Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Ngã tư Công sự ở U Minh Thượng và mùa xuân 60 năm trước

 

Ngã tư Công Sự, một địa danh nghe hơi lạ tai, bởi “công sự” là một công trình được đào để trú ẩn, chiến đấu trong chiến tranh, như vậy hẳn nhiên nơi đây ắt là đã có một trận đánh nào đó, và đã có những cái công sự làm chứng tích cho trận đánh đó.

Đến nay, địa danh Ngã tư Công Sự đã tròn 60 tuổi, nhân đầu xuân Canh Tý 2020, chúng ta cùng nhau nhắc lại một sự kiện vào năm Canh Tý 1960 xưa ở vùng căn cứ địa cách mạng của miền Tây Nam bộ để gọi là thêm một chút tự hào về nhân dân ta, đất nước ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương.

Trên đường về U Minh Thượng hôm nay, sau khi qua hai cây cầu vượt sông Cái Bé và Cái Lớn, chúng ta đi dọc theo con kinh xáng Xẻo Rô đến Thứ Bảy rồi rẽ trái để về huyện U Minh Thượng, huyện Vĩnh Thuận. Từ ngã ba kinh xáng Xẻo Rô và con Kinh Làng ở Thứ Bảy, chúng ta đi theo con kinh Làng khoảng 20 cây số sẽ tới “Ngã tư Công Sự”, nơi đây bây giờ là thủ phủ của huyện U Minh Thượng.

Địa danh “Ngã tư Công Sự” chỉ mới hình thành từ sau năm 1960 bởi nơi đây đã diễn ra một trận chiến hết sức ác liệt giữa quân “quốc gia” và quân cách mạng vào mùa xuân năm Canh Tý (1960).

Nhắc lại, từ năm 1954, khi Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, khu vực phía Nam sông Cái Lớn bao trùm U Minh Thượng, U Minh Hạ là khu vực tập kết 200 ngày để quân đội cách mạng (Việt Minh và bộ đội Isarak – Kampuchia) tập trung chuyển quân ra Bắc. Sau khi Việt Minh bàn giao vùng tập kết này cho “quốc gia”, chính quyền Ngô Đình Diệm nhanh chóng thành lập “Đặc khu An Phước”, quận An Phước gồm các phân quận An Biên, Phước Long và Thới Bình thuộc “Phân khu Cà Mau Bắc”. Tổng hành dinh của đặc khu An Phước đặt tại nhà địa chủ Ban biện Phú gần chợ Vĩnh Thuận. Ngay sau khi thành lập, đặc khu An Phước cùng bộ máy tay sai của Ngô Đình Diệm ở vùng U Minh thẳng tay đàn áp, khủng bố đồng bào, chúng truy bắt, tra tấn, tù đày, thủ tiêu những người từng hoạt động Việt Minh không đi tập kết và những gia đình có người thân đi tập kết mà chúng cho là còn có tư tưởng “thân Việt Minh”. Hàng ngàn người đã bị chúng sát hại vùi thây trong “đám tràm Ban biện Phú”. Trong lúc đó, những cán bộ cách mạng còn ở lại để vận động nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước thì không được phép hoạt động võ trang nên sự thiệt hại của cách mạng và nhân dân của miền Nam nói chung, đặc biệt là ở vùng U Minh Thượng rất lớn, một bầu không khí u ám bao trùm cả vùng phía Nam sông Cái Lớn suốt trong những năm 1955 đến 1960.

Xuan2020--Anh-minh-hoa---Nga-tu-Cong-su-o-U-Minh-Thuong-va-mua-xuan-60-nam-truoc---Anh-1

Không thể để giặc tự do hoành hành, bắn giết đồng bào, Tỉnh ủy Rạch Giá (Kiên Giang ngày nay) đã vận động quân đội giáo phái Hòa Hảo chống lại sự áp bức của Mỹ – Diệm. Khi quân đội Hòa Hảo ra đầu hàng Ngô Đình Diệm, một bộ phận binh sĩ Hòa Hảo đã “ly khai”, thành lập các đơn vị “Giáo phái Hòa Hảo ly khai” với danh nghĩa trung đoàn Lê Quang Vinh với các tiểu đoàn Thanh Long, Ngô Sở, Thất Sơn và Đinh Tiên Hoàng hoạt động từ U Minh đến biên giới Hà Tiên – Kampuchia. Riêng địa bàn hoạt động của tiểu đoàn Ngô Sở chủ yếu ở U Minh. Các tiểu đoàn Hòa Hảo ly khai này chấp nhận sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Rạch Giá và được coi như là bộ đội cách mạng, được nhân dân Kiên Giang ủng hộ. Từ năm 1957 đến 1959, các tiểu đoàn này đã tích cực hoạt động, chủ yếu là diệt trừ những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân. Hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân đòi thi hành Hiệp định Genève.

Nhưng Mỹ – Diệm ngày càng lấn tới, nhất là khi Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, sát hại bất cứ người nào “nghi ngờ” có quan hệ với cộng sản. Ở U Minh, đặc khu An Phước đã bị giải tán, trung tâm tội ác của chúng dời về Xẻo Rô, quận lỵ của quận Kiên An, chúng thành lập chi khu quân sự Kiên An để đánh phá vùng U Minh Thượng.

Không thể để chi khu ác ôn này hoành hành, ngày 30-10-1959, tiểu đoàn Ngô Sở đã kỳ tập tiêu diệt chi khu Kiên An tại Xẻo Rô, giải thoát tù chính trị, diệt một số tên ác ôn khét tiếng.

Chiến thắng Xẻo Rô có thể được coi là một chiến công điển hình, một chiến công đầu tiên của lực lượng võ trang cách mạng tấn công qui mô tiêu diệt chi khu quân sự đầu tiên của toàn miền Nam.

Đầu năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm huy động dân công, ý đồ đào kinh, làm đường, xẻ rừng U Minh thành lập một khu dinh điền trong ruột rừng U Minh. Chúng dự định bằng cách đó sẽ khống chế cả khu căn cứ địa cách mạng, quân đội cách mạng sẽ không còn đất dung thân. Tỉnh trưởng Kiên Giang nhận định rằng: Việt cộng đã có quân đội, đã có thể tấn công vào cứ điểm quân sự Xẻo Rô thì cũng có thể gây khó khăn cho việc đào kinh. Chúng bèn xin quân chủ lực hỗ trợ cùng với quân bảo an của tỉnh đưa đến 300 quân, bộ chỉ huy đóng tại ngọn Xẻo Cạn bên bờ Kinh Làng, chúng đào công sự xung quanh để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bộ chỉ huy.

Thường trực Tỉnh ủy Rạch Giá ngồi lại đánh giá tình hình và quyết tâm phá kế hoạch đào kinh xẻ rừng của địch.

Cái Tết năm Canh Tý (1960) diễn ra như bao nhiêu cái Tết trước đó, nhưng Thường trực Tỉnh ủy và Ban chỉ huy tiểu đoàn Ngô Sở luôn suy nghĩ đến cái cứ điểm của địch đang nằm lọt thỏm trong rừng U Minh. Nó như cái gai trong mắt mọi người. Không nhổ nó đi, nó làm ung nhọt, nguy hiểm vô cùng. Đánh! Phải đánh và phải thắng, mà nhiệm vụ đó là của tiểu đoàn Ngô Sở.

Rằm tháng Giêng năm Canh Tý, trăng sáng vằng vặc, nhưng rừng U Minh vẫn đủ sức che để đại đội 202 của tiểu đoàn Ngô Sở tiến dần về mục tiêu mà kẻ thù không thể nào phát hiện được. Đây là một trận đánh lớn có tính chất quyết định, Tỉnh ủy còn cho đội phòng thủ của Tỉnh ủy, một số cán bộ của tỉnh và văn phòng Huyện ủy An Biên phối hợp trợ sức.

Theo tin báo chính xác, quân địch ở đây có 1 đại đội đủ, trong khi đó, đại đội 202 của Ngô Sở chỉ có trên 40 quân. Bộ chỉ huy của chúng đóng ở giữa, quân biệt động đóng dã ngoại phía bên ngoài.

Đêm càng về khuya, trăng càng sáng tỏ, bộ đội Ngô Sở tiếp cận mục tiêu. Rừng U Minh vào thời điểm này còn lấn gần Kinh Làng. Những họng súng của tiểu đoàn Ngô Sở đã hướng thẳng mục tiêu. Trăng càng sáng, giặc càng lơ là mất cảnh giác nên lính gác lơ mơ ngủ, tản bộ, dạo mát dưới trăng.

Một phát súng lệnh nổ lên, cùng lúc, mấy chục khẩu súng trường nổ vang với những bóng đen vọt lên xung phong, lựu đạn nổ ành… ành!!! cùng với tiếng súng áp đảo. Đại đội biệt động của Sài Gòn hoàn toàn bất ngờ, có đứa chưa kịp lấy súng, có đứa “theo ông, theo bà” ngay trong giấc ngủ.

Trận đánh diễn ra nhanh, gọn, bộ đội tiểu đoàn Ngô Sở thu được toàn bộ vũ khí. Những công sự mà bọn lính biệt động Sài Gòn đào chưa kịp phát huy tác dụng, chỉ còn lại trơ trẽn để sau này nhân dân vùng U Minh gọi ngã tư ngọn Xẻo Cạn là “Ngã tư Công Sự”.

Chiến thắng của tiểu đoàn Ngô Sở vào đầu xuân, rằm tháng giêng năm Canh Tý (20-2-1960) mở đầu cho một năm mà Lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh Rạch Giá tấn công mạnh mẽ vào quân thù, trấn áp bọn phản cách mạng, thực hiện nguyện vọng của nhân dân đánh tan quân xâm lược và bè lũ tay sai, tiến tới chính thức thành lập tiểu đoàn cơ động của tỉnh, tiểu đoàn U Minh 10, sau được đổi tên là tiểu đoàn 207, không còn phải mang danh nghĩa giáo phái ly khai.

Có thể nói, mùa xuân Canh Tý 1960 là mùa xuân mang lại nhiều niềm tin và hy vọng để quân dân Kiên Giang đi tiếp chặng đường 15 năm đánh đuổi quân xâm lược và bọn tay sai bán nước đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975.

Trương Thanh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM Xuân 2020

Ý Kiến bạn đọc