Tản văn

Ngôi đình vị tướng hóa thần

 

Suốt mấy ngày đầu tháng 10.2020, tôi cùng anh bạn viết Cao Vĩ Nhánh đèo nhau trên chiếc xe máy đi vòng quanh thành phố Tuy Hòa (Phú Yên). Nhớ lúc ngồi bên cội cây cổ thụ hơn 200 tuổi, tua xòe nhánh ôm viền cổng tam quan vào đền Ông, tôi lặng lẽ đưa mắt nhìn ra Thạch Bi Sơn và núi Chóp Chài nghe người giữ đền kể chuyện mà nhớ thời dựng thôn, lập làng, hùm dữ, rừng thiêng, nước độc… Chúng tôi thắp nhang, bày tỏ lòng thành gửi đến tiền nhân và nghe xa xăm vọng về câu chuyện danh nhân tướng quân và ngựa chiến đã lập đại công gầy dựng nên vùng trấn biên này…

Sử sách ghi nhận, năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh đem quân vào ổn định vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Do lập công lớn nên Lương Văn Chánh được đặc tiến “Phụ Quốc Thượng Tướng Quân” và được giao điều hành huyện Tuy Viễn trấn An Biên (nay thuộc tỉnh Bình Định). Với tài thao lược điều binh, lại chuyên tâm tìm hiểu rất kỹ về địa thế vùng núi non hiểm trở này, ông đã đánh dấu những nơi nào sẽ sinh sống, trồng trọt, phát triển, nơi nào cần dè dặt đề phòng thiên tai địch họa trong quá trình khai khẩn đất hoang vùng biên trấn.

Vùng đất Phú Yên xưa đất rộng người thưa, là nơi hung hiểm, rừng thiêng nước độc. Do người Chămpa, Chân Lạp và cả Khmer liên tục chinh chiến với nhau làm cho nhiều nơi đất bỏ hoang, dân tình xiêu tán khắp nơi. Thấy được những lợi thế lẫn khó khăn, nguy hiểm, nên Lương Văn Chánh đã từng bước một tạo thế đất, dựng tình người, làm nên giao diện mới cho cả một vùng đèo heo hút gió. Khi đã ổn định vững chắc mọi việc, ông được lệnh của chúa Nguyễn Hoàng (năm 1597) giao nhiệm vụ đưa dân vào khai khẩn các xứ Cù Mông (huyện sông Cầu ngày nay), Bà Đài (Xuân Đài – huyện Tuy An ngày nay), Bà Diễn (Đà Diễn – thành phố Tuy Hòa, huyện Phú Hòa và một phần huyện Tây Hòa ngày nay), Bà Nông (Đà Nông – một phần huyện Đông Hòa ngày nay). Chính từ những trọng điểm này làm cơ sở để chúa Nguyễn thành lập phủ Phú Yên vào năm 1611 gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

So-618--Ngoi-dinh-vi-tuong-hoa-than---Anh-1
Cây cổ thụ trước đền thờ Lương Văn Chánh.

Những nơi đất đai trước kia bị bỏ hoang, phế tích do chiến tranh và cả thiên tai, những vùng cận sơn, sông, đầm, biển thì thú dữ, đặc biệt là cọp, rồi dịch bệnh sốt rét rừng phát triển rất mạnh nên cũng không một bóng người cư ngụ. Chính vậy, Lương Văn Chánh kêu gọi và huy động quân dân ra sức khai khẩn các vùng hoang hóa kia thành cây xanh quả ngọt, thành đường đi, lập nên làng xã là cả một quá trình, công sức và tâm hồn mãnh liệt mới tạo dựng được một Phú Yên sau này. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn viết trong mục Kiên trí – Duyên cách: “Bản triều Gia Dụ Hoàng đế năm thứ 21 Mậu Dần, Lê Quang Hưng nguyên niên, vua ủy Lương Văn Chánh làm Trấn Biên quan chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Bà Đài, khẩn đất hoang ở Đà Diễn”. Lại nữa, trong mục Cổ tích nói về “An Nghiệp cố thành: Tương truyền thành này do người Chiêm Thành xây đắp, tục danh là Thành Hồ. Buổi quốc sơ Lương Văn Chánh bạt phá, nay nền cũ vẫn còn”. Ông đã cùng binh lính, những sức vóc của tuổi thanh xuân, ý chí dời non lấp bể đã làm nên kỳ tích trong quá trình khai khẩn đất hoang và đưa dân vào dựng thôn lập làng, thành nơi hoạch định hành chính như những nơi khác. Để từ đây chúa Nguyễn lại tiếp tục mở đất lan dần về phương Nam và rộng lớn như ngày nay tới mũi Cà Mau.

Khi Nam Bắc phân tranh (1627 – 1672) chấm dứt, vào năm 1689, chúa Nguyễn truy phong cho Lương Văn Chánh tước “Bảo quốc chi thần”. Đến năm 1693, ông lại được phong tước “Bảo quốc Hộ dân chi thần”. Kể từ năm 1689 đến năm 1767, chúa Nguyễn đã 5 lần gia phong cho Lương Văn Chánh, tước vị cuối cùng ông nhận được là Phù Quân công, Thần bảo Hộ dân, Hựu Thuận Phong công, Tỉnh Tiết. Không chỉ dừng lại ở các tước vị được chúa Nguyễn ban, Lương Văn Chánh tiếp tục nhận thêm 6 lần sắc phong dưới thời các vua nhà Nguyễn, từ Minh Mạng đến Duy Tân (vào các năm 1822, 1843, 1850, 1880, 1887, 1909). Tước vị cuối cùng ông được truy phong là Dục bảo Trung hưng Thượng đẳng thần, tôn vinh người có công khai phá vùng đất mới – Phú Yên.

Vì sự khát ngưỡng bình yên, được hạnh phúc dài lâu nên vùng đất này những tên thôn, làng, huyện tựu trung lại có ba chữ nổi bật nhất: An – Phú – Phước. An cư thì mới lạc nghiệp, từ đây mới mạnh giàu nhưng phải biết tích góp cái phước phần có được, không nên vung vãi mà phải cần kiệm, vun bồi cho hôm nay và mai sau được vinh hiển sâu dầy.

Danh nhân Tướng quân Lương Văn Chánh mất vào ngày 19 tháng 9 năm Tân Hợi (tức năm 1611) tại thôn Phụng Tường, xã Hòa Trị, chính nơi vùng đất mà ông đã có công khai khẩn, ngay ngôi làng do mình lập nên, đó là làng Phụng Các, tổng Thượng Đồng Xuân, nay là thôn Phụng Tường, xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa.

Nhân dân nhớ ơn người mở lập đất này, tôn vinh Ông là Thành hoàng, vị thần có công đầu trong việc giúp dân khai hoang sản xuất, ổn định đời sống. Không chỉ vậy, Ông Phù nghĩa hầu – Phù quận công là người bảo vệ giang sơn, mở mang bờ cõi, xác lập vùng đất mới cùng với các chúa Nguyễn định đô, xây dựng cát cứ, củng cố xứ Đàng Trong yên bình, giàu có.

Ngày 27.9.1996, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 2410-QĐ/VH công nhận mộ và đền thờ Lương Văn Chánh thuộc xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên là Di tích lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia.

Nơi đây, có một trường học vinh dự mang tên Ông. Đó là Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh. Trường chuyên Lương Văn Chánh trước đây chỉ có dạy và học cấp Tiểu học và Trung học cơ sở, sau được nâng lên bậc Trung học phổ thông. Hiện nay, Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh là trường có chất lượng dạy và học đứng đầu tỉnh Phú Yên. Trường có nhiều học sinh giỏi đạt giải cấp quốc gia và quốc tế. Hàng năm, đến ngày 19 tháng 9 (ÂL), thầy và trò của trường đều có mặt đầy đủ, thành kính làm lễ dâng hương ở đền thờ Lương Văn Chánh, tưởng nhớ đến vị Thành hoàng – Tướng mở cõi hóa Thần xứ trấn biên.

Sau khi thắp nhang Thần Thành hoàng dựng cõi, mở đầu cho cả vùng đất Nam Trung bộ về sau, anh bạn Cao Vĩ Nhánh và tôi cũng không quên thắp nén nhang cho chiến mã, “ông ngựa” đã trung dũng chở chủ là dũng tướng xông pha từ chiến trường cho tới những ngày tháng vất vả trong việc khai thôn lập làng, âm thầm mà lập nên bao chiến công. Ngựa chiến trung thành đã đưa chủ tướng mình về tới làng, về lại nơi mà Ông Lương Văn Chánh từng sinh sống. Bạn Nhánh nhắc tôi rung chuông nơi cổ “ông ngựa”, tôi rung 3 lần chuông ở tả hữu bệ thờ ngựa chiến (2 ngựa thờ tả hữu bên Thần Thành hoàng Lương Văn Chánh cho cân đối, sự thật thì chỉ có một “ông ngựa” tận trung cùng chủ tướng tới hơi thở cuối cùng). Tiếng chuông ngân lên, ngoài kia một cơn gió vừa lướt qua lao xao nhánh cây cổ thụ 200 năm, có tiếng hót của loài chim nào vừa cất lên gọi một ngày đầy năng lượng sống và thương yêu…

TP.HCM, 17.10.2020

Tâm Anh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 618

Ý Kiến bạn đọc