Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Napalm dành cho trẻ em

Tháng 4, tháng của Đại thắng mùa Xuân và cũng là tháng của những ngụy biện vong bản. Hãy đọc, và khi hiểu những lời rời rạc lặp lại trên nhiều bài viết của người cựu binh Mỹ này, Mike Hastie, đăng trên Counterpunch, bạn sẽ cảm nhận được nỗi ám ảnh kinh hoàng không dứt của ông, cũng như hàng vạn cựu binh Mỹ khác, mà các nhà nghiên cứu đã dùng thuật ngữ “Hội chứng Việt Nam” để mô tả.

Sau đây là nội dung bài viết.

Bom nổ. Giết người có chủ đích, thường dân Việt Nam, Campuchia, và thường dân Lào. Chúng ta không đưa đối phương đến với hòa bình bằng cách chỉ tấn công các chiến binh. Chúng ta muốn đưa kẻ thù đến bàn đàm phán hòa bình bằng cách giết chết thường dân vô tội. TẠI SAO? Bởi vì, họ bị coi là mục tiêu quân sự. Mục tiêu chính của kẻ xâm lược Hoa Kỳ là phá vỡ ý chí của người dân, và khả năng bảo vệ quê hương của họ. Chiến lược này là điều rất cũ, như chính chiến tranh.

Thủy quân lục chiến được đào tạo cơ bản để làm quen trong Chiến tranh Việt Nam: Napalm – Dành cho trẻ em. Chúng tôi bắn những người bệnh, trẻ em, những người què, chúng tôi cố gắng làm tốt nhất công việc được giao của mình…, giết tất cả, đơn giản đều giống nhau là giết, Napalm dành cho trẻ em. Napalm là rất nhiều niềm vui, nó được tạo ra từ một quả bom hoặc bắn từ súng phun lửa, nó bùng cháy trên thân thể các gooks (từ miệt thị, ý nói mọi rợ, như người da trắng dùng để gọi thổ dân da đỏ) khi chạy…

So-494--Napalm-danh-cho-tre-em

Napalm dành cho trẻ em. Thả napalm vào một nông trại, không vấn đề gì, chỉ cần đốt cháy những cẳng chân và cánh tay con người, Napalm dành cho trẻ em. Những đứa trẻ đang bú mẹ, bị thương nằm trong một cái hố, không hề biết điều gì đang xảy ra, Napalm dành cho trẻ em… Hàng triệu người Mỹ theo dõi phim tài liệu của Burns/Novick về Chiến tranh Việt Nam đã không nhận ra những nội dung bệnh lý sâu sắc của sự dối trá, trong kết luận kinh khủng của nó về cái chết của hàng triệu người ở Đông Nam Á. Bởi vì, họ không nhìn thấy cái chết, đặc biệt là những xác trẻ em khi chúng bị xâu thành một chuỗi như để chuẩn bị treo lên dây phơi quần áo… Họ không nhìn thấy thực tế chiến tranh với tất cả các bản năng man rợ của con người. Họ không nhìn thấy sự kinh hoàng của những con người trước khi bị chôn vùi. Các giác quan của họ không cảm nhận được sự thật kinh hoàng ở những điểm tham quan chứng tích chiến tranh, trái ngược hoàn toàn với các nội dung tuyên truyền đã bị tẩy xóa.

Bất cứ khi nào mà sự thật đe dọa đến hệ thống niềm tin cốt lõi của con người, sẽ có một nhu cầu cấp bách để người ta từ chối sự thật đó. Nó không chỉ là cái chết của những trẻ em cụ thể mà tôi quan tâm, mà nó là điều hiển hiện hàng ngày trong tâm trí của những người Mỹ đang cố giả vờ rằng nó không tồn tại. Chỉ người lớn mới có thể ngăn ngừa được điều này, bởi vì trẻ em không thể hiểu được những gì đang tới với chúng. Như Kurt Vonnegut Jr đã từng viết: “Trong chiến tranh Việt Nam, mọi nghệ sĩ đáng kính ở đất nước Hoa Kỳ đều chống lại chiến tranh. Tất cả chúng tôi đều nhìn về cùng một hướng. Nếu bạn không thể hiểu được cái chết của vô số trẻ em trong chiến tranh, thì sau đó sẽ không có những người lớn để cứu vớt người vô tội nữa”.

Bộ phim tài liệu dài 18 giờ của Burns/Novick là nhằm mục đích đó, nó không hề đúng với những lời giới thiệu của họ trong tập 1, rằng Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ đức tin tốt đẹp của những người tốt nhưng gặp phải những hiểu lầm định mệnh, do sự tự tin thái quá của người Mỹ và những tính toán sai lầm của chiến tranh lạnh… Xin hãy thứ lỗi cho tôi, bây giờ tôi đã biết tại sao nhiều cựu chiến binh Việt Nam (cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam) lại tự sát, nhiều hơn cả số bị giết tại Việt Nam.

Tôi xin trích lời trong sách “Giết tất cả những gì động đậy – Kill Anything That Moves” của Nick Turse: “Các tỉnh ven biển đông dân cư như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, cũng như vùng “Tam giác Sắt” gần Sài Gòn, nằm trong số những khu vực bị bom đạn nặng nề nhất. Trận đánh khó khăn nhất là ở Quảng Trị, tỉnh cực bắc của miền Nam Việt Nam. Vùng thủ phủ của tỉnh, hứng chịu 3.000 quả bom trên mỗi kilômét vuông, là khu vực bị tàn phá nặng nề nhất của Việt Nam. Chỉ có 11 trong số 3.500 ngôi làng của tỉnh là không bị tàn phá trong chiến tranh”.

Nick Turse viết tiếp trong cuốn sách: “400.000 tấn Napalm đã được rải xuống Đông Nam Á. Vào tháng 7/1965, khi lính bộ binh Mỹ bước vào một ngôi làng ở tỉnh Quảng Ngãi, họ đã phải đối mặt với mùi hôi của những xác người bị thiêu cháy và tiếng than khóc của phụ nữ. Lời giải thích rất đơn giản: một căn cứ của quân đội miền Nam Việt Nam đã bị tấn công, và không quân đã được gọi đến để giải quyết vấn đề. “Khi chúng tôi có một nhiệm vụ như vậy, chúng tôi sẽ hủy diệt toàn bộ khu vực để cố gắng cứu vãn tình hình. Chúng tôi thường giết nhiều phụ nữ và trẻ em hơn là giết những người lính Việt Cộng, nhưng vì quân đội của chính phủ không có khả năng làm sạch các làng, vì vậy đây là phương pháp giải quyết duy nhất” – một viên sĩ quan Không quân Hoa Kỳ đã thản nhiên trả lời như vậy”.

Đầu những năm 1970, khi tôi đến Việt Nam, nhiều năm trước khi chiến tranh chấm dứt, cảnh quan Nam Việt Nam đã bị bao phủ bởi 21 triệu hố bom. Giết bất cứ thứ gì động đậy. Chúng tôi bắn những người bệnh, trẻ em, những người què, chúng tôi cố gắng làm tốt nhất công việc được giao của mình…, giết tất cả, đều chỉ giống nhau là giết, Napalm dành cho trẻ em… 

(Mike Hastie, bác sỹ quân y Mỹ trong chiến tranh Việt Nam)

Ngô Mạnh Hùng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 494

Ý Kiến bạn đọc