XEM BÁO GIẤY
Thơ

Ngày về

 

Hẹn ngày về
Ta thao thiết gọi tên dòng sông Trà quê mẹ
Gió đã lên
Cánh đồng quê nồng nồng mùi rạ rơm khét nắng
Trái tim ta thẫn thờ chết lặng
Cay đắng đợi chờ thuở mẹ đưa nôi.

Ngày ta về
Con nước lững lờ trôi
Mái ấm ven đê hàng cây xanh lá
Bụng trẻ con nghe chừng đói lả
Héo hắt vụng về ngõ nhỏ rối chân quê.

Con đã về
Núi Ấn ngút sơn khê
Nghe máu tim mình tái tê bờ sông nhỏ
Ong vò vẻ sắt se cành lá cọ
Nắng đổ trên đầu ray rứt chuyện ly tan…

Ngày con về
Dòng nước ngược dở dang
Nghe đắng lòng hoang mang tiếng gà tục tác
Trời ngả nghiêng chiều mưa lùa rào rạt
Dáo dác cánh cò í ới gọi bầy ơi!

Ngày con về
Năm tháng hóa mồ côi
Tiếng mẹ ngày xưa xa rồi bên giấc ngủ
Dịu vợi thẫn thờ đau lòng con trú ngụ
Đâu cất nổi thành lời thương lắm mẹ ơi!

Ngày con về
Mưa tím cả vùng trời
Gió lắt lay bên dòng sông Trà Khúc
Tiễn con đi xa mẹ u buồn lao lực
Ngày con về sao mẹ không thức hát lời ru. 

Thanh Lương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 474

Ý Kiến bạn đọc


Tản văn

Kỷ Niệm 43 năm ngày Ký Hiệp Định Paris (27-1-1973 – 27-1-2016)
Ngày về

1. Cuộc đời mỗi con người có những chuyến đi định trước ngày về, cũng có những chuyến đi không dự tính được ngày về dù sự chủ động không phải lệ thuộc hoàn toàn vào khách quan. Lại có những chuyến đi không biết ngày nào được trở về, vì vận mệnh những con người đó hoàn toàn lệ thuộc vào vận mệnh của đất nước. Bản thân tôi là một trong những người như vậy…

Ai đi xa lâu ngày khi trở về cũng đầy náo nức, hào hứng. Đối với những người đi chiến đấu không may bị địch bắt làm tù binh, chỉ khi đất nước giành được thắng lợi họ mới được về, sự trở về đó vô cùng quý giá. Chỉ có sự kiên cường, quyết sống mái với quân thù, giữ vững khí tiết cách mạng, thì ngày sum họp đoàn viên với đại gia đình cách mạng, với nhân dân và người thân làm tăng gấp bội niềm vui, náo nức so với những sự trở về thông thường khác.

Don-cac-cs-tu-nha-tu-My-Nguy-tro-ve-tren-song-Thach-Han-1973---Chu-Chi-Thanh
Đón các chiến sĩ từ nhà tù Mỹ – Ngụy trở về trên sông Thạch Hãn 1973 – Ảnh: CHU CHÍ THÀNH

Bị địch bắt, người chiến sĩ cách mạng bắt đầu bước vào một cuộc chiến đấu mới không cân sức, không có vũ khí nhưng phải giữ vững “trận địa”, không được phép rút lui và cũng không được để thất bại. Ngay thời khắc đầu tiên họ phải vượt qua thử thách mà trước đó chưa từng trải qua. Nhiệm vụ của họ là phải giữ bí mật cơ quan, đơn vị, tổ chức cách mạng, giấu cả lý lịch cá nhân dù bị địch tra tấn, đánh đập, khai thác. Kế tiếp là những tháng năm dài đấu tranh trong trại giam chống lại những thủ đoạn thâm độc của quân thù nhằm tiêu diệt sinh mạng chính trị người cách mạng. Thử thách nối tiếp thử thách, liên tục, hết đợt này đến đợt khác, lần nào cũng ác liệt, nhất là thời gian từ năm 1969 trở đi, địch chủ trương phân loại tù, chúng xếp diện du kích, người miền Nam riêng và khủng bố mạnh nhất, ép tù vào khu tân sinh hoạt – một hình thức chiêu hồi trá hình. Địch phát động hàng loạt đợt khủng bố, tra tấn đánh đập, tung tin tâm lý chiến, cho quân cảnh tràn vào trại giam ban đêm đánh sát rạt và kêu gọi tù qua khu tân sinh hoạt, chúng bắn cả đại liên vào trại giam vô cùng dã man, tàn ác để khủng bố tinh thần người tù. Chỉ có sức mạnh của ý chí xác định “thà chết quyết không đầu hàng” mới giữ vững được khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Hàng chục năm sau khi đã hòa bình, thống nhất đất nước thỉnh thoảng trong giấc ngủ bình thường chúng tôi vẫn còn mơ thấy địch tra tấn. Lòng căm thù giặc của người tù sâu như biển, không thể nào quên. Vậy mà hòa bình rồi, gặp lại những tên ác ôn như thượng sĩ Nhu – kẻ nổi tiếng tàn ác nhất Trại giam Phú Quốc, anh em tù binh xưa từng bị Nhu tra tấn đều sẵn lòng tha thứ. Chỉ những con người cách mạng được Đảng giáo dục, học và làm theo đạo đức bao dung của Hồ Chí Minh mới có lòng vị tha ấy.

2. Những ngày cuối tháng 1-1973, Trại giam tù binh Phú Quốc vẫn như bao ngày, lính quân cảnh vẫn canh gác, tù binh vẫn sinh hoạt, không có một hiện tượng nào cho thấy tình hình thời sự bên ngoài đã có chuyển biến mang tính quyết định vận mạng hàng vạn người tù đang bị giam giữ ở đây. Bọn quân cảnh rất kín tiếng, chúng không hề hé răng để lộ thời cuộc bên ngoài. Trại giam chúng tôi ở không biết được tin Hiệp định Paris đã được ký kết. Địch rất thâm độc, chúng giữ kín tin hòa bình đã lập lại để còn tính toán âm mưu này nọ, hoặc ít ra cũng để đề phòng tù binh đấu tranh đòi hỏi thi hành đúng Công ước Geneva về tù binh mà chúng không thực hiện. Nhưng nhìn hiện tượng, thái độ của lính quân cảnh giữ tù, giám thị, đặc biệt là xe nhà binh (GMC) liên tục chở tù từ các khu tân sinh hoạt, rồi tù binh (quần áo khác nhau: tù tân sinh hoạt mặc đồ đen, tù binh màu nâu) đi về hướng sân bay dã chiến An Thới. Đảng ủy trại giam nhận định địch sẽ trao trả tù binh. Đến khi quân cảnh từ Ban điều hành trại giam đến gọi tên anh em ra xếp tốp 100 người, 2 ngày sau kêu trả đồ cá nhân (khi Mỹ bắt họ thu giữ) thì việc địch chuẩn bị trao trả đã rõ ràng. Đảng ủy lựa chọn đảng viên trong số đó có tôi, giao phụ trách, quản lý 100 người trong tốp có mình để đề phòng địch trộn người xấu trên đường đi hoặc đưa đi giam giữ nơi khác, phải bảo vệ nhau trong mọi tình huống.

Sáng 15-3-1973, địch đưa xe GMC đến gọi tên chúng tôi chở ra sân bay, tất cả ngồi trên sàn chiếc C47 có quân cảnh cầm súng lăm lăm như lúc ở đất liền bị đày ra đảo trước kia. Máy bay bay khá lâu, có lúc lắc, nhồi, dù không thấy bên ngoài nhưng chúng tôi nghĩ đang bay dọc biển. Đáp xuống sân bay, chưa kịp nhìn đâu là đâu thì phải lên xe chạy về hướng Bắc (1). Dọc đường thấy nhiều xe chở lính ngụy chạy ngược lại. Xe dừng trên bến sông, anh em chúng tôi ngồi xếp hàng chờ xuống xà lan chở qua sông. Cảnh vật chung quanh còn in dấu tàn phá nặng nề của cuộc chiến. Khi người lính quân cảnh kêu anh em đứng lên chúng tôi không chui dưới cổng chào có treo cờ ba sọc của chính quyền Sài Gòn mà lách đi bên ngoài đã có những đoàn đi trước. Ra giữa sông, tôi lấy lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng giấu trong người ra giơ cao, chỉ huy cho tất cả anh em cởi bỏ quần áo nhảy xuống sông, chạy vô bờ Bắc. Các đồng chí đón tiếp trên bờ lội xuống bến sông dìu chúng tôi vào, tay bắt mặt mừng, ôm nhau như người ruột thịt. Cả toán 100 người hô khản cả giọng các khẩu hiệu: Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm… Thật trùng hợp, khẩu hiệu chúng tôi hô theo chỉ đạo của Đảng ủy (trong tù) đúng với các khẩu hiệu treo trên các băng rôn dọc điểm đón tiếp. Mỗi người được phát ngay quần áo, mũ cối, dép cao su, vật dụng cá nhân đựng trong một ba lô như trang bị của một chiến sĩ. Việc làm trước tiên là ai biết bạn bè, đồng đội quan trọng phải ghi tên vô sổ để Ban đón tiếp theo dõi, đòi địch phải trao trả nếu chưa thấy về.

Xe ca chở chúng tôi về trạm đầu tiên trên đất Quảng Bình, đêm sau nghỉ ở Hà Tĩnh, ngày sau nữa về tới Sầm Sơn. Điểm nào anh em cũng được đón tiếp thật chu đáo, những bài hát sôi nổi, không khí chiến thắng vang vang từ các loa phóng thanh Tiếng đàn Talư, Việt Nam quê hương tôi, Bác cùng chúng cháu hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài… làm náo nức lòng người trở về, thật ấm áp, thân thiết và sôi động. Bà con Sầm Sơn gọi chúng tôi là “đoàn quân chiến thắng” một cách trìu mến như con em ruột thịt từ ngục tù về với gia đình.

3. Cuộc đời con người ai cũng có lúc gặp khổ đau và hạnh phúc. Với tôi, đau khổ nhất là ngày bị địch bắt (11-9-1967), thần kinh như muốn vỡ tung, miệng đắng nghét, đầu óc suy nghĩ căng như dây đàn, chuẩn bị tinh thần đối đầu với quân thù… Tôi cũng có hai lần hạnh phúc. Lần đầu tiên khi được giao liên đưa vô vùng giải phóng, chính thức nhận công tác cách mạng, hoạt động trong cánh học sinh – sinh viên nội thành Sài Gòn. Và lần sau lớn gấp bội phần, được về với Đảng, với nhân dân sau hơn 5 năm 6 tháng tù đày – đó là thời gian sống chết trước quân thù, bị tra tấn, đánh đập nhiều lần, ngồi cả biệt giam 2 nơi nổi tiếng ác liệt nhất tại Nhà tù Phú Quốc. Sự đón tiếp của Đảng, Nhà nước dành cho anh em ở tù ra thật thân thiết, tình đồng chí vô cùng cảm động. Đúng như câu nói “trống rung, cờ mở” đón ngày hội ngộ lớn, mừng vui chiến thắng của những người con yêu phải sống trong “nanh vuốt quân thù” nay được “sổ lồng” về với tổ ấm. Đây là lần trở về sung sướng nhất, hạnh phúc nhất và duy nhất, có một không hai của cả đời người, nó không bao giờ phai nhạt và góp phần củng cố tư tưởng lập trường, quan điểm tuyệt đối trung thành của cá nhân tôi đối với Đảng, với nhân dân.

Như câu nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Từ ngục tù trở về trong khí thế của người chiến thắng thì còn gì vinh quang và sung sướng, hạnh phúc hơn? Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài thơ Nghe tiếng giã gạo trong tập Nhật ký trong tù nói về sự trưởng thành của người tù rất đúng với hoàn cảnh chúng tôi:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công!”

Trong cái rủi có cái may, rủi bị tù, may không chết để còn sống trở về (2). Trong cái mất có cái được, mất tự do, được qua thử thách ác liệt trong tù, đã rèn luyện được tính chịu đựng kham khổ, sống giản dị, giúp tôi sau này vượt qua mọi cám dỗ của tiền tài, vật chất; không đua đòi danh vọng, làm bất cứ việc gì Đảng cần, với tinh thần tích cực nhất để đền đáp công ơn của Đảng, của nhân dân và khỏi hổ thẹn với đồng đội đồng chí đã ngã xuống trong ngục tù Mỹ – ngụy.

Nguyễn Hải Phú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 390

______

(1) Về sau biết đó là sân bay Phú Bài, Thừa Thiên – Huế. Địa điểm trao trả: sông Thạch Hãn, Quảng Trị.
(2) Địch tra tấn đánh đập, bắn cả đại liên vào trại giam giết hơn 4.000 tù binh, trong thời gian từ giữa năm 1966 đến đầu năm 1973.

Ý Kiến bạn đọc