Truyện ngắn

Ngọc Môn

Hắn nâng chén rượu lên, cạch với tôi một cái, rồi nói: – Hôm nay mày phải ngủ lại chơi với vợ chồng tao! Số mày sướng! Đếch phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn. Chỉ có tao là khổ, mười mấy năm trời, hết chiến trường nọ đến chiến trường kia. Nhưng mà trời có mắt thật mày ạ! Tao bị thương mấy lần, thoát nạn trong gang tấc. Kết thúc chiến tranh, vẫn giữ được cái mạng sống, lại kiếm được vợ hiền từ chiến trường về theo. Vợ tao quốc tịch Campuchia đấy!

Nghe hắn nói, tôi mới nhìn kỹ khuôn mặt người đàn bà ngoại quốc – vợ hắn. Nước da ngăm đen, mắt mở to, lông mày đen nhánh, rậm, khóe miệng rộng, môi hơi dầy, eo thon, đôi vai tròn lẳn, trẻ hơn hắn đến 15 tuổi. Đúng là một cô gái Campuchia với những nét khá đặc trưng. Làm sao mà hắn lại lấy vợ ngoại quốc? Chắc phải là một thiên tình sử chan chứa lệ sầu bi đây! Hắn bảo, nếu mày ngủ lại với tao đêm nay, tao sẽ kể cho nghe chuyện tình của tao, còn ly kỳ hơn bất cứ bộ phim nào. Khi ấy, tôi chưa vợ, ngủ lại một đêm chứ có vài đêm thì cũng có làm sao! Thôi thì ở lại với hắn một đêm, uống rượu ngô do chính tay vợ hắn chưng cất, nghe tình sử của vợ chồng hắn giữa mênh mông núi đồi, gió trăng lồng lộng, kể cũng thú vị. Trong chếnh choáng hơi men, tôi gật đầu với hắn…

*
Tôi với thằng Hùng thân nhau từ ngày còn học phổ thông. Hắn chỉ học hết lớp 7 rồi đi lính. Cả tuổi thanh xuân của hắn nằm lại chiến trường, hiến thân cho cuộc trường chinh “xẻ dọc Trường Sơn cứu nước”. Mặc dù “hai đứa ở hai đầu xa thẳm”, nhưng tôi với hắn vẫn viết thư cho nhau. Mùa hè năm ấy, sau khi tốt nghiệp khoa Địa chất công trình, Đại học Mỏ địa chất, tôi được phân công tác tại Công trình thủy điện Hòa Bình. Tôi về phép, nghe tin hắn đã xuất ngũ, đưa vợ về quê, lại mới nhận thầu vùng đồi rừng Ngọc Môn, liền tranh thủ lên thăm cơ ngơi của vợ chồng hắn. Sau bao nhiêu năm trời xa cách, gặp tôi hắn mừng lắm.

Tranh thủ lúc cô vợ sửa soạn cơm đãi bạn, tôi với hắn cùng đi ra phía chân đồi quan sát. Quả đúng là một vùng non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình. Hai quả đồi gần nhau, sườn thoải xuống tạo thành một thung lũng lớn. Phần còn lại thon dần, trải dài, trông xa như cặp đùi của một vũ nữ khổng lồ đang nằm ngủ. Phía lưng chừng đồi kia, nơi tiếp điểm của hai quả đồi, có một mạch nước trong vắt chảy ra, đêm ngày không dứt, tạo thành những ao đầm kế tiếp, có sen mọc. Mùa thu, các ao đầm chỉ còn xăm xắp nước, nhiều người đi mò cua bắt ốc, vớ được những con trai to bằng bàn tay úp, mổ ra, có viên ngọc sáng lấp lánh. Có lẽ vì thế mà nơi đây có tên là Ngọc Môn chăng?

Buổi chiều, hắn dẫn tôi lên thăm thú Ngọc Môn, mà như hắn nói, từ ngày vợ chồng hắn về ở, cũng nhờ sự phò trợ của đôi rắn thần cho nên làm ăn mới suôn sẻ và không bị “ngã nước”. Hắn tin như đinh đóng cột rằng, đôi rắn ấy chính là Sơn thần.

“Ở đâu mà chẳng có thần thánh! Đất có thổ công, sông có Hà Bá, mày đừng có mà coi thường. Vợ chồng tao mà ăn ở thất đức, trụ sao nổi vùng đất linh thiêng này?”. Tôi chợt nhớ ra, hắn vốn là thằng sống có tình nghĩa từ ngày còn đi học. Lần ấy dì ruột hắn bị tai nạn mất nhiều máu lắm, cần tiếp máu gấp mà cả nhà chẳng ai có nhóm máu A. Hắn thương dì nên chạy theo đến bệnh viện. Bí quá, bệnh viện xét nghiệm cả máu của hắn, may mắn, chỉ có hắn là hợp. Nhờ đó mà dì hắn thoát chết. Sau vụ hiến máu đó, hắn sinh bệnh mất ngủ mấy năm trời, may có ông lang Mường lấy thuốc lá cho uống, hắn ngủ được, sức vóc trở lại. Khám nghĩa vụ đợt đầu, trúng luôn.

So-506--Anh-minh-hoa---Ngoc-Mon
Tượng đền Bayon Ảnh: kyluc.vn

Tôi với hắn đã leo lên đến bậc cuối cùng của Ngọc Môn. Đúng là “cửa ngọc”. Một dòng nước trong vắt chảy xối ra như có một sức ép khủng khiếp nào từ trong lòng đất. Tôi giơ hai bàn tay hứng và đưa lên miệng uống liền mấy vục. Mát quá. Hắn chỉ tay lên bãi cỏ nhỏ trước mặt, kể chuyện ngày đầu vợ chồng hắn mới đến Ngọc Môn: “Chiều hôm ấy, mưa phùn gió bấc, tao vừa bước qua Ngọc Môn khoảng dăm bảy bước thì nghe tiếng phì phì như rắn hổ phù. Tao ngoái lại nhìn, sởn cả tóc gáy. Trời ơi, có một đôi rắn hổ mang bành vàng óng như tơ đang nằm phơi mình trên đám cỏ. Một con, chắc là con cái, bụng chửa to đùng, tao nhìn rõ những quả trứng đang chuyển động dưới lớp da mỏng của nó. Con rắn cái quằn quại đau đớn trong cơn trở dạ. Con rắn đực ngóc cổ có bộ tua vàng rực thở phì, canh chừng cho vợ đẻ, sẵn sàng lao tới mổ vào bất kể kẻ nào dám đụng đến sinh mệnh của vợ nó. Giống như người ấy, mày biết không?”. Hắn kể tiếp, giọng hào hứng: “Chắc là hai vợ chồng đi du ngoạn, giữa đường vợ bỗng chuyển dạ, nhưng thằng chồng chả biết xử trí làm sao. Tao nhìn thấy mắt con rắn đực có vẻ như cầu cứu chứ không hung dữ và có ý định lao tới mổ vào tao. Người khác chắc vác gậy phang cho mấy chưởng đem về ngâm rượu rồi, nhưng mà tao, như có linh tính mày ạ, tao chạy vội về nhà, ôm luôn chiếc chăn chiên quân đội cũ mang theo từ ngày còn ở chiến trường về đã rách lên, vứt xuống bên cạnh. Kỳ lạ thật! Hai con rắn từ từ bò vào tấm chăn chiên rồi quấn lấy nhau. Tao bỏ về nhà. Sáng hôm sau lên, thấy ở giữa tấm chăn, 2 quả trứng xinh xắn, màu xanh da trời. Tao mang cả chăn và trứng đặt vào chỗ lõm của một gốc cây lớn, đề phòng mưa gió phả vào…”.

“Thế mà thiêng thật mày ạ!”. Hắn kể tiếp: “Hai tháng sau, vợ tao mang thai rồi sinh đôi, bằng đúng số trứng rắn hôm ấy. Mày bảo, không có thánh thần là gì? Mà trước đó, 4 năm rồi vợ tao vẫn im như thóc, đâu dám nghĩ có người kế nghiệp?”. Tôi hình dung lại hai đứa bé trai con hắn, lúc tôi vào nhà, đang đùa nhau ngoài sân, giống nhau như hai giọt nước.

Đêm xuống, thằng Hùng ôm chăn chiếu, điếu cày, rượu ngô và cả đồ nhắm ra tảng đá phẳng lừ rộng bằng chiếc chiếu trải giường ngay cạnh Ngọc Môn. Hắn đóng cọc rồi chăng tấm tăng bộ đội cũ lên trên, bảo tôi ra đó ngủ. Cái khoản ngủ rừng thì rõ hắn phải là bậc lão luyện từ ngày chiến tranh. Cũng được! Ra đó, hai thằng có kể chuyện trời chuyện đất cũng không ảnh hưởng đến mẹ con cô Sinh. Hắn uống rượu cũng khá, cứ khà khà như là ngây ngất lắm. Tôi cứ sợ hắn say rồi quên mất lời hứa với tôi ban chiều. Nhưng không! Tôi thấy mặt hắn bỗng rượi buồn, hai con mắt thẫm sâu như chất chứa nhiều tâm sự lắm. Trăng lên muộn. Cả khu đồi rừng rộng mênh mông mờ trắng như ông trời vừa phun sữa. Gió từ bãi sông thổi lên, mát rượi. Hắn bảo, những đêm như đêm nay lại gợi nhớ những ngày chiến đấu dọc biên giới Campuchia, tiễu trừ Pôn Pốt. Ở tỉnh gì ấy nhỉ? À, tỉnh Svay Rieng, nơi hắn may mắn gặp người vợ ngoại quốc trong những ngày chiến tranh tàn khốc…

Đó là một buổi chiều sắp tàn bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia – Hắn nằm gác đùi sang tôi rồi vào chuyện. Đã vào 28 Tết âm lịch rồi, trời rét như cắt da cắt thịt. Trung đoàn tao diệt đến ổ kháng cự cuối cùng của đám tàn quân Pôn Pốt. Nghĩ đến quê nhà, tao ứa nước mắt. Có lẽ giờ này, bố mẹ, chị và em gái tao đang sửa soạn gói bánh chưng Tết đây. Tao ngửi thấy cả mùi lá dong với mùi đậu, mùi thịt lợn làm nhân bánh mẹ vừa bưng dưới bếp lên. Lòng buồn, ngao ngán, mong sao cho cuộc chiến sớm kết thúc để về nhà. Tao với thằng Khuê, quê Hương Sơn Hà Tĩnh, nó nói giọng trọ trẹ mà nhẹ như tiếng chim, dễ thương lắm. Buồn, hai thằng xách hai khẩu AK lững thững dạo trong rừng vì tưởng rằng chả còn mống Pôn Pốt nào thì bỗng hết hồn nghe một tràng liên thanh “tạch tạch tạch” bên tai. Tiếng nổ rất gần mới nghe như thế. Phản xạ rất nhanh, tao ôm súng lăn mấy vòng vào bụi cây gần đấy rồi chồm dậy, ngóc đầu, căng mắt quan sát. Nhìn sang bên, thằng Khuê ngã gục, máu phun ra nhuộm đỏ cả đám cỏ. Có một bóng người mặc quần áo đen, cổ quàng khăn rằn đang di chuyển phía trước. Một tên Pôn Pốt! Tao căm hờn nghiến răng lia hết băng đạn rồi lao lên. Tên Pôn Pốt nằm giẫy giụa trong vũng máu. Tao lật lên. Mày có tin không? Trời ơi! Một đứa con gái xinh đẹp tuổi chừng mười bốn mười lăm thôi, đang lên cơn co giật. Đôi mắt có bờ mi đen rất đẹp chớp cái nhìn cuối cùng. Tao còn nhận ra có cả khoảng trời trong mắt nó. Khẩu AK47 nhuốm máu đổ xuống bên cạnh. Đồng đội nghe tiếng súng lao đến hỗ trợ, lùng sục khắp nơi xem có còn đứa nào lẩn trốn không? Mấy phút sau, một đứa trẻ gái khoảng bảy tám tuổi nấp trong bụi rậm được lôi ra. Nó ngơ ngác sợ hãi, hết nhìn cái xác, khóc rống lên, bảo là chị nó, rồi lại nhìn những người mặc áo lính xa lạ, toàn thân nó run rẩy rất tội nghiệp. Đứa trẻ ấy là vợ tao bây giờ đấy!

- Lúc đó – Thằng Hùng kể tiếp – nhìn đồng đội bị hạ sát một cách vô lý, bọn tao chỉ muốn đòm một phát cho nó theo chị nó luôn. Nhưng nhìn vào mắt nó, thấy tội lắm. Nó còn bé dại, biết gì đâu? Bọn tao khâm liệm cho thằng Khuê, khi hạ huyệt đứa nào cũng khóc. Trời ơi! Đất nước vừa trải qua cơn binh lửa hai mươi mấy năm trời đổ xương đổ máu. Tưởng hòa bình rồi thì được về với bố mẹ, anh chị em chứ có biết đâu lại bỏ xác nơi chiến trường nước bạn.

Chôn thằng Khuê xong, bọn tao lại phải nhặt củi, xếp thành một đống to thiêu xác con ranh. Ở bên đó, người ta có tục người chết phải hỏa thiêu. Lệnh rồi! Sang nước bạn thì mọi hoạt động đều phải tuân theo phong tục, tập quán sinh hoạt… tóm lại là văn hóa của nước bạn. Khi ngọn lửa bùng lên, xác đứa con gái nhập nhòa trong lửa, tỏa ra mùi thịt cháy khét lẹt. Trên các ngọn cây, đàn quạ đen kéo đến đậu trĩu cả cành cây, mắt hau háu nhìn xuống, cất tiếng kêu quạ quạ vang loạn cả cánh rừng. Cảnh chiều cuối năm thật kinh khủng. Tao nhìn vào mắt mấy thằng lính Việt Nam lúc đó, không phải là bạc nhược đâu mày ạ! Nhưng mà khó tả lắm! Ánh nhìn như không còn sức để mà chiến đấu nữa. Có đời nào, sang cứu giúp, bảo tồn cho đất nước, dân tộc bạn thoát họa diệt chủng, mà một đứa trẻ ranh của bạn lại nổ súng bắn chết mình? Ba ngày sau, bọn tao được lệnh rút về nước, mang theo cả con bé con có đôi mắt ngơ ngác ấy. Trung đoàn trưởng nhận nó làm con nuôi. Con bé càng lớn càng xinh đẹp. Có thứ gì ngon, các chú bộ đội đều dành cho nó. Mày biết, cái thời đó cực khổ lắm. Bộ đội chỉ ăn toàn sắn khô, ngô, hạt bo bo, mà trong gian phòng nhỏ dành riêng cho nó, đường sữa, lương khô, thịt hộp, không bao giờ thiếu.

- Thế làm sao mà nó lại trở thành vợ mày được? – Tôi sốt ruột ngắt lời hắn.

- Thì mày cứ từ từ – Hắn trở dậy, lặng lẽ như một ông cụ, nạp thuốc, bắn một điếu. Trong ánh sáng chập chờn của đóm lửa đầu que diêm lóe lên, soi rõ cái mũi thẳng nhọn, lạnh lùng và khổ hạnh của hắn. Da và nét mặt hắn rắn đanh lại như được tạc bằng gỗ sến. Trong đêm khuya, tiếng rít của cái điếu cày vang cả một vùng đồi. Tôi chợt rùng mình thấy lạnh, có cảm giác đó là loạt đạn AK47 của đứa con gái người Campuchia bắn vào ngực thằng Khuê, bạn hắn. Không biết bây giờ, người ta đã tìm thấy hài cốt của nó mà đem về chưa hay vẫn còn cô đơn dưới đất lạnh nơi đất khách quê người?

Thằng Hùng quay trở lại hạ lưng đánh ịch xuống bên cạnh tôi. Tôi có cảm giác như hắn đang khóc. Chắc hắn cũng như tôi, nhớ lại cảnh thằng Khuê bạn hắn bị bắn chết và đứa con gái, lính của Pôn Pốt mặc áo đen, cổ quàng khăn rằn tuổi mới 15 trên giàn hỏa thiêu ngày ấy.

- Trong một lần vào rừng đốn củi cho bếp ăn trung đoàn, vướng mìn lá, thằng Thái, bạn tao đi trước đứt phăng chân. Tao đi sau, chỉ bị thương phần mềm. Sau tháng trời nằm bệnh xá điều trị, tao được điều lên làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng. Đúng là trong cái họa có cái may! Trung đoàn trưởng lúc đó là đại tá Đinh Hữu Tấn, giao cho tao kèm cặp, dạy văn hóa và tiếng Việt cho nó. Lúc ấy nó đã 13 tuổi rồi.

- Nó mới 13 tuổi mà mày đã dẫn dắt nó vào tình yêu rồi à? Thằng khốn!

- Đâu có! Lúc ấy tao mà có thái độ cử chỉ thiếu nghiêm túc thôi, Trung đoàn trưởng cắt cổ tức khắc! Nhưng tao cũng chỉ được làm cần vụ cho thủ trưởng 5 tháng thôi. Thời gian đó cũng đủ cho chú cháu quen hơi bén tiếng nhau. Hôm tao bị điều xuống đại đội, nó khóc dữ lắm. Cứ đòi đi theo…

- Thế rồi sao nữa? – Tôi cựa mình, lật nghiêng quay về phía hắn.

- Phải đi chứ còn sao? Dám chống lệnh Trung đoàn à? – Thằng Hùng lại ngồi dậy. Hắn bảo, có mùi thơm lạ lắm. Chắc là “xạ” của con cày hương vừa đi ăn đêm qua. Mai tao phải dò đường đi của nó đặt bẫy mới được! Bữa kia mày lại lên nhé! Tao đãi món chả nướng cày hương bóp riềng mẻ mắm tôm. Ngon hết sảy!

- Bữa kia tao đi rồi! Công trình thủy điện đang vào giai đoạn lấp sông. Bận lắm! Hẹn dịp khác vậy! – Nói rồi tôi cố hít căng lồng ngực xem có mùi lạ như hắn nói không. Đúng là có mùi thơm thật. Mùi thơm tôi chưa từng ngửi thấy bao giờ. Cũng như câu chuyện hắn kể, khiến tôi càng hiểu những mất mát mà dân tộc ta đã trải qua và càng trân trọng những người lính chiến như hắn hơn. Giữa mênh mông núi đồi, nơi chốn linh thiêng Ngọc Môn, nghe hắn kể chuyện, đêm nay với tôi, có lẽ là kỷ niệm đầy ấn tượng nhất trong cuộc đời.

- Năm 1978, tình hình chiến sự ở Campuchia còn chưa thật bình yên, thì tháng 2 năm 79, thằng Tàu lại phát động cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc Tổ quốc. Tức là 4 năm sau, kể từ ngày tao xa con bé ngoại quốc đó. Tao nghe nói nó được đưa đi học y tá hay văn công trung đoàn gì đấy. Ngay trong đêm, nhiều trung đoàn thiện chiến, trong đó có trung đoàn tao được điều động. Một cuộc chuyển quân thần tốc. Đất nước gặp nguy biến, những người lính lại lặng lẽ lần lượt lên máy bay, bay thẳng ra Hà Nội.

Đêm hôm sau, tại thủ đô, đoàn văn công của sư đoàn biểu diễn phục vụ bộ đội trước khi vào cuộc chiến mới. Trời ơi! Dưới ánh đèn lấp lánh trên sân khấu, tao nhận ra con bé đó, dịu dàng như cô Tấm, giọng ca uyển chuyển, mượt mà, luyến láy trong bài “Làng lúa làng hoa”. Sau đêm biểu diễn, tao đã chủ động đi gặp em. Gặp tao, nàng nhận ra ngay, để nguyên cả phấn son, nhảy bổ vào ôm chặt lấy như sợ tao biến mất. Đợt ấy, trung đoàn tao chưa kịp hành binh lên biên giới thì thằng Tàu đã tuyên bố rút quân rồi. Cùng lúc, vết thương cũ của tao tái phát. Ra Bắc gặp không khí lạnh mà! Nằm Quân y viện 9 mấy tháng trời. Nàng lên thăm tao, cứ khóc thút thít. Sợ tao chết. Nhưng còn lâu tao mới chết! Vết thương tạm ổn, tao được xuất ngũ hưởng chế độ bệnh binh. Tao đưa nàng lên trung đoàn báo cáo, chính ủy thương hoàn cảnh của hai đứa, cho cô nàng xuất ngũ luôn. Thế là dắt díu nhau về đây!

Sáng hôm sau, tôi từ biệt vợ chồng hắn, hẹn ngày tái ngộ. Vợ hắn dúi vào tay tôi một gói nhỏ hạt dổi rừng. Bảo, thứ này khi nào bị đau bụng, hay ợ chua, nhai một hạt khỏi luôn. Quý lắm đó…

Phải lâu lắm, trong một chuyến đi khảo sát thủy điện ở miền Trung, tôi ghé qua nhà và lại lên với hắn. Tôi cứ tưởng cơ ngơi của hắn giờ này chắc là khang trang và giàu có lắm rồi, nhưng lại hoàn toàn trái ngược. Vẫn ngôi nhà cũ không hề sửa sang lại. Từ xa, tôi nhìn thấy duy nhất một dáng người tóc bạc phơ như Tiên ông đang ngồi câu cá. Tiết trời đang là mùa thu. Cả cái đầm nước ngày xưa sen nhiều đến thế mà nay đã lụi. Những cọng lá sen tàn khẳng khiu nhô cao khỏi mặt nước hồ như thể muôn ngàn cái tăm nhang vừa cháy hết. Ngước lên đồi cao, rừng cây đang rụng lá, cả một vùng xao xác lá bay. Tôi gọi, và hắn nhận ra tôi, vội bỏ cần câu tất tả đi lên. Hắn ôm chầm lấy tôi, nước mắt rơi lã tã. Trời ơi! Có chuyện gì xảy ra với thằng bạn vàng của tôi mà sao hắn phải khóc? Chiến tranh trận mạc, liên miên, bao lần cận kề với cái chết, tự mình mấy lần đào huyệt chôn đồng đội mà hắn có khóc đâu? Vậy mà hôm nay…

Khi đã ngồi bên mâm, rót rượu, thằng Hùng mới thong thả kể cho tôi nghe tường tận khúc nhôi cuộc chia ly của vợ chồng hắn: Năm ấy, cũng vào mùa thu, trên đỉnh đồi, mây trắng như những cánh hạc đang sà xuống. Cô ấy tự nhiên nói với tao: Anh Hùng! Em đã đi với anh hơn 30 năm, quá nửa cuộc đời rồi. Em đã trao cho anh tất cả, tuổi thanh xuân, những đứa con em sinh ra và cả những của cải mà chúng ta do cần cù lao lực mà có được. Giờ em phải đi đây! Em phải tìm về nguồn cội của em. Đêm qua em mơ thấy ba mẹ em, các anh chị của em. Họ vẫn chờ em tìm về. Em nhìn thấy ngôi nhà xưa của gia đình em, dưới tán những hàng cây thốt nốt. Con đường lớn, nối với thủ đô Pnôm Pênh… Nhà em ở cánh rừng, gần con đường ấy. Anh đừng cản em và cũng đừng đi tìm em. Em van anh!

Nghe cô ấy nói, tao như rụng hết tim gan. Linh tính, tao biết, giờ phút chia xa đã đến. Từ khi lấy nhau, do hoàn cảnh chiến tranh, vợ tao vẫn giữ quốc tịch Campuchia đấy chứ! Đã đổi sang quốc tịch Việt đâu? Cô ấy không muốn đổi! Tao bị quả báo mày ạ! Ngày ấy, chính tay tao đã từng nổ súng diệt trừ biết bao tên Pôn Pốt khát máu. Bây giờ dưới cõi âm, có lẽ bọn chúng phát hiện ra tao và tìm cách quấy rối hạnh phúc vợ chồng tao đây. Và cái ngày định mệnh ấy đã đến. Tao chỉ biết ôm lấy nàng, nói trong nước mắt: Sinh ơi! Chúng mình đã cùng vượt qua cái chết, chung sống với nhau từ lúc hai bàn tay trắng, nay cũng có của ăn của để, các con đã trưởng thành. Con chim có tổ, con người có tông, em tìm về nguồn cội, anh không dám cản em. Em cứ đi đi, anh mong có một ngày nào đó, em sẽ quay về. Em còn nhớ ngày xưa nơi chúng mình gặp nhau không? Nơi cánh rừng phía bờ trái con sông Mê Kông đó. Chắc nhà em cách đó cũng không xa đâu. Hay anh đưa em về? – Không cần đâu anh! Em muốn về một mình. Quê hương của em mà, sao em không nhớ? Cô ấy nói câu đó, ánh mắt long lanh, lòng đầy kiêu hãnh. Cái bản sắc và dòng máu dân tộc, qua thời gian chừng ấy năm, tưởng như đã chìm sâu trong quên lãng, giờ bỗng nhiên bùng lên mãnh liệt. Màu da, mái tóc, ánh mắt, môi cười của cô ấy như nói lên điều đó. Thì ra bao nhiêu chuyện cũ, tuy còn bé, nhưng nàng có quên đâu? Cũng may mà nàng không biết, kẻ bắn chết chị gái của nàng lại chính cái thằng đàn ông mà ngày đêm nàng ôm ấp. Nhưng theo tao, đó là chuyện đối kháng trong chiến tranh người ta phải tiêu diệt nhau, chứ tao với nàng có gì đối đâu. Khi con người yêu nhau, nó khác!

Sáng hôm sau, còn bao nhiêu tiền tao gói ghém đưa cho cô ấy hết. Ngoài tiền mặt, có 7 viên ngọc trai tao mò được dưới hồ. Nhờ trai uống nước từ Ngọc Môn, những viên ngọc trai chạm vào nhau, phát ra âm thanh trong vắt. Cô ấy quẹt nước mắt, quả quyết đi ra đường Quốc lộ, thẳng tiến hướng Nam, nơi hai dân tộc, hai đất nước chung nhau một lằn ranh giới…

6-2018

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 506

Ý Kiến bạn đọc