XEM BÁO GIẤY
Người tốt - Việc tốt

Ngoại giao Hồ Chí Minh

(Tiếp theo số 397)

Tại sao Hồ Chủ tịch về nước bằng tàu biển?

Sainteny thúc giục chính phủ Pháp giúp Chủ tịch Hồ về nước sớm, càng sớm càng tốt, vì tình hình ở Bắc Việt xấu đi. Thoạt tiên ngày về của ông Hồ được quy định là ngày 14/8, nhưng ông Hồ lại tỏ ra không vội. Ông không muốn về nước hai tay không. Ông muốn ký một bản hiệp ước nào đó vào giờ chót để về nước có thể ngẩng mặt lên, đương đầu với những kẻ toan dìm ông xuống.

Ông Hồ cũng không chịu về nước bằng máy bay, viện cớ sức khỏe ông không thích hợp với việc đi đường hàng không. Có thể ông ngại một cuộc mưu sát như trường hợp Tai-Ly, trùm tình báo Trung Hoa tử nạn phi cơ. Ông đề nghị về bằng chiến hạm trên chiếc Doumont-d’Urville đang sắp nhổ neo sang Việt Nam. Sainteny cố thuyết phục ông Hồ về nước với phương tiện nhanh hơn, nhưng không lay chuyển quyết định của Người. Ngày 16/9, 48 giờ sau khi ký Thỏa hiệp án, Hồ Chủ tịch đáp xe lửa xuống Marseille và Toulon để lên chiến hạm về nước. Chuyến sang Pháp của Hồ Chủ tịch kéo dài trong 3 tháng, ông xa đất nước Việt Nam hơn 4 tháng.

Ho-Chu-tich-va-thu-ky-rieng-Vu-Dinh-Huynh-tai-Paris-1946-chuan-bi-cho-Hoi-nghi-Fontainebleau
Hồ Chủ tịch và thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh tại Paris năm 1946
chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau – Ảnh tư liệu của Sơn Tùng.

*

Xuyên suốt quyển Hồi ký, Jean Sainteny nhấn mạnh là các cố gắng giữa Hồ Chủ tịch và ông trong cương vị Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Việt, tức đại diện nước Pháp để mưu tính một giải pháp hòa bình với chính phủ Hồ Chí Minh đã thất bại vì phe chủ chiến đang thắng thế và nhất là thái độ thờ ơ kỳ lạ của các chính phủ Pháp lúc bấy giờ. Và cũng trong hồi ký này Sainteny đặc tả chân dung Hồ Chủ tịch trong những giây phút nghiêm trọng, vận nước như nghìn cân treo sợi tóc. Và đúng như nhận định, Bác Hồ là một nhà ngoại giao tài ba và đầy bản lĩnh, từng lời nói đến từng việc làm đều được cân đong đo đếm đến mức chi li để đạt được thành công mong muốn (1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Salan

Raoul Salan là tướng Pháp ở Đông Dương đã rút chạy sang Trung Quốc sau cuộc đảo chính của Nhật tháng 3/1945. Đầu năm 1946, Salan từ Trùng Khánh đến Hà Nội, tham gia cuộc đàm phán Việt – Pháp đang diễn ra. Trước tiên ông đến chào Hồ Chủ tịch. Qua tường thuật cuộc tiếp xúc đó, do phía Pháp ghi lại, ta thấy được thái độ khôn khéo của Hồ Chí Minh trong việc tranh thủ kẻ địch, nhưng vẫn giữ vững lập trường của mình.

Ngày 8/2/1946, từ 17 giờ đến 18 giờ 30.

Tướng Salan: Là người chỉ huy quân sự ở đây tôi đến thăm ngài để cảm ơn ngài về cử chỉ lịch sự mà ngài đã thể hiện đối với binh lính của chúng tôi bị thương và những nguyện vọng mà ngài đã trình bày tại Bệnh viện Lanessan hôm mồng 2/2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tôi là một người bạn chung thủy của nước Pháp, hôm ấy là ngày Tết Nguyên đán và tôi vui mừng nhân dịp ấy tỏ mối thiện cảm của tôi đối với nước ngài.

Tướng Salan: Khi trở lại Hà Nội tôi đã được biết rằng trong các vụ rắc rối ngày 10 và 11 tháng Giêng nhiều người Việt Nam đã bảo vệ cho những người Pháp trước đám dân đen, đó là một tín hiệu phấn khởi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đúng thế, nhưng ngài hãy tin tôi, đại đa số nhân dân Đông Dương không phải là người bài Pháp. Nhưng thật đáng tiếc là những sự kiện ở miền Nam và thái độ của các ngài đối với chúng tôi ngày càng đào sâu thêm hố ngăn cách giữa các ngài và chúng tôi.

Tướng Salan: Hố ngăn cách này có lẽ có thể rất nhanh chóng được lấp đi. Chẳng lẽ ngài không nghĩ rằng tốt hơn là để chúng tôi vãn hồi lại trật tự và sau bình yên ở đây bởi chúng tôi có phương tiện rất đầy đủ. Tôi tin chắc rằng đất nước này sẽ thừa nhận ngài và ngài sẽ không khó khăn gì giành được ở đây sự nghiệp là người đứng đầu chính phủ nếu ngài để chúng tôi đổ bộ xuống mà không xảy ra rắc rối. Ngài hãy chứng minh cho thế giới rằng ngài đã có thể và biết cầm quân của mình và điều đó có lẽ là một biểu hiện rất rõ ràng quyền lực của ngài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tôi không thể làm điều đó mà không phản bội lại đất nước tôi.

Tướng Salan: Đó không phải là phản bội lại đất nước mình mà là giúp đất nước mình lấy lại sự thịnh vượng trong tự do mà tự do ấy chắc chắn các ngài sẽ có.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Pháp là một dân tộc vĩ đại, chúng tôi mến mộ nước Pháp, nhưng chúng tôi không muốn sống như những kẻ nô lệ trong nước Pháp. Các ngài có quân đông và được trang bị tốt, chúng tôi có ít quân được trang bị vũ khí. Một người Pháp sẽ giết được 10 người Việt Nam, 10 người Việt Nam (chỉ bằng) một người Pháp, như thế chúng tôi đông hơn các ngài nhiều. Nếu nước Pháp đánh thắng Việt Nam thì đó sẽ chỉ là một chiến công nhỏ bé, nhưng nếu Việt Nam với sự thống nhất tất cả mọi lực lượng của mình, đánh thắng nước Pháp thì đó là một chiến công vĩ đại.

Người ta nói với chúng tôi về một nước Pháp mới, vậy thì nước Pháp mới này hãy chứng tỏ sự đổi mới của mình.

Tướng Salan: Nhưng nước Pháp đã hoàn toàn sẵn sàng chứng minh điều đó. Vậy thực ra ngài mong muốn điều gì?

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đối với tôi “độc lập” về từ ngữ chẳng quan trọng gì lắm. Chúng tôi không muốn sống nô lệ. Chúng tôi chẳng cần gì cái thuật ngữ “độc lập”, điều quan trọng đối với chúng tôi là nội dung của nó. Chúng tôi muốn sống tự do. Hẳn là, chúng tôi mong muốn trao đổi kinh tế thật nhiều, quan hệ văn hóa rộng rãi hơn, muốn những cán bộ nhân viên kỹ thuật Pháp làm việc trong mọi lĩnh vực, nhưng chúng tôi muốn là những chủ nhân của nước mình.

Tướng Salan: Tuyên bố ngày 24/3 (3) đưa lại cho các ngài tất cả điều đó, còn gì nữa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Không, tuyên bố ấy đã bị lỗi thời từ lâu rồi.

Tướng Salan: Trong những cuộc đối thoại với những quan chức Pháp, người ta có chỉ cho ngài thấy quan điểm của chúng tôi không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Không, chưa bao giờ rõ ràng. Nước Pháp, ở Trùng Khánh, ở Luân Đôn, ở Côn Minh ký kết với Trung Quốc về số phận của nước tôi, nhưng với tôi thì cả chính phủ của ngài, cả Sài Gòn không hề đặt ra điều nào cụ thể cả.

Tướng Salan: Tôi vẫn nghĩ rằng nếu ngài không tỏ ra một sự chống đối nào trong dịp này thì điều đó sẽ dễ dàng thỏa thuận. Việc đổ bộ của chúng tôi sắp diễn ra rồi, chúng tôi rất mạnh, vì sao không thừa nhận điều đó. (Từ “đổ bộ” đã làm Hồ Chí Minh rất xúc động và điều đó hiện rõ trên khuôn mặt ông).

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tôi không muốn phản bội lại đất nước mình. Tôi đã từng sống trong chiến khu, tôi đã đánh bại người Nhật, trong khi bản thân người Pháp nằm yên trong nhà yên tĩnh của họ. Nếu các ngài đổ bộ, tôi không thể ngăn các ngài. Nhưng, máu sẽ chảy và điều đó thật bất hạnh bởi vì tôi không muốn đổ máu; nhưng, phụ nữ và trẻ em Pháp sẽ bị giết. Tôi không thể giữ được đám đông và điều đó thật đáng tiếc.

Tướng Salan: Vâng, vì điều đó người ta không dung thứ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tôi hiểu điều ấy, thật đáng tiếc, nhưng có lẽ tôi không thể làm gì được. Đó là phản ứng của những người không muốn bị xiềng xích.

Tướng Salan: Ngài có những đảng phái chống đối lại ngài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đúng vậy, họ trách cứ tôi yêu quý nước Pháp. Trong những tờ báo tiếng Việt, người ta đưa hình tôi khoác tay cùng một phụ nữ Pháp.

Tướng Salan: Theo Hiệp ước Potsdam thì Trung Quốc có nghĩa vụ đối với chúng tôi và đối với thế giới, và Trung Quốc sẽ trung thành điều đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tôi cũng nghĩ thế, nhưng tôi vẫn giữ nguyên ý kiến rằng nếu thậm chí thế giới chống lại chúng tôi thì cũng không thể chấp nhận làm nô lệ. Nước Pháp là một nước tự do thì sao nước Pháp lại không để cho chúng tôi cái tự do ấy.

Cuộc tiếp kiến kết thúc: Ngài Hồ Chí Minh đã mời uống trà nhiều lần. Khi xuống cầu thang, ông nói với tôi: “Thưa tướng quân, tôi biết ngài là một người nhân hậu. Chúng ta tối nay là bạn bè, có thể ngày mai là kẻ thù của nhau, tôi mong muốn chúng ta luôn chỉ là bạn bè”.

Lời bình:

1. Hồi ký của Jean Sainteny, Raoul Salan cho chúng ta thấy bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu phải đối phó với “thù trong, giặc ngoài” vô cùng khó khăn, phức tạp. Hồ Chủ tịch kiên trì, khôn khéo, tỉnh táo đối sách với đối phương từng việc mềm mỏng và kiên quyết tùy từng sự việc để bảo vệ chính quyền, quyết giữ độc lập, tự do không khuất phục trước đe dọa bằng sức mạnh của thực dân. Người tranh thủ duy trì những điều có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam, nhằm mục đích ngăn chặn một cuộc chiến tranh giữa chúng ta với người Pháp. Chính sự khôn ngoan ấy làm cho đối phương không có lý do gây hấn, thực hiện âm mưu đánh chiếm miền Bắc nhanh chóng theo ý định của họ. Kéo dài thời gian hòa bình để chúng ta chuẩn bị lực lượng cho một cuộc chiến sẽ xảy ra, thời gian gần 14 tháng (từ 2/9/1945 đến 19/12/1946) vô cùng quý giá. Khi không thể nhường nhịn được nữa, phải sử dụng bạo lực bảo vệ độc lập thì bên chúng ta chủ động nổ súng vào đối phương.

2. Bài học ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời lập nước đến nay vẫn mang tính thời sự trong đối sách bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của đất nước. Đảng ta biết cách làm dịu tình hình, có lợi cho chúng ta, không mắc vào âm mưu kích động của đối phương và những thế lực thù địch mong muốn.

Đối ngoại là một mặt trận đấu tranh vô cùng quan trọng của một quốc gia. Phát huy bài học ngoại giao Hồ Chí Minh, ngày nay Đảng ta không chỉ kế thừa những kinh nghiệm quý của Bác mà còn nâng lên ở một trình độ mới, kết hợp ngoại giao Nhà nước với ngoại giao nhân dân tạo nên sức mạnh mới phục vụ xây dựng và bảo vệ đất nước. 

Nguyễn Xuân Ba
(sưu tầm – bình luận)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 398

—————————–

1. Trích Hồi ký Histoire d’ une paix manquée (Lịch sử một nền hòa bình bất thành) của Jean Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Việt. Tác giả Nguyên Hùng nay đã khuất, Xưa&Nay số 306, tháng 4/2008.
2. Tài liệu này do TS Phạm Quang Trung đã quá cố, sưu tầm tại lưu trữ của quân đội Pháp được tìm thấy trong di cảo của ông. Xưa&Nay số 267, tháng 4/2006.

Ý Kiến bạn đọc


Người tốt - Việc tốt

Ngoại giao Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ngoại giao tài giỏi, khôn khéo. Đây là ý kiến của Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp, người đại diện cho Chính phủ Pháp thương thuyết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký kết hai Hiệp ước 6/3/1946 và Thỏa hiệp án 14/9/1946.

Xin ghi lại ý kiến của hai nhân vật trên, cho chúng ta thấy “đối phương” nhìn nhận về tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TỪ HỒI KÝ CỦA JEAN SAINTENY

Hồ Chí Minh, một nhà ngoại giao đầy bản lĩnh:

Ngày 28/9/1945, trong khi tôi (Sainteny) còn ở Chandernagor (thành phố thuộc Pháp của Ấn Độ), tướng Alessandri và ông Pignon tới gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó hai ông điện cho tôi một điện tín đánh giá ông Hồ là một nhân vật có nghị lực và đáng kính (forte et honorable personnalité).

Chu-tich-Ho-Chi-Minh-tiep-ong-Sainteny-va-tuong-Leclerc-tai-Bac-Bo-Phu-thang-3-1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông Sainteny – đại diện Chính phủ Pháp
và tướng Leclerc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3-1946.

Ngày 6/10, hai ông này lại gặp ông Hồ lần nữa và nhận xét mỗi ngày qua là nhà cách mạng lão thành này càng tạo uy thế của một người chủ mới của đất nước Việt Nam.

Ngày tôi trở về Hà Nội, tôi tiếp xúc thường xuyên với ông Hồ cũng như gặp các chính khách quốc gia đối lập với chính phủ ông ta. Trong hai ngày 12 và 15/10, tôi cùng ông Pignon gặp Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Đồng Minh Hội thân Trung Hoa lúc đó có một số đơn vị núp bóng quân Trung Hoa chiếm vài vùng biên giới và đang dè dặt tiến về Hà Nội. Cuộc thương thuyết không đem lại kết quả nào, Nguyễn Hải Thần là một nhân vật lu mờ không có quyền hành gì và cũng không có phương tiện nào (un personnage terne).

Còn Bảo Đại, bấy giờ là công dân Vĩnh Thụy cố vấn tối cao, tôi càng thất vọng hơn. Từ lâu chúng tôi muốn gặp vị cố vấn tối cao của chính phủ ông Hồ, nhưng hai lần ông ta lẩn tránh chúng tôi, dù đã có hứa hẹn trước. Mãi đến ngày 7/3/1946, tôi mới gặp được Cựu hoàng cùng đi với Chủ tịch Hồ trong nghi lễ ký Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946. Trong cuộc gặp gỡ này, chúng tôi chỉ trao đổi những vấn đề vô vị nhạt nhẽo. Bảo Đại từ khước bàn những vấn đề nghiêm trọng có tính cách xây dựng.

Lúc đó Việt Nam Quốc dân Đảng ngả theo Việt Minh do tình thế và dường như không được tự do để tiếp xúc với người Pháp.

Thế nên chúng tôi chỉ tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng như hai ông Alessandri và Pignon, tôi nhận thấy ông Hồ là một khổ hạnh, gương mặt nói lên sự thông minh, nghị lực, mưu lược và tinh tế, một nhân vật hàng đầu để vươn tới đỉnh cao của sân khấu chính trị châu Á.

Còn danh tướng Leclerc nhìn Chủ tịch Hồ như thế nào? Sainteny bố trí cho Leclerc gặp Hồ Chủ tịch tại Chủ tịch phủ. Ông để hai vị này đàm đạo còn mình thì rút về phía sau. Leclerc tươi cười, nói vài lời ngắn gọn và tranh thủ được tình cảm nhà cách mạng lão thành tuy Người vẫn giữ vẻ điềm nhiên của một vị lãnh tụ cực kỳ sáng suốt. Bộ ba chúng tôi nâng ly chúc tình hữu nghị Việt – Pháp.

Thận trọng từng bước một:

Chủ tịch Hồ là chính khách kiêm ngoại giao. Một lời nói, một việc làm, ông đều cân nhắc và điều này mới kỳ diệu là phải quyết định trong tích tắc, ngay tại chỗ. Xin đưa ra vài ví dụ. Trong lễ ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Chủ tịch Hồ ký trước tiên. Kế đó là lãnh tụ Quốc dân Đảng Vũ Hồng Khanh. Tại sao Chủ tịch Hồ lại đòi họ Vũ phải ký trong hiệp định kế chữ ký của mình?

Ai cũng biết Hiệp định sơ bộ 6/3 có một từ mà các phần tử quốc gia cực đoan không hài lòng, từ đó là “E1tat libre” (Quốc gia tự do) thay vì từ Độc lập mà phe chủ chiến Pháp nhất định không chịu “ban” cho Chủ tịch Hồ. Để ngừa búa rìu dư luận trên, Chủ tịch Hồ đòi Vũ Hồng Khanh phải ký vào vì họ Vũ là lãnh tụ phe chống Pháp cương quyết hơn ai hết.

Thí dụ thứ hai: Theo quy định thì sẽ có hội nghị chính thức để hợp thức hóa Hiệp địng sơ bộ 6/3. Địa điểm được dự trù là Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris. Chủ tịch Hồ chọn Paris. Tại sao? Vấn đề độc lập của Việt Nam phải được cả nước Pháp biết chứ không chỉ công việc của một nhóm thực dân tham lam. Nước Pháp vừa giải phóng, dân chúng đa số tiến bộ có cảm tình với kháng chiến và quan trọng hơn hết là Đảng Cộng sản Pháp tham chính trong chính phủ Felix Govin. Tổng Bí thư Maurice Thorez là Phó Thủ tướng. Dân chúng Việt Nam được báo chí loan tin là vấn đề Việt Nam sẽ được giải quyết ngay trên thủ đô Pháp.

Về phía người Pháp, tại sao họ đồng ý chọn Paris? Theo Sainteny thì đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thủ đô Pháp có lợi là tách ông khỏi ảnh hưởng của các phe nhóm chống Pháp. Lúc đó có vài nước ngoài muốn phá hoại tình hữu nghị Pháp – Việt.

Một thông báo được công bố trên báo chí và đài phát thanh thì tiếp theo cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch và Cao ủy D’Argenlieu ngày 24/3/1946, một phái bộ hữu nghị Việt Nam gồm 10 vị đại biểu Quốc hội sang Paris chào thân hữu Quốc hội Pháp. Cùng ngày ấy sẽ mở tại Đà Lạt cuộc hội nghị chuẩn bị cho hội nghị chính thức tại Pháp. Phái đoàn Pháp gồm 12 người dưới quyền Thủ tướng Chính phủ.

Hội nghị Đà Lạt có nhiệm vụ chuẩn bị điều kiện cho phái đoàn thương thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Paris trong thời gian ngắn nhất tức là vào giữa tháng 5 để hội nghị chính thức khai mạc tại Paris.

Cuối tháng 4, phái đoàn thiện chí Việt Nam đáp máy bay sang Pháp qua ngả Calcutta. Phái đoàn gồm các ông Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn, Trần Ngọc Danh, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Luân, Trịnh Quốc Quang, Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Tích Tri, Nguyễn Tấn Gi Trọng. Phái đoàn tới Paris ngày 26/4 và về Hà Nội ngày 16/5. Ông Phạm Văn Đồng ở lại để sau đó dự Hội nghị Fontainebleau.

Ngày 3 đến 15/5, Chủ tịch Hồ bay sang Pháp với tướng Salan cùng với các nhân viên phái đoàn thương thuyết Việt Nam. Tại sao Hồ Chủ tịch sang Paris trên máy bay Pháp? Vấn đề an ninh cho vị chủ tịch nước được bàn cãi vì đã có nhiều vụ rơi phi cơ làm thiệt mạng nhiều lãnh tụ. Nhưng Chủ tịch Hồ cương quyết ra đi vì trên phi cơ có tướng Salan, Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Việt. Chính phủ Pháp giao cho Sainteny đặc biệt chăm sóc Chủ tịch Hồ. Theo ông này thì lúc đó ông Hồ cùng đoàn tùy tùng ngụ tại Biarritz (réticent) và không được bình tĩnh. Lý do là phía người Pháp đã vi phạm Hiệp ước sơ bộ, như lập chính phủ Nam kỳ tự trị ngày 1/6/1946, trong khi phi cơ chở ông Hồ đang bay ngang vùng Trung Đông.

Tại Biarritz, Hồ Chủ tịch cùng hai ông Vũ Đình Huỳnh và Hoàng Minh Giám ngụ tại khách sạn Cariton, còn phái đoàn thương thuyết Việt Nam ngụ tại Hotel du Paris. Trong khi chờ đợi ngày họp, các nhân viên trong phái đoàn bay về Paris, mỗi người một nhiệm vụ thuộc phạm vi chuyên môn của mình. Còn về Chủ tịch Hồ thì sau lễ tiếp đón chính thức ở Paris, những ngày sống trên đất Pháp của ông trở nên không chính thức. Chính phủ Pháp quyết định Chủ tịch Hồ và ông Sainteny “đứng vòng ngoài” để lo cho hội nghị. Trong thời gian nhàn rỗi này, ông Hồ tới viếng thăm vùng biển, giao du với dân làng chài, thăm thánh địa Lourdes (nơi Đức Mẹ hiện hình ngày xưa). Trên các ngư thuyền ra khơi, ông Hồ vui vẻ đàm đạo, không hề khó chịu vì sóng biển. Nhiều người Pháp ở Paris tới gặp ông Hồ. Không khí trở nên thoải mái hơn trước.

Vì chính phủ Pháp thay đổi nội các nên hội nghị phải hoãn lại lâu. Nhưng ông Hồ không hề than phiền. Tại sao? Ông tranh thủ thời gian để gặp các chính khách tiến bộ, các đảng viên Cộng sản trong Quốc hội Pháp để vận động cho cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho Việt Nam.

Sau cùng chính phủ Pháp quyết định thời gian tiếp Chủ tịch Hồ tại Paris từ ngày 27/6 tới 4/7. Khi máy bay lượn trên phi trường Bourget, từ trên nhìn xuống, người ta đông như kiến. Cờ xí hai nước Pháp – Việt tung bay trong gió, Chủ tịch Hồ được thông báo trước là Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet cùng nhiều nhân vật văn võ cao cấp đích thân đón tiếp vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rất xúc động ông Hồ siết tay tôi (Sainteny) nói nhỏ: “Đừng rời tôi nhé, người ta đông quá!”.

Quốc thiều hai nước tấu lên vang lừng. Chủ tịch Hồ đứng nghiêm, chiếc mũ trong tay, ông nghĩ: Hai mươi ba năm về trước, ông rời đất Pháp như một người tù, còn bây giờ thì được long trọng tiếp đón với cương vị một Chủ tịch nước”.

Thời gian sau đó, ông Hồ được đưa đi thăm viếng các nơi trong thủ đô như Khải Hoàn Môn, Điện Versailles, Tòa Đô Chính, Nhà hát lớn, Nghĩa trang Mont Valérien, Đài chiến sĩ trận vong người Đông Dương.

Tại khách sạn Royal Monceau, ông Hồ thết tiệc đãi báo chí, chính khách, nghị sĩ, dân biểu, doanh gia, đủ mọi giới, và rất hân hạnh phấn chấn.

Vì sao ký Thỏa hiệp án?

Hội nghị Fontainebleau tan vỡ vì Hội nghị Đà Lạt thành lập Liên bang Đông Dương gồm Miên Lào và cả Nam kỳ. Nhờ Chủ tịch can thiệp mà hội nghị tiếp tục vài ngày sau. Nhưng không khí tin cậy lẫn nhau không còn nữa.

Tình hình ở Bắc Việt bấy giờ như dầu sôi lửa bỏng. Nhiều cuộc biểu tình lên án phái đoàn thương thuyết tại Fontainebleau, thóa mạ là Việt gian, tay sai thực dân Pháp.

Sainteny bàn với Chủ tịch Hồ: “Trong tình thế này Chủ tịch không nên kéo dài những ngày ở đây”.

“Tôi biết! Nhưng làm sao tôi có thể về với hai bàn tay không?”.

“Hai bàn tay không”. Sainteny nghe ông Hồ lặp lại mấy tiếng này như là một điệp khúc, như là một ám ảnh triền miên.

Phái đoàn thương thuyết trở về tay không; ông Phạm Văn Đồng cùng phái đoàn xuống Marseille đáp tàu về tới Hải Phòng ngày 3/10.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không về theo phái đoàn; ông cũng không còn là khách quý của chính phủ Pháp. Ông dọn về tá túc nhà ông Aubrac ở vùng Soisy-sous-Montorency. Ngày 2/9, ông điện về Hà Nội:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chính phủ Việt Nam ở Hà Nội – Tôi hay tin lễ Độc lập được cử hành trong nước. Tôi đề nghị các cuộc lễ loại bỏ các tính cách bất thân thiện với nước Pháp để đại diện nước Pháp tham dự”.

Hồ Chủ tịch muốn tiến tới một giải pháp. Cũng như Bộ trưởng Marius Moutet, ông Hồ không chấp nhận cuộc đổ vỡ, và ngày 14/9, ông đành ký Thỏa hiệp án soạn thảo vội vàng trong văn phòng Sainteny để sau đó ông cùng ông Marius Moutet cùng ký.

Có đúng như lời ông Thanh tra Mật thám tháp tùng ông Hồ nói với tôi “lúc tới nhà ông Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại để ký thỏa hiệp án, ông Hồ đã thì thầm “tôi vừa ký bản án tử hình dành cho tôi”. Bản thân tôi (Sainteny) không nghe ông Hồ than như vậy. Nhưng trong một tiệc tại nhà tôi thiết đãi hai ông Moutet và Hồ thì tôi có nghe ông Hồ nói: “Đừng để tôi về như thế này. Hãy giúp tôi chống lại những kẻ toan tính vượt qua tôi. Hai ông sẽ không có gì hối tiếc đâu”.

Ngay từ ngày ấy, ông Hồ đã thấy trước những gì đen tối, khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh. Ông nói: “Nếu phải chiến đấu, chúng tôi chiến đấu, các ông giết chúng tôi 10 người, nhưng chúng tôi cũng giết các ông được một người, và cuối cùng thì chính các ông sẽ chán nản”.

(Xem tiếp kỳ sau)

Nguyễn Xuân Ba
(sưu tầm – bình luận)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 397

Ý Kiến bạn đọc