Tản văn

Nghề của người nghèo

 

1. Chiều tối qua tôi về làng, đi trên đường Hương Cần – Cửa Hậu thấy một đoàn mấy o, mấy chị từ Huế đạp xe về đây sau một ngày cần mẫn len lỏi qua các con hẻm ngóc ngách của phố thị để tìm mua chai bao. Họ nói cười rôm rả nhớ lại những chuyện vui mà họ đã có được trong ngày: một lời nói nhẹ nhàng của người bán, mấy đồng tiền lẻ thối lại của người mua mà chủ nhà nhẹ nhàng không nhận hay có cả những gia đình kêu họ vô nhà cho luôn cả mớ giấy loại…

Nghề thu mua phế liệu có nhiều tên gọi. Miền Bắc gọi là nghề đồng nát, xứ Huế quê tôi gọi là nghề chai bao, nghề nhôm nhựa, nghề thu mua lông gà, lông vịt… Cái nghề đó không biết có từ bao giờ, cho đến bây chừ nó vẫn là một nghề của nhiều người lao động nghèo từ làng quê đến phố thị… Biết bao gia đình nghèo dựa vào gánh chai bao của người mẹ, người chị để trang trải bao khoản chi hàng ngày…

So-628--Anh-minh-hoa---Nghe-cua-nguoi-ngheo---Anh-1

Ở xóm quê tôi, hồi trước có mụ Lổng mấy chục năm làm nghề chai bao, lông gà lông vịt. Sáng mờ, với một mo cơm, một chai nước, mụ quảy gánh ra khỏi nhà đi đến mịt tối mới về. Triêng gióng trên vai, mụ đi dọc các xóm quê, cất tiếng rao dài: “Ai dôm dựa (nhôm nhựa) dép bán hôn, ai dôm dựa dép bán hôn…”; “Ai chai bao, lông vịt bán hôn, ai chai bao lông vịt bán hôn…”. Mụ đi khắp làng tôi rồi về hai làng dưới là Thế Chí Tây, Thế Chí Đông và trở thành một người mua hàng quen của tất cả mọi nhà.

Đi bền bỉ tháng này năm nọ như thế nên chuyện chi của mấy làng mụ đều biết; hỏi đứa ni đứa nớ con nhà ai mụ nói ra ngay, hỏi o chi đó đẹp nhất làng Thế Chí Tây có chồng sắp cưới là ai mụ cũng tường… Có lẽ thấu cảm cái công của mụ nên cả mấy làng vùng quê ven phá Tam Giang nhà ai có chai bao, có lông vịt hay nhôm nhựa đều để dành bán cho mụ Lổng dù bán cho mụ giá có phần rẻ hơn so với bán cho người khác. Triêng gióng tảo tần như rứa, một mình mụ nuôi đủ 3 đứa con trưởng thành.

Mụ Lổng bây chừ không còn nữa. Mà giờ đây, nghề chai bao nhôm nhựa của mấy o, mấy dì các làng quê cũng đỡ vất vả hơn khi có chiếc xe đạp đồng hành.Trên chiếc xe đạp với mớ hổ lốn các loại phế phẩm sắt thép, thủy tinh, giấy lộn… của mấy o, mấy dì tưởng như nhìn thấy lấp lánh đâu đó nụ cười của mấy đứa con chờ mẹ về với những món quà bánh, vài cái kẹo hay mấy thứ thức ăn cho bữa cơm tối như mụ Lổng xóm tôi thuở nao…

2. Ông có cái tên như con gái: Nương. Đó là người thợ rèn độc nhất vô nhị từng hành nghề ở làng tôi từ xưa cho đến bây giờ. Ông thợ rèn Nương quê ở làng rèn Hiền Lương, vốn là làng rèn nức tiếng xứ Huế từ xa xưa. Ông về làng tôi làm ăn là theo lời mời của hợp tác xã nông nghiệp địa phương để sản xuất nông cụ phục vụ nông nghiệp. Một căn nhà nhỏ, một lò rèn nhỏ được dựng lên trước sân kho hợp tác gần xóm tôi.

Thế là cứ khi mô rảnh, lũ con nít chúng tôi lại rủ nhau xuống coi lò rèn ông Nương với nhiều điều lạ lẫm. Những ngày đông giá lạnh, lũ trẻ xóm tôi càng siêng xuống lò rèn ông Nương để vừa được coi ông rèn vừa được sưởi ấm từ cái lò than hồng nơi cái bệ rèn. Ông Nương là một thợ rèn giỏi nhưng nát rượu. Hình như ngày nào ông cũng vô vài ly mới bắt đầu làm việc. Câu nói cửa miệng của ông là: “Xụt bệ thợ rèn”, cũng là công đoạn đầu tiên của nghề rèn phải dùng tay để đẩy bệ cho lò than đỏ lên mà luyện sắt thép.

Khi ông mới về làng tôi, công việc của ông bận lắm vì nhà nào cũng cần làm mới các thứ nông cụ cuốc, cào, dao, rựa, liềm, vằng… Ông làm không hết việc, còn có thêm mấy đứa con và vợ phụ những công việc lặt vặt. Sản phẩm của ông vừa đẹp, vừa sắc nên khách hàng ngày một đông thêm… Cả nhà ông một vợ, 5 con mưu sinh nhờ vào cái lò thợ rèn đó…

Thế nhưng rượu nhiều quá, ông ngày một bê trễ công việc, không giao đúng ngày hẹn sản phẩm với khách nên khách hàng bỏ đi dần. Cuối cùng ông Nương phải đưa vợ con đi nơi khác, bỏ lại một căn nhà xiêu vẹo gió lùa và cái bệ thợ rèn tro lạnh bên đường…

Phi Tân
(Đài PT-TH Thừa Thiên Huế)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 628

Ý Kiến bạn đọc