Tản văn

Ngôi trường kháng chiến

 

Năm 1964, vùng giải phóng đồng bằng Khu 5 mở ra rộng khắp. Hệ thống quản lý giáo dục và hệ thống trường lớp cũng được thành lập từ khu, tỉnh, huyện đến các xã. Tháng 6-1964, từ Căn cứ địa Khu 5 tại Trà My, Quảng Nam, Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Khu 5 cử 4 người, gồm thầy Tô Uyên Minh, thầy Nguyễn Trung Thành, thầy Nguyễn Hoài Trung, anh Đặng Song Thanh vào Ba Tơ, Quảng Ngãi xây dựng trường Sư phạm Trung cấp. Sau khi khảo sát địa thế, tham khảo ý kiến của ông Bui già làng một nóc sở tại, thầy Tô Uyên Minh với cương vị Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng quyết định chọn nơi này dựng trường.

Việc đầu tiên, họ phát dọn dây leo, cây nhỏ dưới chân rừng già bên bờ suối dựng lán trại, đào hầm trú ẩn, đào lò “Hoàng Cầm” giấu lửa, giấu khói; Hiệu trưởng cử cán bộ xuống các xã Phổ Thuận, Phổ Cường… tuyển thêm người cho bộ phận hậu cần, hình thầy đầy đủ bộ khung của nhà trường; liên hệ với tỉnh Quảng Ngãi nhận lương thực theo lệnh xuất gạo của Khu 5; liên hệ với những người buôn bán ở đầu mối giáp ranh giữa vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm, mua các nhu yếu phẩm như mì chính, bột xì dầu, thuốc tây, giấy in, vở học sinh…. Tất cả phải triển khai cùng lúc với việc phát hành giấy triệu tập giáo sinh các tỉnh duyên hải Trung Trung bộ về tựu trường.

Giáo sinh là người có trình độ bán phần, toàn phần tú tài, xuất thân từ gia đình khá giả ở nông thôn, một số ít từ thành phố mới thoát ly tham gia cách mạng. Ngay những ngày đầu ra đi những quý tử này phải vật lộn với chiếc ba lô nặng trịch, nghẹt thở vì leo dốc, ngã sấp vì lội suối, vượt qua sự rình rập của thần chết để đến với cánh rừng thuộc xã Ba Trang nằm ở vị trí tiếp giáp giữa 4 huyện Ba Tơ, Đức Phổ – Quảng Ngãi và Hoài Nhơn, An Lão – Bình Định. Đoàn ở tỉnh xa như Quảng Đà, Phú Yên phải hơn nửa tháng mới tới nơi. Giáo sinh vừa đến, cả thầy lẫn trò lao ngay vào núi chặt cây, cắt dây rừng, cắt tranh về làm nhà ở, nhà bếp, hội trường đào hầm trú ẩn; đi xuống các xã thuộc vùng giải phóng huyện Đức Phổ, huyện Hoài Nhơn cõng lương thực, thực phẩm về dự trữ cho cả khóa học.

So-627--Anh-minh-hoa---Ngoi-truong-khang-chien---Anh-1

Tháng 4-1965, sau khi giáo sinh khóa I ra trường, hàng loạt các trường cấp II vùng giải phóng của 5 tỉnh từ Quảng Đà đến Phú Yên khai giảng khóa học đầu tiên. Xong khóa I, Trường Sư phạm trung cấp Trung Trung bộ tiếp tục đào tạo khóa II.

Trong hai năm 1964 – 1965, chiến lược chiến tranh “Đặc biệt” của Mỹ ngụy bị phá sản, lính Mỹ đổ bộ vào miền Nam nhưng chưa kịp tiến hành các chiến dịch phản công lấn chiếm. Rừng núi Ba Tơ còn khá yên bình, hai khóa học đầu tiên được tiến hành trôi chảy.

Bế giảng khóa II, thầy Minh cùng ông Song Thanh về Căn cứ địa Trà My báo cáo tình hình và liên hệ chuẩn bị điều kiện mở Khóa III với qui mô lớn hơn hai khóa trước. Lúc này, tôi cũng vừa ở đồng bằng thoát ly lên Tiểu ban Giáo dục Khu, được thầy Minh dẫn vào trường. Chưa tròn 15 tuổi, chân tay còn yếu ớt nhưng phải theo thầy vào Ba Tơ. Chúng tôi đi đường trên 10 ngày, đến nơi đã giáp Tết. Và tôi ăn cái Tết đầu tiên ở chiến khu tại đây.

Sau Tết, Sư đoàn American đổ quân đóng Gò Hội, Phổ Hòa; Núi Giàng, Phổ Minh, tiến hành chiến dịch mùa khô 1965 – 1966. Sợ địa điểm trường bị lộ, chúng tôi phải chạy ra phía Ba Trang, gần cơ quan Huyện ủy Đức Phổ. Dựa lưng các đồng chí ở địa phương mà tồn tại. Vài ngày sau địch rút quân, chúng tôi quay về địa điểm cũ và Khóa III bắt đầu.

Tình hình chiến sự của chiến trường Nam Quảng Ngãi – Bắc Bình Định trở nên ác liệt. Mỹ đổ biệt kích, chốt chặn các cửa khẩu xuống đồng bằng; lùng sâu vào các khe suối tìm diệt cơ quan của ta. Máy bay Đa-cô-ta trút chất độc hóa học bóc trọc rừng, phá hoại cây lương thực, rau màu, gây cho bộ đội, cán bộ và người dân tộc bản địa đói kém, không còn nơi trú ẩn an toàn… Tuy khó khăn, ác liệt hơn trước nhưng trường vẫn trụ vững. Khóa III bế giảng thắng lợi.

Mùa khô 1966 – 1967, Sư đoàn Không vận số I Mỹ đánh phá càng dữ dội các huyện Đức Phổ, Hoài Nhơn và vùng rừng núi Ba Tơ – An Lão. Chúng đổ quân chốt chặn các đồi cao. “Mỹ lết” thường xuyên phục kích ở những nơi hiểm yếu của các ngả đường từ căn cứ xuống các thôn Xuân Thành, Thanh Sơn thuộc Phổ Cường; thôn An Đỗ thuộc xã Hoài Sơn; ranh núi các xã Phổ Ninh, Phổ Khánh. Bộ đội, cán bộ, người dân tộc Hre xuống đồng bằng cõng lương thực, thực phẩm bị chúng giết chết quá nhiều. Nhưng lệnh triệu tập học sinh khóa IV vẫn được phát đi. Giáo sinh của 5 tỉnh duyên hải miền Trung, vượt qua bao hiểm nguy đến được trường. Khóa IV vẫn tiến hành trong tình hình hết sức căng thẳng. Thầy trò trường Sư phạm trung cấp miền Trung Trung bộ kiên cường trụ bám. Hầm trú ẩn được đào ngay cạnh giảng đường. Các tổ tự vệ của giáo sinh, thay phiên cảnh giới. Nghiệt nỗi, trường học thì làm chi được trang bị vũ khí. Cả trăm con người, chỉ có vài khẩu CKC, không thể đánh đấm được. Nếu địch mò tới, phải chạy lánh theo kiểu có tổ chức mà thôi.

Tính mạng của gần 100 con người đang bị đe dọa từng giờ từng phút. Ngày 19-5-1967, Chi bộ nhà trường họp khẩn cấp, phân tích kỹ tình hình, quyết định mở ngay đường máu, đưa toàn bộ học viên và cán bộ ra khỏi vòng vây, đi về phía rừng rậm ở hướng dốc Cây Muối. Từ đây, thầy Tô Uyên Minh phát lệnh ngưng đào tạo Khóa IV. Giáo sinh của các tỉnh chia tay, theo các trạm giao liên trở lại quê nhà. Thầy trò từ biệt nhau giữa Trường Sơn mà không dám hẹn ngày gặp lại.

Sau khi giáo sinh Khóa IV phân tán về địa phương, chiến tranh ngày càng ác liệt, các trường cấp II trên toàn Khu 5 không thể tồn tại được. Sứ mệnh của Trường Sư phạm Trung cấp miền Trung Trung bộ giai đoạn 1964 – 1967 cũng được kết thúc tại thời điểm này. Mãi tới năm 1973, sau khi Hiệp định Paris ký kết, chiến sự dịu bớt, cũng trong khu rừng Ba Trang, Ba Tờ trường Sư phạm Trung cấp miền Trung Trung bộ giai đoạn II lại được thành lập, do thầy Hòa làm Hiệu trưởng. Trường tồn tại đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Chiến tranh đã lùi xa, bây giờ chúng ta không thể hiểu hết, nói hết được sự hy sinh của thầy trò Trường Sư phạm Trung cấp miền Trung Trung bộ thời ấy. Chỉ riêng việc đi lấy gạo để mà ăn, lấy giấy để mà học cũng là việc rất lớn. Mỗi gùi gạo, gùi giấy từ đồng bằng đưa về đến trường là đã vượt qua mấy lần chết. Để rồi, từ trong cánh rừng tật nguyền vì bom Mỹ, vì chất độc hóa học ở phía tây nam Quảng Ngãi này thầy và trò của họ đã trao và nhận kiến thức của nhau qua những trang sách, tờ giấy thấm đầy máu và nước mắt. Thành quả ấy tiếp tục được lan tỏa trên khắp các vùng giải phóng miền Trung Trung bộ thời đánh Mỹ. Hiện nay đất nước hòa bình, nền giáo dục của ta đã có hàng ngàn nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú. Nhưng, trong số đông đó ta lại chưa nghe, chưa biết có một nhà giáo đã từng xông pha trong phong trào giáo dục thời chiến được phong tặng, truy tặng danh hiệu cao quý ấy…

Phạm Thông
(Tỉnh Quảng Nam)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 627

Ý Kiến bạn đọc