Truyện ngắn

Nghe tiếng chó tru

Đối với giống nòi nó, đó là gen di truyền, đời này qua đời khác: “Sự trung thành và lòng biết ơn với chủ”. Khi lớn lên con nào phản lại chủ sẽ bị nguyền rủa, sẽ bị thui trên giàn lửa và chịu cảnh nồi da xáo thịt…

Huống chi, nó được sống trên đời này là do chủ của nó cứu mạng! Nó thuộc giống chó săn thượng hạng và khi đám anh em nó được mẹ đẻ ra, người chủ thợ săn chỉ lựa chọn một vài con để lưu truyền nòi giống, bổ sung những “chiến binh” dũng mãnh cho bầy đàn. Nó và ba anh chị em khác không nằm trong số có hơi mũi giỏi, có hàm cắn hay, nên bị người chủ ban đêm đem tuốt ra sau vườn quăng xuống ao sâu với lời ban ơn: “Tụi bây đi đầu thai kiếp khác”.

Hai đứa em và anh nó kêu la thảm thiết, cố vùng vẫy trong nước rồi chìm dần xuống đáy ao. Còn nó không hiểu tại sao lại nhô được lên chỗ cạn, cập mép bờ có chút đất nhô ra vừa đủ để nó tựa đầu lên thoi thóp thở. Nó nằm đó với những tiếng rên yếu ớt cho đến lúc hừng đông thì gặp ông Hai đi dỡ trúm đặt lươn. Thấy nó còn sống ông cởi cái áo đang mặc ra lau khô cho nó và úm nó đem về… Ngày ba bữa ông khuấy sữa vô bình cho nó bú. Mười sáu ngày sau nó mở mắt nhìn đời, được đặt tên là con Trúm vì ông Hai nói đi dỡ trúm mới gặp được nó. Con Trúm càng lớn càng khôn ngoan, ông Hai dạy gì nó cũng làm được. Bảo đưa hai tay ra bắt, bảo nằm, bảo bò, bảo lết và quăng gáo dừa ra xa kêu nó chạy ra tha vào, nó đều làm theo. Muốn ăn con gà nào trong bầy thì chỉ con gà cho nó, nó rượt bắt đúng con gà đó tha vô.

Ông Hai coi nó như con, cháu trong nhà.

Đêm đêm khi thắp nhang cho vợ trên bàn thờ xong, ông Hai nằm đưa võng phì phà điếu thuốc ngẫm nghĩ chuyện đời… Com Trúm bao giờ cũng nằm dưới chân ông, nó cạp tay, cạp chân và có lúc hăng nó nhảy lên ngực liếm cổ, liếm mặt ông. Một năm sau nó trổ tướng thành “đàn ông”, lông đen mướt rượt, một xoáy quặn trên cổ, một xoáy trên sống lưng như xoáy ngựa làm tướng nó oai phong lạ thường, mấy cô chó cái tới mùa động đực… đều muốn ve vãn nó.

So-489--Anh-minh-hoa---Nghe-tieng-cho-tru---Anh-1

Tháng hạn nước ruộng, ao hồ rút khô ông Hai thường dẫn nó ra bờ vòng bắt chuột, bắt rùa. Con Trúm đánh hơi giỏi lắm. Nó biết chỗ nào có rùa, có rắn. Loại rùa vàng, rùa nắp, rùa quạ vào tháng mưa ăn ốc đắng, củ năng và mấy con bọ điên điển cánh đen chuyên làm ổ dưới giề rễ của mấy bụi bông súng mọc sâu dưới sình, tháng hạn rùa moi đất vùi mình đẻ trứng. Chỗ nào có hơi rùa con Trúm vừa sủa vừa bươi đất lia lịa rồi thọc mõm lôi rùa ra, nhưng gặp hang rắn hổ thì nó sủa nghe tiếng khác, tiếng giật mồi của loài chó săn như tiếng kèn xung trận, nó giật “quấu quấu quấu quấu” liên hồi. Nghe tiếng giật mồi của nó, ông Hai biết có rắn lớn trong hang. Ông lấy dao phát cỏ xung quanh hang cho trống rồi lấy chĩa đâm xuống hang để tìm rắn, chĩa đâm trúng, rắn gồng lên dội tay, phải ghìm tay lại, lấy sức đâm mạnh xuống, khi nghe tiếng rắn “khè khè” như vịt xiêm, phun nọc phèo phèo dưới hang thì mới lấy leng đào đất từ từ, bắt rắn…

Vào rừng chồi đi săn phải đi từ hừng đông lúc sương chưa tan mới săn được kỳ đà, chồn mướp, chồn hôi hay chồn đèn.

Tháng hạn rừng tràm khô nước, mấy chỗ trảng trống và mấy con kênh trên mặt đất khô ran nhưng chỗ mấy ổ bọng dưới mấy gốc tràm chết khô sình, bùn chưa quến đặc, cá lóc, cá trê, cá rô quậy thành rọ bùng bình bên dưới, chúng chen chúc sống với nhau để chờ mưa xuống. Lũ chồn và kỳ đà, rắn ri cá, ri tượng thường đến đó để kiếm ăn…

Đặc biệt loại chồn hôi chuyên rình đám lươn nạp mình cho rắn trun, lúc sương chưa tan, hai ba con rắn trun cỡ cườm tay nằm trên gió của mấy con kênh khô nước, không biết vì sao lũ lươn lần lượt đưa đầu lên cho rắn trun nuốt, rắn trun chỉ nuốt được nửa mình con lươn rồi nằm đơ ra cùng chết theo lươn. Năm, sáu con lươn xếp hàng phía sau mà rắn trun chưa nuốt, mình mẩy không còn chút nhớt… Lũ chồn hôi có một bữa khoái khẩu vừa ăn lươn vừa nhai rắn trun rau ráu mà không bỏ lại miếng xương nào…

Tính từ ngày ông Hai lượm con Trúm về nuôi là 9 năm 6 tháng, ông có cuốn sổ ghi thành tích săn mồi của con Trúm.

Tổng cộng nó bắt được là:

- 350 con chuột.

- 12 con chồn mướp.

- 14 con chồn hôi.

- 4 con chồn đèn.

- 17 con kỳ đà.

- 21 con rùa vàng.

- 19 con rùa quạ.

- 25 con rùa nắp.

- 59 con rắn hổ.

Chín năm 6 tháng, ông Hai chưa từng đánh con Trúm một roi.

Nó hủ hỉ bên ông, lúc nào cũng hủ hỉ bên ông, nó thích ông bắt ve, bắt bọ chét cho nó và thích bàn tay của ông vỗ vỗ trên đầu nó, nó hiểu từng cử chỉ và lời nói của ông. Đi đâu khỏi nhà ông chỉ cần dặn:

- Giữ nhà nghe con!

Có lần đi đám giỗ xa nhà ông nhậu say đến sáng mới về, con Trúm giữ nhà không mất một thứ gì. Bởi vậy ông quý nó hơn vàng, hơn bạc…

*
Căn bệnh quái ác tai biến mạch máu não làm ông Hai suýt chết, may nhờ làng xóm chở ông đi cấp cứu kịp thời và nhờ thằng con trai làm ăn khá giả ngoài thành phố Cà Mau, thuốc men mắc mỏ cỡ nào thằng Hải con ông cũng kiếm mua được nên ông Hai chỉ bị biến chứng lé một bên mắt và liệt một bên vai. Vợ chồng thằng Hải không cho ông về quê nữa, tụi nó cằn nhằn:

- Vợ chồng con năn nỉ tía ra ở đây cả ngàn lần rồi mà tía cứ khăng khăng bám ruộng, bám rừng. Muốn mướn người ở chăm sóc cho tía, tía cũng không cho… Đây, sắp tới mà tía đòi về trỏng nữa là tụi con tự tử chết trước mặt tía cho tía vừa lòng…

Ông Hai nói run run:

- Còn nhà cửa, ruộng, rừng thì sao?

- Chừng nào tía hết bệnh trăm phần trăm thì mới tính. Nhà cửa, ruộng rừng con mướn cô Bảy trông coi rồi!

Ông Hai thương dâu con hiếu thảo nên ở lại nhưng nhớ ruộng, nhớ rừng, nhớ con Trúm, ông thở dài:

- Tía thương con Trúm… Hay là con cho nó ra đây?

- Để con đặt làm cái chuồng cho nó trên tầng thượng rồi chở nó ra đây cho tía.

Ông Hai cười và vuốt vuốt tay thằng Hải như biết ơn:

Tía vui…

*
Chỗ ở của con Trúm đặt cạnh chuồng của con Chihuahua, loài chó nhập từ nước ngoài đắt tiền của giới nhà giàu. Chuồng của con Trúm được làm bằng sắt tròn sơn đen, mỗi bề 2 mét có cửa ra vào màu vàng, mái chuồng lợp bằng nhựa giả ngói, vừa đẹp vừa mát mẻ. Anh Hải là kiến trúc sư nên có con mắt thẩm mỹ, làm hai chuồng chó giống như hai ngôi biệt thự thu nhỏ, khách khứa, bạn bè đến chơi đều trầm trồ khen đẹp.

Mỗi tuần người giúp việc tắm cho con Trúm một lần bằng dầu gội ve thơm mùi bạc hà, nó dị ứng mùi bạc hà nên khịt khọt mũi liên tục. Nó thích nhất là về đêm, từ trên lầu thượng nhìn xuống thành phố Cà Mau rực rỡ ánh đèn với muôn màu muôn sắc. Sáng, chiều nó được người giúp việc dắt xuống đường để đi vệ sinh, mỗi lần đi ngang qua chỗ ông Hai nằm nó đều dừng lại liếm bàn tay yếu ớt của ông, lần nào ông Hai cũng nghiêng mình qua nhìn và vỗ vỗ trên đầu nó…

Ngôi biệt thự của anh Hải nằm trong khu dự án mới nên nhà cửa còn thưa thớt, cạnh ngôi biệt thự là nhiều nền đất chưa xây dựng, cỏ và rác um tùm, có lần đang đứng đái nó thấy con chuột cống đang ăn cỏ ống cạnh rào, nó giật dây xích khỏi tay người giúp việc và lao tới chụp liền, nó ngoạm con chuột cống và phóng về nhà định khoe với anh Hải, nhưng nó bị một cú đá văng vô vách mà không hiểu vì sao mình bị đá!? Anh Hải lấy cây chổi lông gà nhịp nhịp trên mình nó nói bằng giọng tức giận:

- Con chuột cống lở loét thấy ghê, mày mà tha vô nữa là tao đập chết mày nghe!

Nó nằm im re, không dám nhúc nhích vì sợ bị đòn thêm. 

Anh Hải thương hai con Chihuahua lắm, vì tụi nó biết “bông-rua” và chổng hai chân trước, đưa đít lên trời đi mấy vòng như xiếc mà không ngã, bạn bè anh Hải lại nhà xem nó biểu diễn, ai cũng vỗ tay tán thưởng. Mỗi lần nghe anh Hải khoe với bạn bè là hai con chó nhập từ Mexico đó đắt tiền lắm thì con Trúm thấy tủi thân và thầm nghĩ: Hai con chó nhỏ như chó mới đẻ, gặp con cóc còn sụt lùi sủa xanh mặt. Bắt tay, bắt chân, múa may thì có hay ho gì? Trúm này dư sức làm mấy trò đó, nhưng ông Hai và tổ tiên nó đã dặn: “Làm chó phải biết giữ nhà, biết vào rừng săn thú và ra đồng bắt chuột…”. Trong bốn bức vách bằng song sắt ngày hai bữa đầy đủ thức ăn, không phải lo giữ nhà, bắt chuột, vợ chồng hai con Chihuahua có vẻ mãn nguyện và yên tâm tận hưởng những ngày hạnh phúc bên nhau. Nhưng con Trúm thì buồn, nỗi buồn như những áng mây trôi dạt trên trời cao, nó nhớ mấy “cô bồ” trong ruộng, nhớ mấy thằng bạn vện, bạn phèn và những chiều đi bắt rùa, bắt chuột, nó nhớ mảnh rừng chồi phía sau mé ruộng với đủ thứ dây leo, nào ô rô, cóc kèn, bồng bông, dớn, choại và những cụm tơ hồng bên chùm dây giác trái tím, trái xanh, nó nhớ tiếng gù của con cu đất, cu xanh, tiếng véo von của lũ chim bạc má vây quanh bụi chà là gai để ăn những quầy trái chín đỏ mọng như son… Ôi!… Hình như có cơn gió nào đó trong ruộng, trong rừng thổi qua, gió mang theo mùi mật ong ngọt lịm, mùi bông tràm thơm hắt và cả mùi khói đốt đồng lẫn mùi con ốc khét trên bờ vòng… Nó ngủ thiếp đi, trong giấc mơ nó thấy cùng ông Hai đang lội trên mấy bờ vòng bắt chuột… Nó tỉnh dậy và gai ốc nổi lên, lòng nó xốn xang ray rứt, gan ruột bỗng nóng lên như lửa cháy rừng, nó nhận biết có điều gì sắp sửa xảy ra, ở dưới nhà có tiếng khóc, tiếng la!

- Trời ơi! Tía mất, tía chết rồi!…

Nó nằm nép mình bên góc cửa trước quan tài ông Hai. Ai đuổi xô gì nó cũng không đi. Bốn ngày nó không ăn uống, nó vẫn nằm đó, mặc cho tiếng trống, tiếng kèn, tiếng mỏ, tiếng đọc kinh; mặc cho tiếng khóc than thương tiếc… nó vẫn nằm đưa mắt nhìn lên tấm hình ông Hai đặt trước quan tài; nó thấy ông Hai nhìn lại nó và đưa tay vỗ vỗ lên đầu nó…

Khi xe tang đưa linh cữu ông Hai về quê, con Trúm đi theo. Đoàn xe chạy chậm chậm qua vài con đường của thành phố Cà Mau để linh hồn ông Hai nhìn lần cuối cùng, con Trúm cũng đi chầm chậm theo xe. Nhưng khi ra tới đường cái xe chạy nhanh, con Trúm tăng tốc sải như ngựa chạy theo, vợ anh Hải chỉ con Trúm và gọi chồng trong nước mắt:

- Anh ơi! Con Trúm! Con Trúm!!!

Anh Hải vừa khóc vừa kêu dừng xe. Con Trúm nhảy lên ngồi kế bên vợ chồng anh Hải…

Ngày mở cửa mả cho ông Hai xong, anh Hải và gia đình quay về Cà Mau, kiếm con Trúm hoài mà không thấy nó đâu nên đành dặn cô Bảy:

- Thấy nó về thì cho nó ăn, bảy, tám ngày nay nó chưa ăn uống gì.

Vài ngày sau, vào một đêm trăng sáng, người ta nghe nhiều tiếng chó tru, tiếng tru hu hú như tiếng khóc than bay vút lên trời… Con Trúm chết bên ngôi mồ của chủ nó…

Văn Định
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 489

Ý Kiến bạn đọc