch để chiến đấu. Anh đi kiểm tra, thấy đội ngũ cán bộ, đảng viên đều đã nêu cao tinh thần quyết tử, động viên anh em bình tĩnh sẵn sàng đánh địch, giữ vững trận địa, dũng cảm hy sinh. Vừa hết giờ ngừng bắn, địch đã dùng máy bay trực thăng vũ trang, máy bay OV10 liên tục bắn đạn rocket, đại liên xuống đồng cỏ và khu rừng tràm, làm lửa cháy ngùn ngụt và khói bốc lên cuồn cuộn. Cùng lúc, chúng dùng hàng chục máy bay trực thăng đổ khoảng 5 Tiểu đoàn quân bao vây tiến công quân ta. Sau mỗi đợt đánh phá ác liệt, chúng lại cho máy bay L19 phát loa phóng thanh, giở trò chiến tranh tâm lý, lừa phỉnh, dụ dỗ quen thuộc, kêu gọi: “Anh em cán binh Cộng sản Bắc Việt hãy quay về với chính nghĩa quốc gia, chiêu hồi, đầu hàng, được tưởng thưởng và bảo toàn mạng sống. Nếu không sẽ bị tiêu diệt”. Ngay từ phút đầu, chúng đã bị quân ta đánh trả, chống cự quyết liệt bằng tất cả các loại vũ khí, súng đạn có trong tay: Đại liên, trung liên, B40, B41, AK, lựu đạn và thủ pháo… tiêu diệt hàng trăm tên địch, khiến lũ bộ binh địch hốt hoảng không dám tiến vào rừng tràm, đứng ở ngoài đồng cỏ xả súng vào và gọi máy bay trực thăng yểm trợ, điên cuồng bắn phá, gây cho ta tổn thất lớn. Buổi tối hôm đó, địch khép kín vòng vây, hòng ngày hôm sau mồng 2 Tết (7/2/1970) sẽ tiếp tục tiến công tiêu diệt quân ta. Anh thu gom anh em đơn vị hy sinh mất hơn 100 người, còn sống được khoảng 70 người, trong số đó lãnh đạo, chỉ huy Tiểu đoàn còn đủ, liền tổ chức bí mật vượt vòng vây của địch và hành quân về phía Bắc – Tây Bắc, qua kênh Cả Gáo, ngược lên biên giới. Cũng nhờ có anh Trần Thái Hùng, Trinh sát kỹ thuật, biết rõ địch phục kích, đón lõng ở những chỗ nào để ta phòng tránh. Anh ấy lại là người con của Đồng Tháp Mười, tương đối thông thuộc địa hình dẫn đường nên sau 7 đêm, 6 ngày hành quân ta đã vượt qua được vòng vây của địch, dẫu phải chịu đói khát, ăn ngó sen, cây chuối thay cơm. Vẫn cố gắng tổ chức khiêng cáng anh em bị thương nặng chu đáo. Các anh được anh em Tiểu đoàn 9 tổ chức xuống tìm, đón đưa về căn cứ Tà Nu an toàn. Sau đó, D7 được củng cố, bổ sung quân số và tiếp tục làm nhiệm vụ chiến đấu, lập nhiều chiến công mới.

Một lần nữa anh Quang lại lau mắt kính. Tôi thấy anh đang xúc động vì nhớ thương đồng đội, đồng chí đã anh dũng chiến đấu hy sinh ở Kênh Ngang. Anh nghẹn ngào nói tiếp:

- Việc cánh quân thứ nhất của D7 phải chiến đấu ác liệt hy sinh lớn như thế, nhưng vì máy thông tin vô tuyến K63 mang theo bị trúng đạn hỏng ngay từ phút đầu, nên anh không liên lạc được với Chỉ huy Trung đoàn và Chỉ huy Tiểu đoàn 7 ở biên giới. Theo đúng hợp đồng kế hoạch hành quân, tối mồng 1 Tết (6/2/1970), cánh quân thứ 2 do Tiểu đoàn phó 2 Nguyễn Quốc Thành chỉ huy lại xuất phát, theo đúng đường hành quân của cánh quân thứ nhất. Lúc 5 giờ sáng mồng 2 Tết (7/2/1970), đơn vị tập kết ở khu rừng tràm ven Kênh 62, nay là ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại. Đoạn kênh này chính là Kênh Ngang kéo dài, mới đào năm 1962, cách vị trí tập kết của cánh quân thứ nhất 4 km về phía Bắc. Sau đó địch lại phát hiện, tổ chức máy bay trực thăng vũ trang bắn phá và đổ quân bao vây tiến công. Dù bị bất ngờ và không có công sự chiến đấu, nhưng anh em ta vẫn quyết tâm chiến đấu tiêu diệt gần 100 tên địch, rồi mới chấp nhận anh dũng hy sinh hơn 140 người. Tối đó, ta phá vòng vây, Tiểu đoàn phó 2 Nguyễn Quốc Thành đưa số anh em sống sót rút về hướng xã Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Cũng có một số ít anh em D7 rút về theo hướng kênh Cả Gáo, gặp anh ở đó, trong đó có anh Nguyễn Thế Điệp, đã báo cáo lại tình hình cho anh biết. Cũng nhờ hai anh Nguyễn Thế Điệp và Trần Thái Hùng, sau 1975 đã viết báo cáo trận đánh ở Kênh Ngang và Kênh 62 gửi Bộ Quốc phòng, Báo Quân đội Nhân dân, tỉnh Long An, Sư đoàn 302, Trung đoàn 88A và Ban Liên lạc CCB 88A để tổ chức tìm kiếm, cất bốc, di dời và quy tập được gần 100 hài cốt Liệt sĩ D7 vào Nghĩa trang Liệt sĩ địa phương… Như vậy, đến nay vẫn còn khoảng 140 Liệt sĩ nữa của đơn vị vẫn chưa tìm thấy hài cốt, khả năng thân xác các anh đã tan vào lòng đất Mẹ cho quê hương hồi sinh và đất nước ta xanh thắm mãi mùa xuân chiến thắng, thanh bình. Trong đó có một số Liệt sĩ quê ở tỉnh Phú Thọ như: Liệt sĩ Đỗ Văn Khả, sinh 1940, Chính trị viên phó Đại đội, quê ở TP. Việt Trì; Liệt sĩ Nguyễn Văn Nhàn, sinh 1944, quê ở huyện Phù Ninh; Liệt sĩ Nguyễn Văn Vít, sinh 1937, quê ở huyện Cẩm Khê…

So-529--Ngon-lua-Kenh-Ngang-anh-hung---Anh-6
Quang cảnh bên trong ngôi miếu thờ Liệt sĩ D7/E88A. (Ảnh của CCB Trần Thái Hùng)

Năm 2010, anh nông dân Nguyễn Văn Dùng, tên thường gọi là Sáu Dùng, sinh 1956, ở ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Trong quá trình khai phá rừng tràm ở Kênh 62 để làm ruộng, gieo sạ lúa đã phát hiện và cất bốc được 7 bộ hài cốt Liệt sĩ bàn giao cho chính quyền địa phương. Huyện Tân Hưng và xã Vĩnh Đại cũng đã tổ chức tìm kiếm thêm được 10 bộ hài cốt Liệt sĩ của D7 để đưa về quy tập tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện. Sau đó, xuất phát từ tình cảm, lương tâm và trách nhiệm “Đời đời ghi nhớ công ơn các Anh hùng Liệt sĩ”, anh Sáu Dùng đã lập ngôi Miếu thờ Liệt sĩ Tiểu đoàn 7 trên bờ Kênh 62, tuy rất đơn sơ bằng cột bê tông và mái lợp tol xi măng, nhưng ý nghĩa tâm linh vô cùng cao cả, ngày đêm thắp hương, đèn nến thờ cúng Liệt sĩ. Nhân dân địa phương noi gương anh Sáu Dùng, tổ chức ngày lễ giỗ Liệt sĩ vào dịp kỷ niệm 27/7 hàng năm thu hút hàng trăm người tham gia, đặc biệt là thế hệ trẻ gồm cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 88A/F302 đã về thăm viếng, thắp hương tưởng nhớ công ơn và noi gương tinh thần chiến đấu dũng cảm hy sinh của các Liệt sĩ D7. Anh thật sự vui mừng phấn khởi khi hay tin ngày 22/11/2016, UBND tỉnh Long An ra quyết định xác nhận “Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh” và giao cho UBND huyện Tân Hưng tổ chức xây dựng “Đền tưởng niệm Liệt sĩ D7/E88A” trong trận đánh Kênh Ngang và Kênh 62 ở ấp Láng Sen và ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, thay thế “Ngôi miếu thờ Liệt sĩ” bé nhỏ, đơn sơ do anh Sáu Dùng dựng lên, cho xứng tầm. Nguồn kinh phí xây ngôi Đền thờ Liệt sĩ này khoảng 10 tỷ đồng, do Nhà nước và nhân dân cùng làm, chủ yếu từ nguồn xã hội hóa, được nhân dân đồng tình ủng hộ rất lớn, đã hiến được 5.000 m2 đất để san lấp mặt bằng xây Đền thờ, trong đó có gia đình ông Hai Quảng hiến 2.500 m2 đất ruộng, thật là nghĩa cử vô cùng cao thượng để đền ơn đáp nghĩa các Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh vì dân vì nước. Dự kiến ngôi Đền thờ Liệt sĩ D7/E88A ở Kênh Ngang và Kênh 62 sẽ khánh thành vào dịp Tết Canh Tý 2020, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng trận Kênh Ngang và Kênh 62 (6/2/1970 – 6/2/2020).

Tôi thấy anh Quang mở cuốn sổ tay công tác cũ, như tìm đọc lại tư liệu đã ghi chép, nên liền mạnh dạn hỏi:

- Theo anh thì chiến thắng trận Kênh Ngang và Kênh 62 của Tiểu đoàn 7 có ý nghĩa quan trọng như thế nào?

Ngẫm nghĩ một lát, anh Quang mới trả lời:

- Anh cũng đang muốn xem lại ý kiến của Đảng ủy và Ban Chỉ huy Trung đoàn 88A tại Hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu của đơn vị ngày 10/4/1970, đã kết luận: “Dù bị quân địch tập trung lực lượng lớn gấp 5 đến 7 lần, với hỏa lực phi pháo chi viện tối đa và ta hoàn toàn bị bất ngờ. Dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh bắt buộc trên địa hình đồng nước, trống trải, không có công sự ẩn nấp, nhưng cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 7 vẫn tỏ rõ khí phách ngoan cường, dũng cảm, chiến đấu hy sinh, kiên quyết bám trụ trận địa, không để sa vào tay giặc, phản bội, đầu hàng. Khi có điều kiện đơn vị đã tổ chức khôn khéo thoát khỏi được vòng vây của địch, rút lui an toàn. Thắng lợi này mang ý nghĩa tinh thần bất khuất và ý chí chiến đấu gang thép. Được sánh ngang với chiến công về lòng quả cảm và đức hy sinh của cán bộ và chiến sĩ D7/E88A Anh hùng. Góp phần tô thắm thêm trang sử vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Anh Quang tươi cười, biểu lộ niềm vui mừng phấn khởi, kiêu hãnh, tự hào và thốt lên lời tâm đắc:

- Từ tấm lòng bình dị, chân thành của một anh nông dân rất đỗi bình thường, ở nơi vùng sâu vùng xa Đồng Tháp Mười đã đốt lên nén hương thơm và thắp sáng ngọn lửa tri ân.

Thế mà làm lay động và thức tỉnh hàng trăm, hàng nghìn và hàng triệu trái tim của những người dân Việt Nam yêu nước, hàng ngày đến đây dâng lễ, thắp hương tại ngôi miếu thờ nhỏ, do anh Sáu Dùng dựng lên ở Kênh 62 và Kênh Ngang. Rồi đây sẽ trở thành Đài lửa vĩnh cửu thắp sáng ngôi Đền thờ Liệt sĩ thiêng liêng, uy nghi, hoành tráng. Đó chính là ngọn lửa sáng ngời của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng Việt Nam, đã được anh linh các Liệt sĩ D7/E88A, gần 50 năm qua đã sáng lên ở Kênh 62 và Kênh Ngang, vùng đất của quê hương Long An Anh hùng với truyền thống 8 chữ vàng: “Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc”.

Bùi Ngọc Quế
(Hội LHVHNT Phú Thọ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 529

Ý Kiến bạn đọc