Tản văn

Ngày đầu năm tát mương bắt cá lóc cụ

 

Là lần bà nội tôi vắng nhà vào dịp Tết (1949-1950, tôi khoảng 14-15 tuổi). Bà hay vắng nhà do buồn rầu về chồng (ông tôi – Liệt sĩ Vương Trì Chánh, viết chữ nho đẹp chép sử cho triều đình Huế; tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp truy nã, trốn vào Nam (khoảng trước 1930); tham gia Việt Minh (1945) bị Tây bắt thủ tiêu vào cuối năm trước, do không chịu theo nó, dù nó dụ dỗ đủ điều); về con (cha tôi – Liệt sĩ Vương Đình Thống làm trưởng công an khu Chợ Thiết, Chợ Lớn, bị Tây bắt năm 1946 giam bót Cẩm Giang, Tây Ninh, “nghe” vượt ngục không thoát; năm 1959, Mỹ – Diệm sát hại ông bằng luật “10/59”, được đặt tên đường tại thị trấn Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Bà hay đi đâu đó thăm bà con, để khuây khỏa lúc 5 ngày, lúc 10 ngày. Lần này, bà đi từ trước Tết. Hôm ấy là mùng 1 Tết. Tôi biết vậy thôi. Tôi một mình ở nhà không được đi đâu, không việc gì làm, tôi chỉ đi rảo quanh trong vườn… vừa nhìn dưới đất kiếm nấm mối để nhổ, nhìn ngọn cây kiếm trái chín (mít, quít, mận, ổi…) để hái, ngó xuống mương coi chỗ nào có ổ cá (cá bóng dừa, cá rô, trê…) để câu… Nhưng tuyệt nhiên. Mùa đông năm ấy, Tết đến mà thấy buồn quá! Tôi thẫn thờ ngồi xuống một thân dừa nằm nghiêng nghiêng nửa thân trên và ngọn trên liếp, nửa thân và gốc dưới mương… Chợt thấy mặt nước mương dợn sóng khá mạnh và chạy dài từ đầu đến cuối mương (mương lớn nhứt trong vườn, ông tôi dùng chứa dừa cả vườn sau khi thu hoạch, chờ con nước lớn đưa về đây để chuyển lên bờ)… Bụng bảo dạ: “Tao biết mày rồi! Mày sẽ biết tay tao!”. Tôi vừa lầm bầm trong miệng, vừa chạy rút vô nhà lấy cái thùng thiếc (loại đựng dầu lửa), cởi áo quăng “phạch!” lên cái bàn, chỉ mặc quần cụt rồi chạy rút ra mương. Thuận lợi ở chỗ là mương chỉ có một đường nước thông ở đoạn giữa mương, bề ngang khoảng một thước. Diện tích mặt nước khá rộng (ước 30 x 5 mét), độ nước sâu cỡ 5-6 tấc. Đến lúc lội xuống mương chỗ sòng tát nước sâu tới bụng, thì tôi có cảm giác hơi hụt hẫng (?). Bởi, không thấy tăm hơi cá, tôm tép… đâu cả (bao lần tát mương này, tôi bắt được cá tôm cả rổ xúc, có cả cá ngát, cá lăng, tôm càng, cua biển…). Lúc nãy, sóng dợn rõ ràng. Bây giờ trên mặt nước, đến đáy mương… im ắng lạ thường. Đứng dưới nước lạnh, người thấy gay gay, tôi muốn bỏ cuộc. Nhưng suy đi nghĩ lại về cái dấu hiệu “dợn sóng”, đó chắc chắn là có “con gì” lớn lắm? Cuối cùng tôi quyết định “tát” và “tát”! Không đắn đo, ngần ngại gì nữa, đầu tiên là phải lặn sâu xuống gần cả thước nước để móc bùn đắp bờ đập. Đây là bước khó khăn ban đầu. Không đắp cao bờ đập cho đúng độ và chắc chắn thì không giữ được lượng nước khi tát ra (bây giờ ước lượng khi đó, phải đến 400-500 thước khối nước). Tôi phải lặn hụp hơn 20 lần mới đủ lượng đất đắp bờ đập. Khi tát, đứng dưới sòng tát đầu tôi ngang với mặt đập. Tôi phải tạo 3 bậc thang mới có thể đứng tát được. Với khối lượng nước đó, tôi tát liên tục (chỉ nghỉ trưa, ăn cơm nguội… với muối hột), đến gần sập tối, mới cạn… Suốt thời gian đó, không hề thấy dạng hình tôm, tép nhỏ, kể cả một con cá con nào? Đến giờ, mặt bùn trơ ra lạnh tanh, các vũng nước lớn, vũng nước nhỏ cũng lặng im như tờ… Lạ thật? Nhưng tôi vẫn không nản chí. Tôi bỏ sòng tát, không quan tâm chỗ nào hết, cứ phăm phăm lội riết lên chỗ thân dừa (chỗ tôi ngồi lúc sáng), dưới dạ vừa thân vừa gốc dừa là một cái hang nước lộ thiên ra ngoài, bề rộng cỡ chiếc đệm lớn… sâu gần 2 tấc nước. Tôi cúi xuống nhìn vào, thì… một cặp mắt như hai mắt mèo sáng rực trừng trừng nhìn tôi. Tôi chưa kịp phản ứng gì, thì “anh ta” lao một cái ào ra ngay khỏi hang nước vừa lóc, vừa lao lông lốc, đành đạch trên mặt bùn… như một quái vật bay xuống tới sòng tát, rồi vọt phóng lên bờ đập… May quá cho tôi, là mặt đập cao chặn ngay “anh ta” lại! Tôi bườn theo “anh ta” muốn hụt hơi… khi gần tới, thì “anh ta” quay ngoắt 180 độ… lông lốc bay lên hang nước, rồi lông lốc bay xuống sòng tát… Đến lần thứ mấy… tôi quá mệt, “anh ta” chắc cũng quá đuối… Bấy giờ, tôi mới bắt kịp, liền ôm chặt “anh ta” ngay dưới sòng tát… Và trong đầu tôi liền nghĩ ngay, không để “anh ta” chết, để về khoe với bà nội. Nhưng phải làm sao rộng “anh ta” được. Nhớ đến ông nội tôi, một lần ông câu được một con cá dãnh to lớn, bề ngang thân bằng cái khay (là giống cá mè mình gần như vuông vức, thường bằng cái dĩa bàn). Ông cột đuôi nó vào một cặp dừa khô, thả trong cái mương này và ông đã dùng đăng bưng kín chỗ sòng tát của tôi bây giờ. Tôi bắt chước ông làm như vậy, chờ khi bà về. “Anh ta” là một trự cá lóc to như cái bắp dừa (là thân tàu dừa nước sát mặt bùn – mặt cắt ngang thân “anh ta” phải hơn nửa gang tay – gần 15 phân), dài cũng hơn một thước đo vải, phải 6-7 tấc, cột 4 trái dừa mới giữ nổi. Chính “anh ta” “xực” sạch trơn mọi con vật dưới mương nước này, nơi “anh ta” trú đóng trong những ngày qua.

Chuyện thật hoàn toàn, xảy ra tại vườn nhà ông bà tôi (ông bà không còn). Bà (Đinh Thị Đại sinh năm 1892) được phong danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”. Nay gia đình Ông Chú ở tại nhà thờ Họ Vương thuộc ấp Hội Gia, xã Mỹ Phong, thuộc Khu II, thành phố Mỹ Tho. Chuyện đó cách nay cũng tròn 70 năm rồi.

Củ Chi, đầu đông – năm 2019

Lý Châu Hoàn
(Củ Chi – TP.HCM)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 578

Ý Kiến bạn đọc