Trong nước

Nghi lễ và trò chơi kéo co của Việt Nam được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tham khảo và thống kê về nghi lễ và trò chơi kéo co như sau:

- Kéo co là một thực hành văn hóa, một hình thức sinh hoạt cộng đồng đã có từ lâu đời và phổ biến ở các nước nông nghiệp trồng lúa nước ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tiêu biểu là Việt Nam, Hàn Quốc, Campuchia, Philippines. Kéo co là một tập quán xã hội có tính nghi lễ với ý nghĩa cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc hay những tiên đoán liên quan đến sự thành công hay thất bại của các hoạt động nông nghiệp. Người ta tin rằng, có thực hành và tuân thủ những luật lệ trong nghi lễ kéo co thì mùa màng mới tươi tốt, chăn nuôi, trồng trọt mới sinh sôi nảy nở. Vì vậy, không chỉ là một trò chơi dân gian thông thường, kéo co chứa đựng tầng sâu văn hóa thể hiện qua những tập tục và tín ngưỡng riêng của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, nghi lễ và trò chơi kéo co xuất hiện chủ yếu ở khu vực trung du Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, vùng đất tụ cư lâu đời của người Việt, cái nôi của nền văn minh lúa nước. Ngoài ra, di sản này cũng được thực hành chủ yếu bởi cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc như người Tày, Giáy, Thái.

So-527--Nghi-le-va-tro-choi-keo-co-cua-Viet-Nam-duoc-cong-nhan-la-Di-san-van-hoa-phi-vat-the-cua-nhan-loai

Kéo co thường được tổ chức trong các lễ hội xuân, đánh dấu sự khởi đầu của một vụ mùa mới trong nông nghiệp và thể hiện mong muốn mùa màng bội thu. Kéo co thu hút sự tham gia của gần như tất cả các thành viên trong cộng đồng, mỗi thành viên đóng vai trò khác nhau như người trực tiếp tham gia kéo co, trọng tài, người hướng dẫn, người cổ vũ… Trong đó, những người lớn tuổi, đặc biệt là người am hiểu về các nghi lễ kéo co đóng vai trò quan trọng trong việc phân công nhiệm vụ cho các thành viên, hướng dẫn người tham gia kéo co các quy tắc của trò chơi và thực hiện một số nghi lễ có liên quan.

Nghi lễ và trò chơi kéo co thường được tổ chức ở sân đình. Dây kéo sử dụng trong kéo co có thể được làm bằng song tre, dây mây, hoặc gai dầu phản ánh đặc điểm tự nhiên và văn hóa của mỗi cộng đồng. Mỗi lần kéo co có 2 đội tham gia với số lượng người đều nhau. Hai đội sẽ cùng nắm chắc vào dây kéo, điểm giữa của dây được đánh dấu bằng một dải lụa đỏ làm mốc. Khi hiệu lệnh vang lên, các thành viên của mỗi đội chơi nắm chặt hai tay vào dây, đội nào kéo được điểm đánh dấu về phía mình là đội đó thắng cuộc.

Trong kéo co, quá trình lựa chọn dây kéo và người chơi phải tuân theo các quy tắc, lễ nghi cụ thể và tùy thuộc vào phong tục địa phương. Đội thắng và đội thua thường được sắp xếp theo phong tục để thể hiện ý nghĩa tôn giáo nhất định và sự hài hòa của thiên nhiên. Ví dụ như theo phong tục của người Tày và người Giáy, trò chơi kéo co sẽ có sự tham gia của 2 đội chơi, 1 đội nam và 1 đội nữ. Vào những năm chẵn, phần thắng thuộc về đội nữ để tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở của muôn loài.

Theo hồ sơ đề nghị của Việt Nam, UNESCO công nhận “Nghi lễ và trò chơi kéo co” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho 4 tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội. Trong đó, hồ sơ của Hàn Quốc, Campuchia, Philippines cùng xây dựng và đệ trình UNESCO công nhận “Nghi lễ và trò chơi kéo co” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cũng được duyệt xét.

Như vậy, đến nay Việt Nam đã có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Năm 1998, Tổ chức UNESCO đã thông qua chương trình bảo vệ các kiệt tác văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng của nhân loại. Chương trình này được bắt đầu với công việc bình chọn các di sản văn hóa phi vật thể. Cứ hai năm một lần, mỗi nước thành viên được phép đưa ra một di sản văn hóa phi vật thể để bình chọn. Việc đánh giá và công nhận các kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể là do một hội đồng chuyên gia quốc tế tiến hành.

Trương Minh Hiếu – Thụy Mai
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 527

Ý Kiến bạn đọc