Tản văn

Ngẩn ngơ chợ Làng

Không biết từ bao giờ, ngay con đường “sống trâu” đầu làng tôi có cái chợ. Vì thế, người ta gọi là chợ làng. Gọi chợ, nhưng chỉ có vài túp lều lèo tèo lợp rạ đã mục nát. Tuy vậy, với tôi, đứa trẻ lần đầu sơ tán về quê thì đó là một thiên đường bởi ở phố không có chợ đậm chất quê như thế. Hàng họ bán ở chợ là mớ nông sản, thực phẩm tự cung, tự cầu của người dân trong làng. Chợ họp vào sáng sớm (hay lúc chiều hôm), chỉ nhoáng cái là tan bởi người mua, kẻ bán đều tranh thủ vì còn ra đồng hoặc về nhà sau buổi làm đồng.

Nhớ lần đầu tiên đi chợ cùng mẹ, chị em tôi hào hứng chạy trước, gặp hàng gì cũng đứng lại ngắm. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn cô bé trạc tuổi mình, quần áo vá chằng đụp lấm lem bùn, nhưng miệng tươi như hoa rao bán mớ tép gạo tươi, bụng đầy trứng vừa cất vó về, đựng trong cái rấng tre xinh xắn đậy lá chuối bên trên. Tôi rất cảm phục cô bạn ấy vì bằng tuổi tôi mà bạn đã chịu vất vả kiếm tiền giúp bố mẹ. Mẹ tôi mua mớ tép ấy, rồi chúng tôi nhanh chóng quen nhau. Sau này thành bạn thân tôi mới biết, trẻ quê nào cũng sớm biết vun vén cho gia đình.

Hàng ở chợ có khi là mớ cá đồng thập cẩm: thòng đong, cá mương, cá diếc, rô don, mại… Sang hơn thì có mớ tôm rảo đồng nhảy lao xao. Mấy năm ở quê, tôi nghiện món tôm rảo rang đỏ au ăn với rau muống luộc chấm mắm cáy. Nhiều nhất là rau muống đỏ, rau cải, rau cần. Ngày ấy, trẻ con thỉnh thoảng được mẹ cho đi chợ thì hớn hở ra mặt bởi thế nào cũng được ăn quà.

Hinh-anh-phien-cho-lang-que-moi-som---Le-Xuan-Khoa
Hình ảnh phiên chợ làng quê mỗi sớm – Trích clip nhạc Tiếng nước tôi – Lê Xuân Khoa.

Những chiếc kẹo ớt xanh đỏ sặc sỡ còn dính những hạt đường kính to là thứ hấp dẫn chúng nhất. Phòng phành làm bằng bột nếp đủ hình thù các con vật ngộ nghĩnh với nhiều màu sắc rất đẹp là món quà vô cùng hấp dẫn.

Phong phú nhất là những thứ quả vườn người ta bòn mót trong vườn đem bán lấy tiền mua rau mắm. Quả vối chín sậm, đựng trong chiếc rổ nhỏ cùng chiếc chén “mắt trâu”. Ngon nhất là quả sắn. Chỉ 5 xu là được một chén đầy. Rồi quả mây gai chín vàng, ngon không kém quả sắn. Khi cái rét tháng 9 đến sớm, cây niễng mọc hoang thường được trồng bên góc ao, ngoài đầm nước bắt đầu khô lại, thân dưới phình to lên thành củ. Người ta bóc những chiếc lá niễng khô xác, lấy củ đem bán. Những củ niễng mập xanh hay tím ngắt được buộc thành chục. Bóc lớp bẹ xốp bên ngoài ra, củ niễng trắng nõn nà nhìn hấp dẫn. Củ niễng thường do trẻ trâu đi mò ở đầm về để cha mẹ đem bán góp tiền mua sách vở. Củ niễng non ăn sống ngon tuyệt vời. Còn nếu xào với hành mỡ thì ngon đáo để.

Chợ làng cũng có hàng ăn. Một chiếc lều rạ ở góc đường là hàng bán bún rốc đông khách nhất. Bún đựng trong bát chiết yêu, gạch vàng ươm rưới trên mặt bún trắng tinh nhìn đã “toát mồ hôi lưỡi”. Bát bún bốc khói nghi ngút ăn với rau muống sống thái “móng lợn” là thứ hàng xa xỉ ngày ấy. Trời rét, đang đói ngấu, tráng miệng cũng được vài bát. Đông khách nhất là hàng bánh đúc vì rẻ tiền. Bánh đổ thành khuôn trên mẹt lót chiếc vỉ cói. Tùy tiền mà cắt miếng to nhỏ. Nhiều nhà khó khăn quá nên dù đỗ đen chưa đến vụ thu hoạch cũng hái về, đem luộc, buộc thành bó bằng cổ tay đem bán lấy tiền lo mùa đói kém.

Hình ảnh bà bán hàng lê ghim có hàm răng hạt na đen bóng, thắt khăn mỏ quạ đọng mãi trong ký ức tôi. Mẹt hàng của bà có đủ kim chỉ, dây chun, diêm Thống Nhất, bật lửa, chỉ thêu, kim băng, móc câu, cặp tóc, bút chì, giấy thếp và ngòi bút “lá tre”… Giờ tôi vẫn không quên được niềm hạnh phúc tuổi thơ khi được mẹ mua cho chiếc cặp ba lá. Thương nhất là mấy cụ bà gầy guộc, khuôn mặt đầy vết chân chim sâu hoắm, ngồi bán mấy mớ rau răm hay mươi cái vỉ ruồi và mấy cái chổi lúa.

Ngay đầu chợ là cái lán làm lò rèn rộng mươi mét của một người đàn ông khuyết tật, sau này tôi mới biết bác là thương binh chống Mỹ. “Xưởng” của bác cung cấp những vật dụng gặt hái và sinh hoạt của bà con trong làng. Có hôm đi học về, chúng tôi túm tụm xem bác rèn những thanh sắt thành những chiếc liềm, hái, con dao, cái bừa. Đứa nào cũng thán phục đôi tay tài hoa của bác.

Chợ sầm uất nhất dịp đầu năm học. Để lo việc học hành của con cái, nhiều người bán cả đàn gà, đàn lợn đang lớn, con chó thân thương, thậm chí lưng thúng thóc… dù đang vào vụ giáp hạt tháng 8.

Khi nhà có khách hoặc con cháu nơi xa về, chợ làng thật tiện vì thoắng cái là đến chợ. Với gia đình khó khăn, mua chịu mớ tôm, con cá, cân thịt cũng dễ. Thật ấm cúng khi nghe âm thanh của sự bán mua, cả tiếng chào nhau vồn vã của người xóm trên làng dưới.

Bây giờ chợ quê quy mô, hàng hóa nội ngoại đủ cả, không kém chợ phố. Vì thế, cái chợ tự phát làng tôi không còn nữa. Thật hạnh phúc khi quê hương thay da đổi thịt. Nhưng mỗi khi về làng, đi qua nơi từng họp chợ, tôi vẫn nhớ đến ngẩn ngơ cái nét quê dân dã, đầm ấm tình người ấy!

Trịnh Thị Thuận
(Quận Hải An, TP. Hải Phòng)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 428

Ý Kiến bạn đọc