Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Nếm thử “quà cho con”

Thực sự ban đầu tôi rất phân vân trước ý định viết bài này. Bởi lẽ bây giờ các tác giả Việt Nam viết cho thiếu nhi không nhiều, thơ cho thiếu nhi lại càng hiếm, thơ dạy kỹ năng sống lại càng càng hiếm hơn nữa. Chúng ta đang ở trong thời đại mà bố mẹ luôn trăn trở làm thế nào để dạy tốt kỹ năng sống cho con, thì có tập thơ dạy kỹ năng sống như “Quà cho con” của tác giả Nguyễn Huy Hoàng (NXB Hội Nhà văn, quý II, 2016) là quý quá chứ! Thế nhưng, đọc lại “Quà cho con” lần 2 rồi lần 3, tôi tự thấy mình không thể không lên tiếng. Lên tiếng với trách nhiệm của một người mẹ có con nhỏ cũng ham đọc và cũng đang học kỹ năng sống. Lên tiếng với trách nhiệm của một người cầm bút.

Tôi không “chơi phây-búc” nên không biết đến một tác giả thơ Nguyễn Huy Hoàng trên “phây-búc”. Khi “Quà cho con” ra đời thì thấy rằng đây là một tác giả khá mới. Tìm hiểu thêm thì biết anh là thành viên sáng lập CLB Thơ Bút Tre. Tôi quan tâm đến khía cạnh này bởi vì “phong cách Bút Tre” trong “Quà cho con” là khá đậm. Mở đầu tập thơ, phần lời giới thiệu đã có nhiều ý kiến khen của những nhân vật tương đối nổi tiếng (đương nhiên có cả những nhà văn, nhà thơ). Hết thảy đều tâm đắc về cái hay, cái đẹp, cái độc đáo và ý nghĩa của tập thơ. Nhưng đọc tới đọc lui, tôi thấy nổi cộm hai điều: thứ nhất, “Quà cho con” không phải là thơ. Và thứ hai, một số bài học kỹ năng sống trong “Quà cho con” cũng cần xem xét lại một cách thực sự nghiêm túc.

Bia-sach-Qua-cho-con

Thứ nhất, nói về thơ: Gọi đây là một tập thơ có vẻ hơi hài hước. Dù cho giáo sư Văn Như Cương có gọi đây là “những câu thơ giản dị nhưng thấm thía” (bìa 3 của sách) hay tác giả có tự nhận là “100 bài thơ mộc mạc” thì chất thơ vẫn cứ “đi đâu mất” cho dù đọc kỹ đến mấy. Những “bài thơ” cố gắng ép vần dẫn đến sự lủng củng, dài dòng trong diễn đạt, không hiểu sao lại được ca ngợi đến thế? Cả tập thơ không mấy bài không có những từ lòng thòng của văn nói bí từ như: thật là, ấy thì, rất là, nhưng mà, thế thì, rất chi là, nhiều lắm cơ, chớ có mà, là vì… Đọc lên thấy rõ tác giả loay hoay đánh vật với mớ chữ nghĩa cứng đầu để cố gắng diễn đạt ý mình mà phần thất bại nhiều hơn thành công. Thơ là thế này sao:

Mình làm phiền, hại người ta
Thì mau xin lỗi chớ mà phân vân
(Xin lỗi – trang 5)

(cái chữ “chớ mà” ở đây chẳng qua để ép vần cho có vẻ lục bát thôi)

Tĩnh tâm, cẩn thận, kiên trì
Tập trung cao độ ấy thì thành công.
(Luyện chữ cho đẹp – trang 14)

Có thể thấy mức độ bí từ của tác giả khi thống kê: tất cả những chữ dớ dẩn đưa vào “thơ” đều nằm ở chữ thứ 6 của câu lục hoặc câu bát trong thơ lục bát hoặc chữ cuối cùng của các thể thơ khác. Đơn giản là gò cho nó đúng vần. Thêm một vài ví dụ:

Ta thường mạnh bạo ở nhà
Ra ngoài xã hội rất là co ro.
(Tự tin – trang 31)

Giao thông gắn với đời ta
Tham gia thì phải rất là tập trung.
(An toàn giao thông – trang 86)

Nhiều kẻ lợi dụng người già
Lừa phỉnh em nhỏ rất là tinh vi.
(Đừng vội tin người – trang 107)

Điều hòa, quạt máy, ti vi
Tất cả chạy được là vì điện năng.
(An toàn, tiết kiệm điện – trang 141)

Không nên gọi điện trong khi
Dùng cơm hoặc đúng vào thì nghỉ ngơi.
(Lịch sự khi dùng điện thoại – trang 65)

Cái sự ép vần còn “thảm họa” hơn ở bài “Yêu làng quê”. Những vần bị cưỡng bức đứng cạnh nhau kêu xủng xoảng làm rối tung ngôn từ:

Có người bảo ở làng quê nghèo lắm
Nếu nhiều tiền cũng chẳng biết mua sắm ở đâu
Cứ đêm về là tiếng chó sủa gâu gâu
Từng đàn muỗi vo ve chực bâu vào má

Có người bảo làng quê có chi là lạ
Chỉ thấy trâu bò rơm rạ quanh năm
Con lợn ủn ỉn ăn no lại vào nằm
Con gà gáy te te gọi bạn bên bãi rau răm.
(trang 82)

Hay trong bài “Chọn trường đại học”:

Đừng quá lo gia đình
Chính phủ sẽ giúp mình
Một khi có chí khí
Sợ gì tiền học phí.
(trang 129)

Ép vần đã vậy, trong “Quà cho con” còn không hiếm những câu tối nghĩa, sai nghĩa, không đúng với thực tế cuộc sống. Nhiều câu tác giả bỏ lửng khiến người đọc không hiểu ý định của người viết là gì? Dạy các cháu nhỏ về lòng biết ơn, tác giả viết:

Bắt đầu từ tấm lòng thành
Biết ơn cuộc sống đã dành cho ta
Khắc ghi nghĩa mẹ, công cha
Ơn thầy dạy dỗ giúp ta nên người.
(Biết ơn – trang 23)

“Biết ơn cuộc sống đã dành cho ta”, nhưng dành cái gì cho ta thì không thấy nói tiếp. Lấp lửng như thế người lớn còn chịu, huống hồ trẻ nhỏ.

Dạy trẻ em tuân thủ kỷ luật, ông Huy Hoàng định nghĩa kỷ luật rất vui, khiến người đọc không khỏi bật cười:

Kỷ luật như một cái thùng
Giữ nước không để chảy tung ra ngoài
Và giống như cái đê quai
Giữ cho ruộng lúa, nương khoai an toàn.
(Kỷ luật – trang 27)

Còn đây là bài học về lòng dũng cảm:

Dũng cảm không phải làm liều
Càng không phải cố làm điều xấu xa
Dũng cảm là quyết vượt qua
Làm điều tốt đẹp dù là khó khăn.
(Dũng cảm – trang 36)

Nói “dũng cảm là quyết vượt qua”, nhưng chẳng rõ vượt qua cái gì thì trẻ con làm sao mà học được? Chẳng lẽ vượt qua đèn đỏ giao thông, là người dũng cảm?!

Rồi đây nữa:

Người thân mà rất lâu sau
Gặp lại thì phải chào nhau kỹ càng.
(Lịch sự khi chào – trang 57)

Chẳng hiểu “chào nhau kỹ càng” là chào cái kiểu gì nữa!

Những câu (gọi là) thơ tối nghĩa đầy rẫy trong tập thơ. Đọc đi đọc lại cũng không rõ người viết định diễn đạt điều gì? Nói về việc phải tranh thủ cơ hội, tác giả viết:

Cơ hội không thích lề mề
Phải chớp lấy nó mang về triển khai
Cơ hội không loại trừ ai
Cho nên chắc chắn không ngoài chúng ta.

Đố ai học được cái “kỹ năng sống” gì ở đây!

Thưởng thức nghệ thuật thì được nâng cao thế này:

Nghệ thuật kia là di sản trên đời
Phải thưởng thức cho ấm nơi ngực trái.
(Thưởng thức nghệ thuật)

Thật là ngô nghê và bí từ!

Vẫn trong bài đó, tác giả viết:

Nếu cuộc sống thiếu nhạc, phim, hội họa
Không văn thơ, ca múa với văn chương.

Thế “văn thơ” không phải là “văn chương” thì là cái gì mà phải lặp đi lặp lại?

Nói về chất thơ đã vậy, về kỹ năng sống của tập sách “Quà cho con” cũng có nhiều điều không ổn. Những điều tác giả đúc kết để dạy dỗ con trẻ lắm khi rất phản giáo dục. Ví dụ, khi khuyên các cháu luôn phải vui cười hài hước, tác giả viết:

Đừng dại mà sống khép mình
Tự kiêu, tự kỷ, gia đình lo âu.
(Vui cười, hài hước – trang 49)

Tự kỷ là một chứng bệnh chứ không phải ý thức sống. Cả thế giới hiện nay đang kêu gọi cần cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ, không phân biệt đối xử, không kỳ thị với trẻ tự kỷ. Vậy mà tác giả Nguyễn Huy Hoàng lại dạy các cháu đừng dại mà sống tự kỷ, vô tình đã khiến trẻ coi tự kỷ là điều xấu xa, nguy hại, đào sâu thêm sự ngăn cách với trẻ tự kỷ.

Dạy trẻ em cách vượt qua khó khăn, Nguyễn Huy Hoàng khẳng định:

Tự tin để giữ thăng bằng
Việc lớn thì cũng cho rằng bé thôi.
(Vượt qua khó khăn – trang 102)

Nếu cứ việc lớn lại cho rằng bé thôi, thì chúng ta sẽ rèn luyện được một thế hệ trẻ bất cần!

Tác giả dạy trẻ yêu cái đẹp:

Thứ nhất đẹp bởi ngoại hình
Thứ nhì đẹp bởi tính tình vui tươi
Thứ ba đẹp bởi nụ cười
Thứ tư đẹp bởi con người có tâm
Thứ năm đẹp bởi có tầm
Thứ sáu đẹp ở uyên thâm nhiều điều
Thứ bảy đẹp ở lắm chiêu
Thứ tám đẹp bởi tiền tiêu đủ đầy.
(Yêu cái đẹp)

Sáu cái đẹp đầu thì không phải bàn. Nhưng cái đẹp thứ bảy, thứ tám thì không thể chấp nhận nổi. Sao đẹp lại là “lắm chiêu”? Sao đẹp lại “bởi tiền tiêu đủ đầy”? Nghĩa là những người nghèo khó là những người xấu xa hết. Nhồi nhét vào đầu con trẻ điều này có nên không? Có phải là kỹ năng sống hay không?
Còn đây là lời khuyên nhường nhịn:

Nhường để giải tỏa chiến tranh
Nhịn để mang lại màu xanh hòa bình.
(Nhường nhịn – trang 45)

Xin thưa, nếu giải tỏa chiến tranh bằng cách nhường nhịn thì chỉ có con đường bán nước!

“Sạn” trong tập “Quà cho con” còn nhiều, phải nhặt lâu nữa mới hết. Nhưng nhặt hết sạn thì cũng gần hết luôn tập sách. Vì vậy, thiết nghĩ các nhà phê bình cẩn trọng hơn trong mọi động thái khen chê, nhất là với một tập sách dạy kỹ năng sống cho trẻ em. Bởi vì, những người công khai lên các phương tiện thông tin truyền thông để tuyên truyền cho một ấn phẩm dành cho thiếu nhi chính là những người thay bố mẹ, ông bà các cháu định hướng cho các cháu nên đọc cái gì. Định hướng sai cho trẻ thì nguy hại lắm!

7-2016

Việt Nga
(Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 415

Ý Kiến bạn đọc