Tản văn

Ngã ba sông hạt nhỏ đắp bồi

Thầy là một ông Đồ xứ Nghệ, một xứ Nghệ ngày xưa Ví dặm lắng sâu đằm. Người ta gọi thầy là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà Ngôn ngữ học, Hán học, nhà thơ, nhà sấm lỡm nghịch đùa vui dí dỏm nhẹ nhàng. Thầy Nguyễn Hùng Vĩ, một tấm lòng quân tử, một giá trị bao dung trong mắt học trò.

Ngày ra Hà Nội học chữ, tôi ngược xuôi về miền Kinh Bắc, về với niềm khát khao cháy bỏng, cố gắng viết cho xong phần “Dấu ấn quan họ trong thơ Hoàng Cầm”. Tôi về làng Viêm Xá, gặp liền chị quan họ, nghe dăm ba khúc thức đắm say lưu luyến dùng dằng. Lần đầu tiên nghe nghệ nhân quan họ hát, tôi có ý niệm về một làn điệu dân ca sang trọng, nhưng chẳng biết lề lối, cội nguồn xuất phát từ đâu. Nghĩ ngược nghĩ xuôi chẳng phần nào ổn thỏa, thời gian lại trôi đi vô cùng oan uổng. Một ngày đầu đông, tôi đến Viện Văn học gặp thầy hướng dẫn Nguyễn Đăng Điệp. Tôi phàn nàn với thầy về phần gai góc ấy. Thầy nói tôi, bên Nhân văn có thầy Nguyễn Hùng Vĩ, một người “cực tài”, “Thầy Vĩ sẽ gợi ý cho ông”! Chiều mùa đông, tôi bắt xe ôm đến nhà thầy Vĩ. Tôi trình bày: “Em là học trò của thầy Nguyền Đăng Điệp và thầy Phan Huy Dũng. Trước đây thầy Chu Văn Sơn hướng dẫn luận văn thạc sĩ em”. Thầy Vĩ rất vui. Từ phút giây mở lòng và nụ cười có duyên ngày ấy, tôi có cơ may được làm học trò nhỏ của thầy.

Kể từ ngày đến đất Nhân văn, bao nhiêu sách tham khảo về quan họ thầy cho tôi mượn hết. Tôi biết được bao bài ca đắm say, ngọt ngào, tình tứ; bao khúc hát cất lên giọng thổ đồng mềm ngọt; bao lúng liếng ấm êm tình nghĩa xóm làng. Nghe câu dân ca bên mái hiên mưa phùn Hà Nội, ngày chia xa nhắc nhớ hãy quay về! Trong mắt tôi, thầy Vĩ là một người quân tử, một trí tuệ tinh anh đa phúc ấm, đa tình. Đó là sự am hiểu sâu sắc 4 món ăn chơi Cầm – Kỳ – Thi – Họa. Đó là niềm đắm say với thông điệp cổ vật, với hồn cốt ngày xưa cha ông gửi cho mình. Đó là mỗi lần hoa đào nở, người Việt về nguồn tìm hơi ấm, tìm giếng nước sân đình nâng niu gìn giữ, tìm xứ Bắc hương sen “Huyền Quang thịnh vãn Trần” (chữ dùng của GS. Trần Quốc Vượng).

So-521--Anh-minh-hoa---Nga-ba-song-hat-nho-dap-boi---Anh-1

Cứ thế, người trai làng xứ Nghệ tìm Thăng Long chút hồn thu thảo, vượt lên trên khối bê tông rất nặng, khô khốc im re chỉ có “mặt tiền”. “Tìm người giữa hội Lim”, tháng Giêng xưa, nhiều lần thầy về miền Kinh Bắc, trải nghiệm nương mình vào lối chơi quan họ, vào miếng trầu liền anh liền chị, vào ngã ba sông hạt nhỏ đắp bồi! Nhiều lúc, đứng bên một dòng sông, tôi thường nghĩ, có những dòng sông chảy suốt đời rất nhẹ, ngã ba sông con nước lượn quay về. Dù không thể về nguồn, nhưng cũng đủ cuộn lên những sắc màu rất lạ, tô điểm chân trời sức sống những mầm xanh! Mùa xuân, thầy Vĩ về với dòng sông quê hương và tiếng hát, về chào đãi mời nước mời trầu, hát đối đáp giao duyên và hát giã bạn rằng “Người ơi, người ở… đừng về”. Ở chặng nào thầy cũng rành rõ, tinh thông khiến liền anh chống gậy, liền chị nhai trầu, trai ô khăn xếp, gái nón ba tầm phục lăn! Có lần thầy nói với tôi về khúc thức quan họ, chỗ ra, chỗ vào, đưa đón buông bắt; về hợp âm “bồng bông, tung tàng, tang tình” (mô phỏng nhạc cụ trống, đàn và sáo nhị) giữ nhịp, lấy hơi lúc đêm khuya chơi cho khỏe, cho nồng!

Đi giữa mùa xuân Kinh Bắc, đến hẹn lại lên, có phải người trai làng xứ Nghệ đi tìm ánh mắt người con gái năm xưa e ấp sau nón lá ba tầm. Hay đi tìm giọng ca “vang, rền, nền, nẩy”; tìm nền nã giêng hai xua gió lạnh thổi hiên nhà. Bước chân trên thềm phù sa cổ, người trai làng xứ Nghệ thả hồn mình vào bảng màu khăn xếp, áo the mà trân trọng; ngẫm về tuổi mười tám đôi mươi xúng xính, dễ thương mà gìn giữ; gặp sắc khăn hoa Đào, yếm thắm, “vành nón mặt trời” mà nhẹ nhàng đánh thức cả mùa xuân. Có lần tôi hỏi, vì sao thầy tìm về với Quan họ?! Thầy mỉm cười và nhìn rất xa qua khoảng trời Mỹ Đình, Cầu Giấy… Khoảng trời cuối đông bầu trời đùng đục, qua tán lá bàng sắc đỏ và khẽ ngân lên khúc dân ca “Con nhện giăng mùng”. Tôi nhớ nhất đoạn này “Chữ nhớ thương a lính tình tang là tôi xếp để ớ ơ đôi í ba người ơi i hự lá hội hừ. Chữ nhớ thương a lính tình tang là em xếp để í ơ ơ dạ à này”. Có lẽ, chọn cho mình một vùng văn hóa không phải là chuyện khó, nhưng chọn chữ “nhớ thương khắc dạ” và tình cảm bạn bè lúng liếng, nương nhờ vào cái Đẹp, cái Duyên nhà Phật, vào tình nghĩa thủy chung bậc nhất ở trên đời thật khó lắm thay!

Tôi ra Hà Nội học, ở trọ nhà thằng bạn, lang thang hết khu Thanh Xuân Nam lại lên Thanh Xuân Bắc. Chỗ tôi ở trọ gần Nhân văn nên hay lui tới nhà thầy. Thầy rất dân dã nên mỗi lần từ miền Nam ra, tôi thường rủ thầy đi ăn phở, vì phở là đặc sản của Hà Nội, cũng là món tôi thích. Thầy đưa tôi đi thưởng thức món ngon trong con đường lòng vòng khu Mễ Trì, Cao Xà Lá, ghé phở cóc, quán cóc kẹo lạc, chè tàu và thuốc lá thuốc lào gần sinh viên, bà con cô bác. Thầy nói về cái hay của con ngõ nhỏ, về hơi ấm câu thơ cuộn khói thuốc lào. Thầy kể cho tôi nghe về người mẹ hiền xứ Nghệ, về đồi Lát hoa vượt quá mồm bò, về những mùa đông tóc dài chẳng cắt. Chuyện nhà giáo nhà nghèo lương eo, áo hẹp, mỗi năm cắn răng cắt tóc hai lần. Cắt tóc ở quán quen, tay thợ cạo nhìn thầy buông lời thất vọng rằng: “Ai cũng như bác thì chúng cháu chết đói!”. Thầy chỉ cười khì. Để tóc với thầy không phải kiểu học đòi, cũng chẳng phải thú chơi chăm chuốt gì, mà để cho ấm, giữ mình giữa cái lạnh đông sang ngập cả phố phường. Cũng có khi, ông đồ Nghệ ấy say với vốn văn hóa cổ, với hò khoan Lệ Thủy, Ví Dặm sông Lam và Quan họ sông Thương, sông Đuống, sông Cầu mà quên luôn chuyện tóc tai nhan sắc…

Tôi nhớ ngày giáo sư Nguyễn Tài Cẩn qua đời, thầy Vĩ xúc động cầm bút viết bài “Những điều thầy đã dạy con”. Năm điều thầy Cẩn dạy về lẽ sống ở đời: làm người tử tế, làm khoa học, làm thầy Đại học, làm nghệ sĩ và làm hơi ấm ca dao. Những lúc mưu sinh chật vật giữa quê người đất khách, tôi thường nghĩ về lời dạy của thầy Cẩn, nghĩ về lời động viên khích lệ cậu học trò nhỏ, lại thấy một bức vẽ ngôn từ đẹp đẽ biết bao nhiêu! Đêm thao thức, tôi mơ về cây tre, chồi măng của dải đất miền Trung, mơ dáng đứng hiên ngang nghĩa mẹ ơn thầy.

Hà Nội sấm vỉa hè, bao câu chuyện vui tươi trở thành giai thoại. Câu sấm nào hay hay mà kẻ sĩ Bắc Hà làm ra, người ta hay nghĩ đến hoặc vu cho thầy Nguyễn Hùng Vĩ. Nào là sự kiện tách trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành hai trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: “Bây giờ chia cắt đôi ta/ Vui thì vui thật nhưng mà lăn tăn/ Tự nhiên thì mất Nhân văn/ Nhân văn mất m.. cái phần tự nhiên”, nào là “Hoan hô ông Đào Trọng Thi/ Đã làm giám đốc lại ra đ… đường”. Nào là chuyện thời bao cấp, Tết đến, Xuân về ông hiệu trưởng chỉ cho tấm vải may áo “Bây giờ Mận mới hỏi Đào/ Mận có áo rồi Đào có quần chưa?/ Mận hỏi thì Đào xin thưa/ Nhà trường cho áo nhưng chưa có quần”. Thật vui, thật thông minh, dí dỏm! Ông hiệu trưởng nghe xong, phì cười và duyệt luôn kinh phí cho mỗi người thêm một tấm vải may quần. Tết đến cả làng cùng vui. Nào là chuyện thầy nọ, thầy kia vợ nghiêm khắc đúng giờ vui lắm! Một thế giới thầy cô bằng hữu Nhân văn sáng trong, khuôn thước, nhẹ nhõm say mê trên bục giảng trồng người. Có phải đây là một mảnh đất tin yêu, trào tiếu nhẹ nhàng, giải thiêng một chút, mạnh mẽ muôn phần và dấn thân có ích.

Ngày tôi bảo vệ luận án, Hà Nội vào đợt nắng nóng cao điểm, thầy Vĩ lên hội trường cổ vũ tôi từ mờ sáng. Tôi chỉ kịp chào thầy và tập trung cho bài thuyết trình nhiều nội dung, toát mồ hôi hột. Khi công bố kết quả, luận án được Hội đồng thương tình chấm cho 7/7 phiếu xuất sắc. Thầy bắt tay chúc mừng với nụ cười dí dỏm “Xong rồi!”. Giữa cái se lạnh cửa phòng và cái nóng hừng hực phía hành lang giao tranh, tôi cảm nhận được bàn tay người thầy êm mát. Bàn tay người thầy bắc nhịp cầu câu dân ca Quan họ, mỗi chữ sang sông một kỷ niệm riêng mình. Tạm biệt thầy, tôi về miền Nam dạy học, cứ mỗi độ thu sang lại nhớ khoảng trời ngoài ấy, nhớ bước chân gõ gạch thềm quán cóc, buổi tinh mơ rực rỡ nắng vàng. Nhớ ông Đồ Nghệ và con sông Hồng mùa hoa cải, ngã ba sông hạt nhỏ đắp bồi.

Lương Minh Chung
(Trung tâm Đào tạo Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 521

Ý Kiến bạn đọc