Truyện ngắn

Ngày mùa xuân bắt đầu

 

1. Nhà có hai anh em, một trai, một gái. Tôi con gái chẳng được di truyền vẻ đẹp của song thân, ai cũng trêu “con ông hàng xóm”. Còn Hai, chẳng những giống mà giống vượt, nhân đôi vẻ đẹp của ba mẹ. Tướng tá cao lớn. Đẹp “nhức nhối” với sóng mũi cao ngất và đôi mắt tròn to. Đặc biệt ấn tượng là hàm râu quai nón. Kì lạ. Đẹp dã man. Nó khiến khuôn mặt anh rất “manly” và mê hoặc. Mấy nàng lớp tôi lần nào tới nhà chơi cũng tranh nhau đặt hàng, anh mày “chất” quá, làm mai tao nghen?!

Nhưng nhược điểm chết người của Hai là học yếu. Đã vậy lại nghịch. Hôm đó ngồi trong lớp, đang tiết Toán của thầy giáo nổi tiếng nghiêm khắc, ngồi học mà mồm như tép nhảy nên bị đuổi ra. Ma xui quỷ khiến, vừa đi ra mà vừa lải nhải, đuổi thì ra, làm gì dữ. Thầy chỉ nghiêm mặt nhìn, vậy mà bỏ học vì “không dám vác mặt tới trường nữa” – lời anh.

Bỏ học nửa năm lớp 9, chơi ớn rồi khăn gói ra phố học may. Ra nghề, ba xây căn phòng nhỏ trước cửa nhà, treo cái biển “Nhận may âu phục Nam”.

Nhà nằm sâu trong hẻm nhưng Hai tôi lành nghề lại khéo, may đẹp, đúng phọt đúng người. Mấy ông bụng to chân ngắn, vác cái bụng lặc lè, đi may khắp nơi nhưng về tiệm Hai là cứ chậc chậc, hồi nào giờ mới có cái quần ưng ý. May đẹp, may nhiều nhưng thu nhập cũng chỉ đủ cho anh dắt bạn gái đi ăn chè, cho em út bánh mì, uống nước mía, Tết cho bao lì xì… mong mỏng. Không thể ổn định lâu dài bằng nghề này được. Nhà nông bận rộn lại nghèo, lâu lâu bóp họng bóp hầu may đồ đẹp để lên khuôn những dịp hiếu hỉ, con cái cũng vào năm học hoặc Tết nhứt mới may. Mình cũng hổng dám lấy giá cao, rốt cuộc lời hổng bao nhiêu. Hai nói vậy thì mẹ than: Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ.

Dù thu nhập bọt bèo nhưng mẹ cũng an tâm, con trai cưng không phải dầm mưa dãi nắng, bươn bả đồng cạn đồng sâu. Vừa may vừa mở đài nghe, cứ cành cạnh trong mát, ai qua lại cũng khen sướng ru.

Đúng là nghề may nhàn nhã thiệt. Nhưng đó là ngày thường chớ cuối năm quáng quàng, tối mắt. Ngày đó, thời điểm hot nhất của thợ may là Tết mà.

Mùa Tết làm việc cực khổ, bù lại được nhiều tiền. Nhưng để giữ uy tín, Hai không ham nhận ẩu. Thường thì đến đầu tháng chạp, Hai sẽ treo trước cửa tiệm thông báo không nhận may nữa.

“Không nhận may nữa” đồng nghĩa chồng vải trong nhà đã ngất cao như… núi, hết cõng nổi. Nói không, nhưng khách “ruột” tới năn nỉ thì cũng phải nhận, dù cười như mếu.

Xuan2021--Vuon-tho-au---Tran-Thi-Thu-Ha---Anh-1
Vườn thơ ấu – sơn mài – Trần Thị Thu Hà.

Giới hạn hai tháng, phải “cày” hết núi vải. Một mình, Hai đảm đương tất tật các công đoạn. Lành nghề nên cắt may không cực nhưng mất thời gian nhất vẫn khâu làm nguội (làm khuy, đơm nút, ủi). Mẹ xung phong giúp nhưng Hai không cho, anh chỉn chu nên sản phẩm nào cũng muốn tự tay làm, phải đẹp từ A tới Z. Tôi sảnh sẹ công kích:

- Bày đặt khó khăn! Mẹ cũng biết may sơ sơ mà!

- Nhưng mẹ không có “nghề”. Công tình may sắc sảo mà làm cái khuy không sắc sảo, đơm hạt nút bị chinh thì mất đẹp!

- Ối giời! Thế thì khổ… ráng chịu!

Là tôi thấy ông anh điển trai cực quá nên gắt chớ tôi cũng xót ruột. Ngày nào tôi cũng lật chồng vải đếm ngược, lưng được xấp nào mừng xấp ấy. Thức đêm nhiều quá, thanh niên vai năm tấc rộng nhưng Hai xọp đi ngó thấy. Nhìn bộ dạng của người thiếu ngủ thấy tội lắm. Hồi đó may máy còn đạp bằng chân. Ổng lạch cạch sáng đêm. Có đêm cắt vải mà buồn ngủ quá rồi cắt to cắt nhỏ hết xấp vải, phải mướt mồ hôi tìm miếng vải y chang đền cho khách. Tái mặt luôn!

“Dừng tay ăn tất niên nè, không kịp cũng bỏ xuống!”, mẹ chỉ thị vậy nhưng Hai vẫn cành cạch, miệng nói đợi chút nhưng chờ miết hổng thấy. Mẹ than may một vụ Tết sắm được 2 chỉ vàng nhưng hai mắt sâu hơn lòng giếng.

Khi người khách cuối cùng tới lấy đồ cũng vừa tới giao thừa. Nhưng Hai vẫn chưa được nghỉ. Hết khách tới em – đồ Tết của tôi hồi đó là quần xanh áo trắng, mẹ khoán cho Hai luôn. Thấy tôi cử cẳng, mẹ nói mặc tạm đồ cũ, để Hai ăn Tết rồi may cũng kịp đi học có đồ mới mà. Không được, tôi nhảy nhồng, Tết không được mặc áo mới thì làm con nít chi, tôi rên rỉ bi thiết. Hai kêu, yên tâm đi.

Sáng mùng 1, ngoài đường ríu ran tiếng trẻ nhỏ khoe đồ mới, Hai ngồi trong bàn máy nhìn ra:

- Chà chà! Mấy nhỏ lên khuôn thấy bảnh ra liền!

Tôi ấm ức ra tối hậu thư:

- Mùng 2 mà không được lên khuôn như tụi nó là em đập đầu chết luôn! – Tôi nói trong trạng thái sắp khóc.

- Ráng thêm buổi nữa! Tối xong! – Hai dỗ.

Mùng 2 Tết, tôi mặc đồ mới đi chơi – với tôi, mùa xuân bắt đầu từ hôm đó – cũng hôm đó, Hai lăn ra ngủ như chết. Ngủ liên tục 3 ngày – ngủ bù. Ngủ no mắt rồi dậy cười hề hề nói, tới lượt mình chơi Tết thì thiên hạ đã ra đồng – nói vậy nhưng Hai vui, nhìn đôi mắt long lanh thì biết.

2. Hồi đó, tôi ở tiệm may của Hai nhiều hơn ở trong nhà. Tại ngoài đó có máy quạt, có đài để nghe, và hấp dẫn nhất là được Hai bao chè, nước mía, bánh mì mới ra lò.

Vui nhất là dịp cuối năm, cứ lăng xăng đếm vải, dọn rẻo và đợi cúng Tổ để được gặm đùi gà, ních chè. Tôi không liên quan đến nghề may vá nhưng ngày cúng Tổ nghề may là ngày được tôi trông đợi nhất. Chắc tại thấy mùa xuân đã về bên lưng.

Khi tôi xuống phố học Sư phạm phải lìa xa cái tiệm may nhỏ xíu bằng chỗ ngồi con cóc đó tôi cứ nhớ tiếng lọc cọc và mỗi lần về thăm nhà đều chui qua tiệm may ngồi. Tháng chạp về, học gì học, ngày giỗ Tổ tôi cũng về với anh Hai, với ba mẹ. Cũng từ ngày đó, tôi mặc định, cứ thấy anh Hai giỗ Tổ là thấy Tết.

Học ra trường, mẹ không cho nhưng Hai vẫn chở tôi đi nộp hồ sơ trên núi theo ý nguyện. Hai nói còn trẻ, thích thì cứ thử nghiệm. Được anh ủng hộ, tôi rất vững vàng. Nhưng cũng chỉ nghĩ lên núi dạy với ý niệm đi cống hiến tuổi trẻ vài năm rồi về, ai dè làm dâu đất khách. Chồng xa nhưng năm nào Hai cúng máy, cả nhà tôi cũng tề tựu đông đủ.

Đùng một cái, chồng đâm đơn ly hôn. Nhà cửa lỏng lẻo quá tình cảnh mẹ bệnh, con thơ nơi đất khách, không còn cách nào, tôi ôm con về mẹ.

Hai mẹ con chen chúc trong căn phòng chật chội của mẹ. Hằng ngày tôi chênh chao trên xe buýt gần 80km đi – về. Cực. Lâu lâu lại đem cái quần ra tiệm nhờ anh bóp eo. Hai hỏi:

- Mấy năm ở ké rồi, mẹ con tính chừng nào xây nhà?

- Chừng nào em vay mượn đủ mới tính.

- Dạy 15 năm mà lương tháng nào ăn hết tháng đó, tiêu gì mà dữ?

- Lương em có 6 triệu hơn. Đi dạy xe buýt, tiền cơm áo phấn son, tiền điện tiền nước, tiền học cho con, tiền chợ búa và v.v…

- Hay mẹ con ra ở trong cái tiệm này cho riêng tư, mai mốt có tiền thì sửa sang lại chút cho bóng bẩy.

- Rồi Hai may ở đâu?

- Sắp đóng cửa rồi!

- ??

- Có vải đâu mà may!

Vâng. Cuộc sống đổi thay từng ngày. Thời buổi của công nghiệp may mặc, tiệm may của anh những ngày cuối năm chỉ còn những vị khách bụng phệ nệ, lưng còm, chân cong… và một vài người trẻ cầm quần áo mua sẵn tới cắt lại cái lai, chít cho nhỏ cái eo…

Mấy năm liền, không phải thức đêm để cành cạch nữa nhưng Tết về, đôi mắt Hai vẫn trũng như lòng giếng, “Không cầm kéo buồn tay, rảnh quá cũng không ngủ được”.

Nhưng cuộc sống đâu thể rảnh dài, làm thợ may hơn 20 năm tuổi nghề nay vào phố học làm thợ hồ. Làm thợ hồ nhưng Hai vẫn không bỏ nghề may. Làm xa nhưng dặn ở nhà cứ nhận đồ Tết của khách, tháng chạp về may. Tôi nói làm vậy bất tiện, cực lắm. Cầm kéo quen tay rồi, không bỏ được – Hai trả lời.

3. Lận đận một thời gian rồi hai mẹ con cũng tậu được miếng đất. Hai chủ công kêu bạn bè thợ hồ, xây cho em gái căn nhà nhỏ xinh.

Năm nay, mới mùng 10 tháng chạp, Hai lại gọi điện bảo mẹ con tôi thu xếp công việc về ăn chè cúng máy. Tôi “Dạ” rồi cười hi hi. Thế là mùa xuân đã bắt đầu.

Nguyễn Thị Bích Nhàn
(Tỉnh Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2021

Ý Kiến bạn đọc