Người tốt - Việc tốt

Ngày ấy Bác về Cổ Đô

Thời gian trôi nhanh quá, vừa như mới ngày nào thế mà đã 60 năm rồi. Ngày ấy làng Cổ Đô cũng như các làng quê khác của tỉnh Sơn Tây vừa hoàn thành cải cách ruộng đất. Không khí ở nông thôn đang ngày càng vui lên vì nông dân đã có ruộng cày, một mơ ước từ bao đời nay giờ đây đã thành sự thật. Song bên cạnh những niềm vui vẫn còn có bao điều trăn trở, trong sản xuất và đời sống còn vô vàn khó khăn. Thiên tai xảy ra liên tiếp, hết úng lại hạn, lại sâu rầy dịch bệnh… Cơ sở vật chất kỹ thuật hầu như chưa có gì đáng kể, chủ yếu là dùng sức người để chống đỡ với thiên tai.

Trong cuộc đấu tranh với thiên tai ngày ấy, Cổ Đô đã như là một điểm sáng. Khi gặp hạn hán, với khẩu hiệu “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa” nhân dân đã đào hàng chục cái giếng để lấy nước chống hạn. Bước vào vụ mùa năm 1958, nạn sâu keo phá mạ, rồi phá lúa thật khủng khiếp. Trước tình hình đó, được chi bộ Đảng lãnh đạo, thanh niên làm nòng cốt, đã động viên được mọi tầng lớp nhân dân tham gia diệt sâu; nhờ đó mà nạn sâu keo phá mạ, phá lúa bị đẩy lùi. Cùng với diệt sâu, Cổ Đô còn phải dành ra hàng trăm lao động để cùng với các xã bạn và quân đội củng cố hai đoạn đê xung yếu trong xã (đoạn ở bốt Kiều Mộc và đoạn ở làng Vu Chu).

So-510--Ngay-ay-Bac-ve-Co-Do---Anh-1
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Cổ Đô về việc bắt sâu bao vụ mùa 1958 (ảnh tư liệu).

Giữa lúc làng Cổ Đô và cả xã Tân Lập đang tập trung làm hai việc lớn nói trên, thì một cuộc họp đột xuất được tổ chức tại nhà thờ họ Phan của làng Cổ Đô. Tại cuộc họp này có các đồng chí thay mặt cho Huyện ủy Quảng Oai ngày đó về dự và truyền đạt ý kiến của cấp trên với nội dung: Được tin làng Cổ Đô có nhiều thành tích và kinh nghiệm diệt sâu cứu mạ, cứu lúa mùa và có thành tích tham gia đắp đê phòng lụt, các đồng chí cán bộ cấp cao – cán bộ của Trung ương sẽ về thăm và động viên phong trào. Các đồng chí ấy sẽ về thăm vào sáng ngày mai, tức 8/7/1958. Yêu cầu chi bộ Đảng và các ngành vận động nhân dân tham gia bắt sâu đông đảo như mọi ngày, nhưng cần tổ chức chặt chẽ, có dụng cụ đầy đủ; nên tập trung vào một cánh đồng gần đê để cán bộ cấp trên dễ xuống thăm và đỡ mất nhiều thì giờ đi lại của các đồng chí ấy… Được tin ấy, ai nấy đều phấn khởi vì thấy việc làm của Cổ Đô đã được cấp trên biết đến và cử người về thăm để động viên phong trào, thực tình lúc đó không ai nghĩ lại có Hồ Chủ tịch về thăm.

Theo hướng chỉ đạo của huyện, sau cuộc họp mọi công việc được các ngành, các đoàn thể triển khai khẩn trương. Ngay đêm hôm đó đã đi thông báo tới mọi nhà, mọi hội viên, động viên mọi người tham gia và chuẩn bị đầy đủ dụng cụ để diệt sâu…

Sáng 8/7/1958 là một ngày không thể nào quên, không khí trong làng nhộn nhịp hẳn lên; mọi gia đình đều dậy sớm hơn mọi ngày, từ mờ sáng các đoàn thể đã tập trung ở nơi qui định, mỗi đoàn thể đều đem theo một lá cờ để có thêm khí thế. Khoảng 6-7 giờ sáng, trên cánh đồng Miễu đã có cả mấy trăm người đủ mọi lứa tuổi. Mỗi đoàn thể được phân công ở một khu vực khác nhau. Trong lúc mọi người đang thi nhau bắt sâu thì thấy mấy chiếc xe con đang đi trên đê bỗng dừng lại gần ngôi đền Cẩm Sơn, liền sau đó có một số người bước xuống xe và đi về hướng cánh đồng Miễu. Nhân dân đang bắt sâu ở đây thấy vậy, ai cũng đoán đây là những cán bộ cấp trên về thăm nhân dân bắt sâu, nhưng các ông bà đó là ai thì làm sao mà biết được. Nhớ lời cán bộ căn dặn: Nếu có cấp trên về thăm mọi người vẫn phải chăm chỉ bắt sâu, ai ở đâu vẫn ở đấy không được xáo trộn đội ngũ, làm mất trật tự… Nhưng rồi khi đoàn cán bộ vừa đến cánh đồng Miễu mọi người đã nhận ra có Bác Hồ về thăm. Bác đi nhanh xuống mấy thửa mạ gần đó mà nhân dân đang bắt sâu, Bác cũng cúi xuống bắt từng con sâu, vuốt từng dảnh mạ. Thấy Bác xuống bắt sâu, mọi người bỗng dưng cùng reo lên: Bác Hồ, Bác Hồ, Bác Hồ muôn năm… Thế rồi như một sức hút kỳ lạ, mọi người chạy xô đến để được nhìn thấy Bác, không ít người đã chạy xuống cả những ruộng mạ để được trông thấy Bác gần hơn. Bác thấy số người kéo đến ngày càng đông, Bác sợ mọi người làm chết lúa, chết mạ, Bác liền bước nhanh lên một quả đồi gần đó, mọi người lại chạy theo Bác và vây quanh Bác. Bác nhìn mọi người với ánh mắt trìu mến, lấy tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống rồi Bác nói chuyện với nhân dân.

Cùng đi với Bác có các đồng chí lãnh đạo của Bộ Nông – Lâm nghiệp, các đồng chí lãnh đạo của tỉnh Sơn Tây, có đồng chí Hoàng Mạnh Phú là Bí thư Huyện ủy Quảng Oai và cả đồng chí Lê Thị Ước – Bí thư Chi bộ xã Tân Lập ngày đó… Bác nói chuyện với nhân dân bằng những lời lẽ ân cần, dễ hiểu như Cha nói với Con, như Ông, như Bác nói với các Cháu. Mở đầu Bác nói: Tôi muốn hỏi đồng bào có muốn no không? Mọi người đồng thanh thưa Bác có ạ. Bác lại hỏi: Con sâu lớn hơn người hay người lớn hơn sâu? Thưa Bác, người lớn hơn ạ. Bác lại hỏi thế người có diệt được sâu không? Mọi người lại đồng thanh thưa Bác có ạ… Sau khi Bác hỏi và người dân Cổ Đô đồng thanh trả lời mấy câu hỏi nói trên, Bác nở nụ cười và với ánh mắt rất vui. Bác khen và động viên người dân Cổ Đô đánh giặc giỏi và diệt giặc sâu cũng giỏi. Bác khuyên: Muốn ấm no không có cách nào khác là phải diệt sâu thắng lợi, phải sản xuất vụ mùa bội thu, và cuối cùng Bác nói: Để có đủ sức mạnh trong sản xuất và chống thiên tai phải lập tổ đổi công rồi tiến lên HTX – phải làm ăn tập thể. Bác lại hỏi: Đồng bào có làm được không? Mọi người lại đồng thanh thưa Bác làm được ạ.

So-510--Ngay-ay-Bac-ve-Co-Do---Anh-3
Bác Hồ về thăm Cổ Đô – 1958 (ảnh tư liệu).

Đồng bào trả lời xong Bác cười rất vui và chúc mọi người luôn có nhiều sức khỏe, chúc Cổ Đô chiến thắng giặc sâu và sản xuất vụ mùa thắng lợi. Nói xong Bác vẫy tay chào mọi người. Trên đường Bác ra xe, mọi người cứ nhìn theo Bác với ánh mắt đầy lưu luyến, nhiều người còn chạy theo tiễn Bác ra tận xe.

Sau khi Bác rời cánh đồng Miễu thăm nhân dân bắt sâu, Bác và đoàn cán bộ cấp trên lại đi thăm đê kè của huyện Quảng Oai và tỉnh Sơn Tây. Bác đã dừng chân ở một số đoạn đê xung yếu để động viên nhân dân và bộ đội đang đắp đê, trong đó có hai đoạn đê thuộc xã Tân Lập ngày đó (tức xã Cổ Đô ngày nay). Trong hai đoạn đê xung yếu đó, có đoạn đê nằm ở giữa bốt Kiều Mộc và đoạn đê xung yếu ở thôn Vu Chu, tại những nơi này, Bác đã nói chuyện và động viên mọi người. Bác căn dặn: Muốn thắng được giặc lụt phải lấy phòng là chính, phải đắp đê cho chắc và phải canh phòng cẩn thận…

Sau khi Bác rời Cổ Đô, mọi người có mặt hôm đó vẫn rất ngạc nhiên. Chuyện Bác về thăm nhân dân bắt sâu cứu lúa và thăm đê là có thật và bao người vừa được chứng kiến thế mà vẫn tưởng như mơ, bởi lẽ đó là một chuyện không ngờ – không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công ngàn việc mà lại dành thời gian về thăm nhân dân bắt sâu, xuống tận cánh đồng bắt từng con sâu, thăm từng đoạn đê xung yếu. Điều ngạc nhiên hơn là mọi người thấy Bác ăn mặc giản dị quá, mặc bộ quần áo mầu nâu, râu tóc bạc phơ, chân đi đôi dép cao su… trông Bác vừa như một ông Tiên, vừa như một lão nông thực thụ; lời nói, ánh mắt, nụ cười của Bác rất gần gũi với nhân dân. Kể từ hôm ấy câu chuyện Bác về thăm nhân dân bắt sâu và thăm đê cứ lan truyền mãi trong nhân dân. Những người được gặp Bác thì cảm thấy mình được may mắn, hạnh phúc; những người vì lý do nào đó không được gặp thì cảm thấy nuối tiếc, thiệt thòi. Chính từ sự động viên, khuyên bảo của Bác mà nhân dân Cổ Đô ngày đó đã nhanh chóng thắng được giặc sâu, mùa màng năm ấy bội thu và đã giữ được con đê an toàn. Cũng từ ngày ấy Cổ Đô đã nhanh chóng lập tổ đổi công và rồi thành lập các hợp tác xã…

Sau khi thăm nhân dân Cổ Đô diệt sâu cứu lúa, thăm nhân dân và bộ đội đắp đê phòng lụt, Bác đã đến thăm và nói chuyện với hội nghị cán bộ bàn về sản xuất vụ mùa năm 1958 tại hội trường Tỉnh ủy Sơn Tây. Trong bài nói chuyện của Bác tại hội nghị, Bác đã lưu ý Sơn Tây cần rút kinh nghiệm có một số nơi để vụ chiêm thất bát, Bác còn nói rõ những việc cần làm trong sản xuất vụ mùa. Bác khen ngợi và có phần thưởng cho 3 xã: Tiên Phong, Cổ Đông, Ba Trại, là những xã đã có gần 100% nông dân vào tổ đổi công. Cuối cùng Bác căn dặn: Mọi người phải có chí tiến thủ để tiến bộ mãi; phải đoàn kết giúp đỡ nhau và phải trao đổi kinh nghiệm cho nhau…

Thực hiện lời dạy của Bác, huyện Quảng Oai và cả tỉnh Sơn Tây đã liên tục có những phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và giữ đê an toàn. Đặc biệt đối với thôn Cổ Đô và cả xã Tân Lập (nay là xã Cổ Đô) đã không ngừng vượt qua khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước. Trong những năm đánh Mỹ và sau đánh Mỹ, Cổ Đô đã như một điểm sáng luôn dẫn đầu phong trào thi đua và nhận được nhiều phần thưởng cao quí của Đảng và Nhà nước trao tặng. Những năm gần đây tuy có nẩy sinh một số tồn tại thiếu sót, song vẫn là một trong những xã đi đầu xây dựng nông thôn mới. Cổ Đô đã có những cố gắng cả trong sản xuất nông nghiệp và bước đầu phát triển ngành nghề như: Duy trì và phát triển nghề nuôi cá lồng trên sông Hồng, phát triển kinh tế vườn, làm xuất khẩu may mặc, khôi phục và phát triển nghề làm bún – một nghề đã có thương hiệu nổi tiếng từ lâu. Đặc biệt Cổ Đô còn là một làng quê được gọi là làng họa, làng thơ. Riêng nghề họa đã có hàng trăm người cầm cọ vẽ, có tới 30 người đã là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và các tỉnh. Câu lạc bộ Mỹ thuật của làng hàng năm đều mở lớp dạy vẽ cho các cháu, đã có 2 bảo tàng tranh (bảo tàng tranh của làng và bảo tàng tranh của gia đình họa sĩ Sĩ Tốt), có hàng chục phòng tranh của các họa sĩ trong làng và họa sĩ Cổ Đô sinh sống ở nơi khác. Nhờ sản xuất phát triển mà đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện: Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 18,6 triệu đồng/năm 2011 lên 28,2 triệu đồng/năm 2017; số hộ nghèo từ 5.58%/2011 nay chỉ còn 2.99%. Trình độ văn hóa không ngừng được nâng cao, hầu hết số cháu đến tuổi đã được đi học. Trường phổ thông tiểu học và trường phổ thông trung học cơ sở luôn là trường xuất sắc của ngành giáo dục huyện Ba Vì và của Hà Nội.

Từ những nét đẹp về cảnh quan thiên nhiên, về đời sống kinh tế và văn hóa, đặc biệt là nét đẹp về nghề họa (làng họa sĩ)… mà Cổ Đô đang trở thành một điểm du lịch hấp dẫn của huyện Ba Vì và của TP. Hà Nội.

Nhìn lại những thành quả và sự khởi sắc ở Cổ Đô, nhân dân Cổ Đô vô cùng biết ơn sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Bác. Từng bước đi, từng lời dạy của Bác ngày nào vẫn như còn đọng mãi trong mỗi con tim của người dân Cổ Đô, nó đã thực sự trở thành động lực giúp cho người Cổ Đô vượt qua mọi khó khăn để vươn tới những gì là tốt đẹp nhất.

Để xứng đáng với sự quan tâm của Bác và để thể hiện lòng biết ơn Bác, nhân dân Cổ Đô đã tạo dựng được một ngôi đền thờ Bác tại nơi Bác đứng nói chuyện với nhân dân ngày ấy. Ngôi đền đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận và gắn biển là một di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 60 năm ngày Bác về Cổ Đô.

Phan Văn Đà
(Quận Cầu Giấy – TP. Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 510

Ý Kiến bạn đọc