Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Nghệ thuật lựa chọn địa hình và điều kiện khí tượng thủy văn trong trận thủy chiến Bạch Đằng 1288

Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 được coi là đỉnh cao chói lọi của chiến công giữ nước giải phóng dân tộc. Người Việt Nam qua nhiều triều đại đều tự hào về chiến thắng vẻ vang của tổ tiên và ghi nhận đây là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử nước ta, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của nước Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược. Một trong những sự kế thừa và phát huy truyền thống của tổ tiên ta xưa thể hiện rõ nét trong chiến công này là việc áp dụng điều kiện địa lý tự nhiên, khai thác triệt để các điều kiện thuận lợi của nó như: lựa chọn địa hình, nắm bắt các yếu tố khí tượng hải dương… để tạo ra ưu thế vượt trội, tìm ra cách đánh phù hợp để chiến thắng.

DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH

Cuối tháng 12/1287, quân xâm lược Nguyên – Mông vượt biên giới tiến công Đại Việt. Tuy chiếm được kinh thành Thăng Long nhưng chúng không gặp một bóng người, bởi quân ta đã thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”, nên việc cướp bóc của dân cũng không dễ dàng. Lương thảo thiếu, thời tiết bắt đầu chuyển mùa, chúng liên tục bị quấy đảo, trong khi hầu như chưa thấy bóng quân chủ lực của nhà Trần, quân địch số thì ốm yếu, thương vong, còn phần lớn mệt mỏi, nhụt chí. Chính vì vậy, ý đồ của địch về đánh nhanh thắng nhanh, tiêu diệt quân chủ lực và bộ máy lãnh đạo kháng chiến của nhà Trần không thực hiện được.

Từ các nguồn tin thu thập ở Thăng Long và Vạn Kiếp, quân ta đã nắm chắc được lực lượng và kế hoạch rút lui của quân Nguyên. Chúng sẽ bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút về Trung Quốc theo các hướng đường thủy và đường bộ. Chính vì vậy, Trần Quốc Tuấn và triều đình rất chú trọng đến chiến trường ven biển Đông Bắc, là đường rút lui của thủy quân và thuyền lương của giặc.

Cuối tháng 3/1288, từ Vạn Kiếp, Ô Mã Nhi chỉ huy hàng vạn quân với 600 chiến thuyền, có các đội kị binh yểm trợ, rút theo đường ra sông Bạch Đằng. Vừa ra khỏi Vạn Kiếp, quân Nguyên đã bị quân nhà Trần chặn đánh khiến đoàn kị binh này phải theo về cùng với bộ binh của Thoát Hoan, chỉ còn thủy quân buộc phải tiếp tục chạy ra sông và lọt vào trận địa của ta đã mai phục sẵn ở tả và hữu ngạn sông Giá (ở vùng Thủy Nguyên và Yên Hưng). Hàng loạt cọc gỗ vạt nhọn và bịt sắt được cắm xuống, tạo ra bãi chướng ngại vật. Những cánh quân chủ lực tinh nhuệ nhất của triều đình, đông đảo các đơn vị quân đội của vương hầu quý tộc và đội dân binh đã được huy động tham gia trận đánh lịch sử này. Mờ sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi từ Đá Bạc tiến vào sông Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo cho một đội thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy. Phàn Tiếp cho quân đuổi theo nhưng khi đến núi Tràng Kênh thì bị phục binh của ta tấn công. Đến giữa trưa, quân của Ô Mã Nhi cũng lọt vào ổ phục kích lớn nhất tại sông Bạch Đằng. Nước triều rút nhanh, các cọc bịt sắt nhọn nhô khỏi mặt nước, đâm thủng thuyền địch. Lúc này kết hợp với hướng gió có tốc độ lớn, thổi xuôi theo dòng nước, quân ta dùng kế hỏa công thiêu sống bọn giặc trên thuyền. Hoảng sợ, chúng định tháo chạy nhưng càng tiến theo dòng sông thì thuyền địch càng sa vào trận địa cọc của ta.

Kết thúc trận đánh, thuyền địch bị chìm gần hết, quân lính bị thương vong vô số. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ bị bắt, hơn 400 chiến thuyền bị tiêu diệt, khoảng hơn 4 vạn tướng sĩ Nguyên – Mông đã bị loại ra khỏi vòng chiến. Cánh thủy quân của quân Nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt. Trong lúc đó, khi nghe tin thủy quân thất bại, cánh quân bộ của Thoát Hoan trở nên rối loạn, bị quân ta chặn đánh liên tục trên đường rút chạy. Toàn bộ cánh quân thủy và bộ của quân Nguyên – Mông bị thất bại thảm hại.

Qua trận chiến này, chúng ta thấy Trần Hưng Đạo và triều đình nhà Trần đã lợi dụng triệt để các điều kiện địa lý tự nhiên để chiến thắng quân thù qua một số các yếu tố sau:

LỰA CHỌN ĐỊA HÌNH LÀM TRẬN ĐỊA MAI PHỤC

Trong chiến tranh, việc chủ động tiến công và lấy ít đánh nhiều thì vấn đề lợi dụng địa hình đóng vai trò rất quan trọng. Trần Quốc Tuấn dày dạn kinh nghiệm chỉ huy, soạn sách Binh thư yếu lược, ông hẳn đã thấy rõ vị trí hiểm yếu của khu vực sông Bạch Đằng. Đạo quân thủy của địch rút lui qua đây dù có đề phòng cẩn thận, chuẩn bị sẵn sàng, cũng dễ bị quân dân ta dồn vào một khu vực hết sức bất lợi. Thủy binh và bộ binh của ta mai phục từ các nhánh sông, các dãy núi và cánh rừng ven sông có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng đổ ra bao vây và hiệp đồng chiến đấu tiêu diệt địch.

Sông Bạch Đằng chảy giữa hai huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, Cửa Lục khoảng 40km, cách Vạn Kiếp – nơi đóng quân của Thoát Hoan – hơn 30km theo ngược dòng sông Kinh Thầy. Nước sông Bạch Đằng hàng ngày theo thủy triều lên xuống. Khi triều lên cao, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn 1.200m. Dòng sông đã rộng lại sâu, khi triều xuống, nơi sâu nhất đến 16m, trung bình giữa sông cũng sâu từ 8m đến 11m. Theo sông Đá Bạc chảy xuống đến đầu dãy núi Tràng Kênh, sông Bạch Đằng phình to hẳn ra. Đó là nơi tập trung các dòng nước của các sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Gia Đước, sông Thải, sông Giá bên hữu ngạn đổ về. Sông Chanh, sông Kênh (cửa sông này ngày nay đã bị lấp) và sông Rút (còn gọi là sông Nam) là chi lưu bên tả ngạn Bạch Đằng chia bớt nước chảy ra Vịnh Hạ Long. Một khúc sông không dài quá 5km mà có 5 dòng nước đổ về và có 3 nhánh sông phụ đưa nước ra biển. Đó là hình thế của thượng lưu Bạch Đằng.

Ở lòng sông Bạch Đằng, từ bên hữu ngạn (thuộc xã Phục Lễ, Thủy Nguyên) có một cồn đá ngầm chạy qua đến quãng giữa cửa sông Chanh và sông Rút. Nhân dân địa phương gọi đó là ghềnh Cốc. Ghềnh Cốc có 5 cồn đá chắn ngang gần 3/4 sông. Khi triều xuống thấp nhất, cồn cạn chỉ cách mặt nước 0,40m, cồn sâu cách 3,70m, thuyền đi nhẹ trên sông có thể thấy được những cồn đá. Ghềnh Cốc cấu tạo bằng đế gốc do chân núi đá Tràng Kênh kéo dài ra.

Quãng sông Bạch Đằng nơi được chọn làm điểm quyết chiến, là một khu vực hiểm yếu, có đủ những điều kiện cần thiết đáp ứng được yêu cầu bố trí 1 trận địa mai phục trên sông với quy mô lớn. Địa hình khu vực này với sông sâu và rộng, rừng núi sát ven bờ, nhiều lạch thoát triều và bãi triều, nhiều nhánh sông đổ vào, nước triều lên xuống rất mạnh. Chính vì thế nên trước đây thuyền xuôi Bạch Đằng ra biển gặp khi triều xuống thường phải rẽ theo đường sông Chanh mà ít qua ghềnh Cốc ra cửa Nam Triệu. Sông Chanh, chi lưu lớn của sông Bạch Đằng, chảy qua huyện Yên Hưng, là đường ngắn nhất và là tuyến giao thông đường thủy quan trọng đi ra vịnh Hạ Long ở miền Đông Bắc. Khi chuẩn bị chiến trường, ghềnh Cốc đã khiến Trần Quốc Tuấn phải chú ý. Ông đã lợi dụng địa hình thiên nhiên này, sử dụng ghềnh Cốc như là một chiến lũy ngầm, chặn địch lại, tạo điều kiện cho thuyền chiến của ta ngăn chặn con đường tháo chạy của địch ra cửa Nam Triệu.

Sau khi trực tiếp đi xem xét, nghiên cứu kỹ địa hình, Trần Quốc Tuấn đã chọn vùng thượng lưu sông Bạch Đằng làm trận địa quyết chiến. Để tăng thêm lợi thế của trận địa mai phục, ông đã kế thừa truyền thống của Ngô Quyền và Lê Hoàn trong kháng chiến chống quân Nam Hán (938) và quân Tống (981), đã cho đóng cọc gỗ nhằm thực hiện ý đồ chiến lược: chặn đứng và tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy của địch.

LỢI DỤNG ĐIỀU KIỆN KHÍ TƯỢNG HẢI DƯƠNG

Mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch trên sông biển đều diễn ra trong một không gian nhất định. Bởi vậy, ngoài việc nghiên cứu địa hình, thì việc nắm bắt tình hình khí tượng hải dương để tìm ra cách đánh phù hợp, chắc thắng là điều hết sức cần thiết. Cụ thể trong trận chiến này, mờ sáng mùng 9/4, đoàn thuyền Ô Mã Nhi theo sông Đá Bạc tiến xuống. Đội tiền quân do tham chính Phàn Tiếp chỉ huy. Lúc đó, nước triều vẫn còn mênh mông. Ngày 9, đúng vào kỳ nước cường, thủy triều dâng cao và lên xuống mạnh, dự tính về con nước lúc cao nhất vào nửa đêm hôm trước là 3,2m và thấp nhất là 0,9m vào buổi trưa ngày hôm sau, như vậy biên độ triều là 2,3m, khi triều xuống thấp thì nước chảy rất mạnh, với vận tốc khoảng 0,20 đến 0,86 m/s, triều xuống mạnh nhất vào gần trưa, nước chảy xiết và có thể rút 0,30m trong 1 giờ. Trận địa quyết chiến với bãi cọc ngầm chỉ phát huy được tác dụng khi nước triều xuống, điều đó đòi hỏi người chỉ huy điều hành trận chiến đấu phải biết lợi dụng chế độ thủy triều với cả một nghệ thuật dẫn dắt thuyền giặc vào trận địa đúng lúc, đúng chỗ.

Vào đúng thời điểm này, chế độ gió có hướng thổi từ các làng Do Lễ, Phục Lễ, Phả Lễ. Chính vì vậy, quân ta đã áp dụng kế hỏa công, nổi lửa đốt lên, thả xuôi dòng nước lao thẳng vào giữa đội hình thuyền chiến hỗn loạn của giặc đang bị nghẽn tắc trước hàng cọc gỗ. Thuyền bắt lửa, bốc cháy ngùn ngụt, thiêu sống bọn giặc trên thuyền.

Ngoài việc xác định không gian, Trần Quốc Tuấn nghiên cứu kỹ thời gian quyết chiến. Bởi thời gian trong ngày, trong tháng có liên quan trực tiếp đến những đặc điểm khí tượng hải dương như chế độ thủy triều của sông Bạch Đằng lên xuống mạnh, chế độ gió ở vùng cửa sông và thượng nguồn thay đổi theo thời gian… nhằm triệt để lợi dụng việc kết hợp giữa địa hình và các điều kiện khí tượng hải dương. Ở đây, yếu tố không gian và thời gian kết hợp chặt chẽ với nhau. Trận đánh phải bắt đầu và kết thúc một cách chính xác vào thời điểm có lợi nhất để tận dụng chế độ thủy triều và phát huy được hết tác dụng của bãi cọc.

Trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng đã thể hiện tập trung nghệ thuật quân sự của quân dân Đại Việt thế kỷ XIII và tài thao lược của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng kiệt xuất, nhà chiến lược lỗi lạc của dân tộc. Những nghệ thuật quân sự đó là, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa quân thủy và quân bộ, giữa quân chủ lực với quân địa phương, vận dụng truyền thống thủy chiến một cách sáng tạo, chiến thuật tiến công địch trên sông và trên bộ, nghi binh kiềm chế, giữ vững điểm cao, từng bước dẫn dắt quân địch, kết hợp đánh chặn phía trước, phía sau với các mũi bên sườn, đánh dồn địch vào cửa sông nhỏ bên tả ngạn, đúng chỗ bố trí các trận địa cọc, hiểm hóc… Ngoài ra, còn lợi dụng triệt để các điều kiện địa lý tự nhiên như địa hình, địa vật, đặc điểm các yếu tố khí tượng hải dương, lợi dụng thủy triều lên xuống mạnh (từ sáng đến trưa ngày 9/4 lúc nước triều rút mạnh), lợi dụng sức gió để dùng đòn hỏa công thiêu cháy đoàn thuyền giặc khi chúng vướng cọc, nhờ vậy mà hiệu suất chiến đấu càng cao. Tất cả các hình thức chiến thuật, các lối đánh đó đều phát huy được tác dụng để giành chiến thắng trước quân thù. Các yếu tố này đã góp phần hết sức quan trọng để làm nên chiến thắng, lập nên kì tích lớn lao trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta.

Qua trận chiến này, một lần nữa cho thấy sự khéo léo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta lại được sử dụng thành công tại chiến trường ven biển Đông Bắc vào gần cuối thế kỷ XIII. Có thể nói, sông biển là một trong những yếu tố của môi trường tác chiến cả trong lịch sử và trong tương lai. Vì vậy nghiên cứu những kinh nghiệm tác chiến trên sông, biển không chỉ để tự hào với truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, mà còn để vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc ta trong giai đoạn hiện nay.

Thượng tá ThS Nguyễn Thanh Điệp
(Khoa Hàng hải – HVHQ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 382

———————————-
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lịch sử nghệ thuật quân sự, Học viện Hải quân, 2000.
[2] Địa lí hải quân, Học viện Hải quân, 2001.
[3] Phạm Hồng Sơn, Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, NXB QĐND, Hà Nội, 2004.

Ý Kiến bạn đọc