Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ngộ sự văn chương – Ngộ nhận văn chương

(Tiếp theo số báo ngày 10-12-2020)

 

Cần tìm đến tư duy nghệ thuật của Tôi và làng tôi mới nhận chân được giá trị của nó. Nhà văn Lê Bá Thự (từ đây xin viết tắt L.B.T) phát biểu thống thiết như một tuyên ngôn:

“Hồi sống ở làng tôi lam lũ thật sự, tôi khổ thật sự, khổ đến mức không còn chỗ để khổ hơn được nữa” (Tôi và làng tôi. NXB Thanh Hóa, in lần thứ 3, năm 2020, trang 387).

Đó là phát biểu ở lễ ra mắt Tôi và làng tôi ngày 12-9-2018 tại Câu lạc bộ Văn chương – Hội Nhà văn Việt Nam, số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội, trước đông đảo khách dự. Như thế không thể không là một tuyên ngôn nghệ thuật.

Nhưng tuyên ngôn đó hoàn toàn trái ngược với sự thực được tác giả thể hiện trong tác phẩm.

Chúng ta xem xét từ hoàn cảnh nhỏ – gia đình, đến hoàn cảnh lớn – làng xóm, xã hội.

Trong thực tế thì tác giả Tôi và làng tôi được hưởng lợi ở mức cao nhất ở phạm vi làng xóm và quốc gia. Cánh đồng làng ông “rộng mênh mông thẳng cánh cò bay” (Sđd. Trg.126), “có rất nhiều bãi rậm hoang vu, cây cỏ mọc um tùm” (Sđd. Trg.105). Đồng sâu để quanh năm kiếm cá. Cánh bãi để chăn thả bò, “… đi chăn bò thuở đó chúng tôi không sợ bị đói. Vì khi đói bụng, kiểu gì chúng tôi cũng tìm được cái ăn trong môi trường tự nhiên” (Sđd. Trg.112). “Hầu như suốt ngày tôi ở ngoài cánh đồng, không làm ruộng thì tôi kiếm cá, bắt cua, bắt ốc. Không kiếm cá, bắt cua, bắt ốc thì tôi thả diều, chơi khăng. Cho nên tôi mới bảo, cánh đồng làng Nguyệt Lãng là cánh đồng tuổi thơ tôi” (Sđd. Trg.173).

Bao nhiêu trẻ em ở những làng không có đồng bãi như thế, chúng đâu có “cánh đồng tuổi thơ”!

Còn nhà ông?

Nhà tác giả Tôi và làng tôi “có hơn mẫu lúa” (Sđd.Trg 136). Có chân ruộng để cấy nếp cái hoa vàng là những nhà có máu mặt, khá giả. Lại có đôi bò, “nhà tôi nuôi hai con bò” (Sđd. Trg.104). Lại có nhà cao cửa rộng, có vườn có ao “đất lành chim đậu” (Sđd. Trg.87). Nhà “có bể nước mưa rất to, dung tích phải đến năm mét khối” (Sđd. Trg.94). Để hứng đầy bể nước như thế thì không tòa ngang dãy dọc cũng phải nhà ngói năm gian. Lại nuôi cả con ăn đứa ở – cô Lài 15 tuổi, người Nông Cống (Sđd. Trg.154). Bố mua 1 triệu đồng Công trái quốc gia. Ông nội mua nhiều triệu đồng, nhất làng, được ngồi “ghế danh dự”. Mùa gặt, bà con đến làm giúp, 5 – 6 người khỏe đập lúa (Sđd. Trg.139). Cần mua sắm, còn có đấu thóc mà bán… Lúc nhỏ được học với thầy dạy tư. Lên cấp II đi học trường huyện. Lên cấp III (như trung học phổ thông bây giờ) được đi học trường tỉnh, ở trọ. Có ăn có mặc có giấy bút đi học, học giỏi, được bầu Bí thư Đoàn trường. Hết cấp III, ngày 4-8-1964, lên tàu liên vận đi du học ở Ba Lan… Trong khi đó, ở thế hệ đó, biết bao tuổi thơ do nhà nghèo, thất học; phải sau CCRĐ họ mới được chia ruộng đất. Trong khi biết bao nhiêu học sinh miền Nam phải xa gia đình, tưởng hai năm rồi thành hai mươi năm. Trong khi cùng trang lứa với tác giả Tôi và làng tôi, sau ngày 5-8-1964, đã vào bộ đội, Thanh niên xung phong, hòn tên mũi đạn cho đến tận 1975. Thế thì tác giả Tôi và làng tôi: “khổ thật sự, khổ đến mức không còn chỗ để khổ hơn được nữa” là khổ ở chỗ nào? Như thế nào? Đúng là tác giả Tôi và làng tôi có lam lũ, rất lam lũ. Nhưng lam lũ để có đầy nồi cá kho, đầy đĩa cá rán cho bố uống rượu thì khổ sở nỗi gì!

So-625--Ngo-su-van-chuong-Ngo-nhan-van-chuong---Anh-1

Có thể gọi tuyên ngôn nghệ thuật của L.B.T là kiểu tư duy ôn nghèo gợi khổ. Thực chất là không trung thực; không nói có, có ít xuýt ra nhiều… Tư duy này hồi CCRĐ đã đẩy biết bao con người bao nhiêu gia đình vào cảnh tang thương, bị quy oan, xử oan.

Trong Tôi và làng tôi, L.B.T kể rất nhiều chuyện, nhiều khung cảnh, sự vật, sự việc… Cách kể trôi chảy, nhiều chi tiết ngồ ngộ đối với bạn đọc hôm nay. Những bạn đọc thiếu một phông văn hóa cần thiết hay thiếu vốn sống nông thôn và nông nghiệp như thế hệ bạn đọc trẻ hôm nay sẽ rất tin, rất say sưa với cách thể hiện của L.B.T. Nhưng những người cùng thế hệ với ông, có vốn sống thực tế, sẽ nhận ra ngay sự nông cạn, nghèo nàn trong cái gọi là Viện bảo tàng, Bách khoa thư, các giá trị dân tộc học, xã hội học, v.v… của Tôi và làng tôi. Xin nêu mấy trường hợp tiêu biểu:

- Văn hóa đồng cạn – khoai lang:

Chỉ nói đến mỗi chuyện chở khoai lang về, rửa sạch, thái, phơi khô và… ăn. Nếu gọi là có giá trị xã hội học, phải nói lên được cả một quá trình, từ ruộng lúa mới gặt xong (vào tháng 10 âm lịch), người nông dân phải làm sao để mấy tháng sau thành những ruộng ngô – khoai – đậu – lạc – bông – vừng… Tức là quá trình làm đất, cách gieo trồng từng loại cây hoa màu. Làm sao để từ cái dây khoai giống, trở thành ruộng khoai, củ khoai, chum khoai khô, bát khoai nấu xéo hay nồi khoai bung (cháo khoai)… Một quá trình như thế, bạn đọc có thể tham khảo ở Văn minh vật chất của người Việt của Phan Cẩm Thượng. NXB Thế giới – 2018, tái bản. Tuy chưa đầy đủ nhưng có được khái niệm chung. Còn L.B.T chỉ hốt lấy đoạn dễ dàng, ngon lành nhất là đem củ khoai từ ngoài đồng về mà ăn. Và những chi tiết sau đây bộc lộ sự nghèo nàn, nông cạn của L.B.T:

+ Thái khoai lang: Không đơn giản chỉ rửa sạch rồi thái đâu. Thu hoạch (đào) khoai về phải nhặt khoai. Củ lành (không bị xây sớt) để nguyên đầu đuôi, xếp đứng vào gầm giường để ăn tươi. Phần còn lại để thái phơi khô hoặc bán khoai tươi. Khoai phải được rửa sạch, phải cắt khoai, cắt bỏ đầu đuôi, loại củ sùng, hà, củ dập thối… rồi mới thái được. Khi ăn khoai, thi thoảng gặp miếng khoai sùng, hà… cũng như ăn cơm gặp hạt sạn… là do cắt khoai không kỹ. Rồi thái lát thì phải bàn thái nào. Thái đanh thì phải bàn thái nào…

+ Nấu khoai: Đưa ra cách nấu rất trời ơi đất hỡi thế này: “… cho một ít khoai thái vào nồi, cho một ít đỗ hạt… đổ nước gần đầy nồi…” (Sđd. Trg.131).

Bạn đọc nấu thử theo cách trên xem ra món khoai bung (cháo, chè khoai) hay món bung sung!

+ Canh rau lang: “Canh rau lang là món ăn thường nhật của mọi nhà trong làng tôi” (Tôi và làng tôi. Sđd. Trg.132).

Các bạn đọc như Hoàng Quốc Hải, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, hay nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh – dân Hà Nội gốc – hay cháu Trần Hùng Cường học sinh trung học trong thành phố Hồ Chí Minh đọc qua sẽ thấy hay lắm. Rau lang mà nấu canh cua thì không chê vào đâu được (Sđd. Trg.132)…

Xin thưa đó là sự nói liều viết liều. Khoai lang từ khi trồng (tháng chạp âm lịch) đến khi có củ (tháng 3 âm lịch) và củ khoai lớn lên (tháng 4 âm lịch) là thời gian phải giữ bộ lá để nó nuôi củ, tuyệt đối không được hái. Đói lắm thì cũng phải hái, nhưng hái như thế nào cũng phải “dân tộc học” lắm.

Trong một làng chuyên làm ruộng hai vụ, vụ lúa vụ màu, vì không có nông giang, thì nhà nào có vườn rộng mới để giống khoai lang được, gọi là dư dây. Còn thì phải đi mua ở chợ hay những làng có đất bãi sông trồng được khoai vụ đông sau mùa lũ (thường là tháng 8 âm lịch). 

Vậy thì món canh rau lang thường nhật của L.B.T quả là phép màu kỳ diệu. Mà thường nhật trong một tháng một vụ hay quanh năm?

Tất cả tri thức “xã hội học” trong Tôi và làng tôi đều ở tình trạng của văn hóa Đồng cạn – Khoai lang như đã nói trên. Thường là rất thiếu văn hóa, ở chiều sâu, ở tính nhân văn. Đôi giày của ông Khếnh không chỉ thiếu tính văn hóa – nhân văn mà đây là sự bịa đặt (của ông Khếnh) và sự nô lệ vào chi tiết của L.B.T, đã đụng chạm đến vấn đề nhạy cảm về chính trị: người Việt Nam có thể tàn bạo, man rợ, mất hết nhân tính đến như thế ư? Nếu nhớ lại Lý Thường Kiệt (Lộ bố văn), Nguyễn Trãi (Cáo Bình Ngô), Quang Trung (Chiếu phát phối tù binh người nội địa)… và truyền thống dân tộc nghĩa tử là nghĩa tận…

Ngày nay hồi tưởng lại tuổi thơ, nhớ lại cuộc sống của cha ông xưa, không chỉ kể lại những gì đã biết, mà phải nhìn lại với một chiều kích văn hóa mới, để hiểu ông cha, để thương ông cha và thấy sự bức thiết phải nhanh chóng thoát khỏi tư duy nông nghiệp – tư duy kinh nghiệm. Như chuyện đập lúa. Một người hay năm bảy người quay xung quanh cái cối đập lúa hay giã gạo đều được. Nhưng bao nhiêu người thì tối ưu? Kinh nghiệm của người nông dân là ba người, là nhịp ba. Không chỉ đập lúa mà khi giã gạo hay quai búa ở lò rèn. Ở lò rèn, khi cần quai búa, thợ cả có tín hiệu (đập búa) gọi hai thợ phụ. Thợ cả cầm nhịp, hai thợ phụ quai búa tạ. Nhịp điệu ở đây rất quan trọng. Lỗi nhịp có thể gây tai họa. Nhưng kinh nghiệm của người nông dân chỉ dừng lại ở đó với công cụ lao động đơn giản: cối – chày (giã gạo), cối – tay kẹp (cán kẹp) khi đập lúa; búa – đe của thợ rèn. Phải đến tư duy duy lý, khoa học mới tạo ra công cụ mới mà sức thủ công của con người không thể sánh được. Như búa máy, máy tuốt lúa, máy xay xát, v.v…

Cuối cùng, xin có hai điều:

- Tác giả Tôi và làng tôi chưa thật sự cầu thị. Sau loạt bài của Lê Thọ Xuân năm 2019 trên Văn Nghệ TP.HCM, ông đã sửa lại, thậm chí dỡ ra viết lại như chương Tôi và chấy rận. Ở bản in năm 2019, chương này ở trang 119. Đến bản in 2020, chương này được bỏ đi và nội dung được dỡ ra, viết lại, đưa lên đầu sách: Ở bẩn và lạc hậu, trang 43. Đoạn hai mẹ con nuốt chấy, rận được bỏ đi; vẫn giữ đoạn “cắn trứng chấy” và biện minh như thế này: “Chuyện tôi vừa kể trên có thể làm cho một số bạn phát tởm, nhưng cái chính là để các bạn thấy, đã có thời làng quê nước ta cam go, khổ sở như vậy đó” (Sđd. Bản 2020. Trg.46).

Cái sự ở bẩn, lạc hậu đó là của gia đình L.B.T thôi, đừng khái quát cho làng quê nước ta. Vì rất dễ xử lý: Thường xuyên tắm gội cho sạch sẽ. Nếu rận nhiều thì cho quần áo vào nồi, đun sôi một dạo nó mới chết hết. Dùng tay bắt hay răng cắn… làm sao hết được.

Hay “Cửa van được điều chỉnh rộng hay hẹp tùy theo lúa khô hay ướt” (Bản 2019. Trg.147) được sửa lại là “Cửa van được điều chỉnh rộng hay hẹp tùy theo người vận hành quạt” (Bản 2020. Trg.145). Thế là sĩ diện hão vừa là bảo thủ. Phải là tùy theo lượng gió quạt ra.

- Về phía người đọc và viết bình luận:

Không nên tùy tiện về sự bình luận chính thức trên giấy trắng mực đen. Tất cả các lời khen – được in vào cuối sách, gồm 38 lời dài ngắn khác nhau, ở bản in 2020, từ trang 303 đến trang 400, đều có cái chung là khen hết lời nhưng đọc chưa hết ý! Chi tiết đôi giày vẫn còn nguyên khúc chân của thằng Tây dài tới 10 dòng, 110 chữ, gần nửa trang sách, ở ngay đầu sách, trang 42 đến tư duy nghệ thuật ôn nghèo gợi khổ. Ở cuối sách, trang 387, rằng tôi khổ thật sự, khổ đến mức… nhà chị Dậu (Tắt đèn) hay Chí Phèo, Lão Hạc (truyện ngắn Nam Cao) cũng không hơn được (nguyên văn: Khổ đến mức không còn chỗ để khổ hơn được nữa)… mà không đọc đến, lướt qua đi, hay không đọc ra nghĩa của câu văn thì các nhà bình luận ở đây cũng rất giống với nhà sáng tác ở tư duy nghệ thuật ôn nghèo kể khổ! Nghĩa là sự đọc, sự bình luận không trung thực với văn bản tác phẩm, khoác cho nó những giá trị ảo. Có thể thể tất cho L.B.T vì văn hóa đồng cạn – khoai lang của ông chỉ có từ tháng 7-1952 đến tháng 12-1954, thời gian đập Bái Thượng bị hỏng. Nhưng nhà văn nên là địa chủ về tri thức và cố nông về số lượng trang viết.

Tháng 12-2020

Lê Thọ Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 625

Ý Kiến bạn đọc