Trong nước

KỶ NIỆM 75 NĂM NAM KỲ KHỞI NGHĨA (23-11-1940 – 23-11-2015)
Nam Kỳ Khởi Nghĩa 75 năm ôn lại

Tháng 7-1940, Hội nghị Xứ ủy Nam kỳ mở rộng họp tại làng Tân Hương – Mỹ Tho chủ trương khởi nghĩa, thành lập Ban quân sự các cấp, bầu đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư Xứ ủy (thay đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt). Đồng chí Phan Đăng Lưu được tập thể cử ra Bắc xin chỉ thị của Trung ương về chủ trương khởi nghĩa.

Ngày 3-9-1940, phát xít Nhật vượt biên giới Việt – Trung đánh chiếm Lạng Sơn, mở đầu cuộc chiếm đóng Việt Nam và toàn cõi Đông Dương với chủ thuyết Đại Đông Á.
Ngày 27-9-1940, nổ ra khởi nghĩa Bắc Sơn.

Cuối tháng 9-1940, đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy Nam kỳ biết được tin cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, triệu tập Hội nghị Xứ ủy mở rộng tại làng Xuân Thới Đông – Hóc Môn. Hội nghị nhận định: quân Pháp đã đầu hàng quân Nhật, quân Nhật mới vào chưa đặt chân vững. Miền Bắc đã khởi nghĩa. Đây là cơ hội thuận lợi, Nam kỳ khởi nghĩa phối hợp, không để Bắc kỳ đơn độc. Hội nghị chủ trương củng cố Đảng, tăng cường cán bộ cho các nơi xung yếu như Sài Gòn, Chợ Lớn, phân công các đồng chí phụ trách lãnh đạo khởi nghĩa ở Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh.

Nam_ky_khoi_nghia
Đoàn Thanh niên phong trào Nam kỳ khởi nghĩa (11-1940).

Công tác chuẩn bị rất khẩn trương, các địa phương đều quán triệt tinh thần quyết tâm cao trong đảng viên, quần chúng cốt cán. Mọi người rạo rực, náo nức chờ lệnh của trên…

Ngày 20-10-1940, Thường vụ Xứ ủy Nam kỳ phát lệnh khởi nghĩa vào đêm 22 rạng sáng 23-11-1940. Hiệu lệnh từ tiếng súng đại bác ở thành Ô-Ma, nơi có cơ sở cách mạng trong lính người Việt.

Trưa 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu dự Hội nghị Trung ương lần thứ VII họp ở Đình Bảng, Bắc Ninh mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghĩa Nam kỳ về tới Sài Gòn. Nhưng lệnh khởi nghĩa đã xuống tới cơ sở, không thu lại được. Cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra khắp các tỉnh Nam kỳ.

Nhưng vì chủ trương khởi nghĩa bị lộ, đồng chí Tạ Uyên, đồng chí Phan Đăng Lưu và nhiều đồng chí của Đảng bị bắt. Quân Pháp đủ thì giờ đối phó.

Kế hoạch khởi nghĩa đêm 22 rạng 23-11-1940 không tiến hành được như ban đầu của Xứ ủy Nam kỳ. Binh lính thành Ô-Ma bị tước vũ khí, cơ sở mật bị bắt, địch nhốt lính trong trại, không có tiếng súng nổ từ nội thành Sài Gòn vào giờ qui định.

Ở các tỉnh và vùng phụ cận thành phố đã diễn ra các cuộc khởi nghĩa mạnh như: Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc, Bến Tre, Sa Đéc, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tại Gia Định, lực lượng khởi nghĩa quận Gò Vấp đồng loạt tấn công các đồn Lăng Cha Cả, Bình Thới, Vườn Tiêu (Tân Sơn Nhất), chiếm đồn Ngã Năm Vĩnh Lộc. Quần chúng các làng nổi trống mỏ trong đó có tiếng mỏ Nam Lân (Bà Điểm) nổi lên khắp nơi, nhiều người với khí thế sôi sục kéo đến, lính giữ đồn một số nơi run sợ phải rút chạy.

khoi-nghia-Nam-ky
Đêm 22 rạng sáng ngày 23/11/1940, cả Nam kỳ rung chuyển dưới sức nổi dậy của quần chúng cách mạng.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở 20/21 tỉnh, thành phố ở Nam kỳ, kéo dài từ đêm 22 rạng sáng 23/11
đến ngày 31/12/1940,
mạnh nhất là ở Gia Ðịnh, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long.

Ở Hóc Môn, Ban khởi nghĩa quận do đồng chí Phạm Văn Sáng, Bí thư Quận ủy lãnh đạo, trọng tâm đánh chiếm quận lỵ Hóc Môn. Ba trong bốn cánh quân: Tổng Long Tuy Hạ do đồng chí Đặng Công Bỉnh chỉ huy, cánh quân Tổng Bình Thạnh Trung do đồng chí Nguyễn Văn Cội chỉ huy và cánh Tổng Long Tuy Thượng về tụ tập quanh quận lỵ chờ lệnh. Cánh quân Long Tuy Trung ở xa về không kịp nên trở về khởi nghĩa ở làng. Chỉ huy là đồng chí Đỗ Văn Dậy lấy xe đạp về quận kịp tham gia với các cánh quân nói trên.

Quá 0 giờ ngày 22-11-1940, vẫn chưa nghe thấy súng lệnh từ nội thành. Không thể chờ đợi lâu hơn, lúc 1 giờ 30, Ban khởi nghĩa hạ lệnh nổ súng. Rất nhanh chóng nghĩa quân tiến chiếm nhà việc, dinh quận. Tên quận trưởng Bùi Ngọc Thọ và binh lính phải rút lên lầu cao cố thủ. Địch bắn xuống, nghĩa quân dùng ngay số súng vừa thu được của chúng, bắn lên. Tình trạng dằng dai hơn 2 giờ đồng hồ. Mấy chiến sĩ nghĩa quân tìm cách leo lên lầu cao trong đó có đồng chí Đỗ Văn Dây, Quận ủy viên, nhưng bị trúng đạn hy sinh. Đồn Hóc Môn Pháp xây từ năm 1885 bằng đá xanh, cao 16 mét, kiên cố như một pháo đài. Bình thường chỉ có một trung đội lính đóng giữ, nhưng sáng 22-11 địch vừa tăng cường một trung đội nữa mà ta không nắm được.

Cũng ngay thời gian này, nghĩa quân rầm rộ phát loa tuyên truyền vận động nhân dân trong thị trấn. Nhiều nhà mở toang cửa, bưng cơm nước ra cho anh em uống, hân hoan chào đón cách mạng.

Quân ta vũ khí thô sơ, một ít súng cướp được của địch nhưng chưa được tập luyện, địch đông lại có ưu thế trên cao bắn xuống, gây cho quân ta nhiều trở ngại. Cuộc chiến kéo dài đến gần sáng.

Được tin Hóc Môn bị cộng sản tấn chiếm do tên quận Thọ cầu cứu, Pháp vội cho 2 viên cò, 4 thanh tra, 3 sen đầm, 20 lính cảnh sát mã tà trang bị đầy đủ súng ống kéo từ Sài Gòn, Gia Định xuống Hóc Môn. Thi hành lịnh trên, chủ tỉnh Thủ Dầu Một cũng cho quân ứng cứu. Do sợ ta phục kích và nghĩa quân chặt cây cản đường chúng phải đi bộ nên gần sáng mới tới nơi.

Đến gần sáng quân ta vẫn chưa chiếm được trên lầu. Đồng chí Sáng ra lệnh rút lui trật tự rồi phân tán về các làng.

Trong cuộc khởi nghĩa chiếm quận lỵ Hóc Môn, nghĩa quân thu được 8/21 khẩu súng, 6/13 lưỡi lê của địch, diệt 3 lính, làm bị thương 6 tên. Phía ta, 2 nghĩa quân hy sinh trong đó có đồng chí Đỗ Văn Dậy, Quận ủy viên, 17 quần chúng bị thương, để lại hiện trường 9 dao găm, 11 dao bếp, 2 dao bầu thái thuốc, 1 rìu, nhiều băng rôn khẩu hiệu, truyền đơn.

Như vậy là ngay sát nách thành phố, nơi cơ quan cai trị đầu não của địch, nhân dân ta nổi dậy làm chủ quận lỵ gần 4 tiếng đồng hồ, mặc dù chúng được báo trước chuẩn bị và đề phòng.

Cũng vào 23 giờ ngày 22-11-1940, cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Hạ hoạt động tại chỗ, cắt dây điện thoại, đốn ngã cây chặn đường Hóc Môn đi Trảng Bàng, kéo đến nhà việc Tân Phú Trung, tước 4 súng, diệt 1 tên ngoan cố chống lại. Trên đường về quận lỵ Hóc Môn gặp lính đồn Bà Điểm đi tuần, thấy lực lượng quần chúng quá đông, chúng hốt hoảng bỏ chạy. Ta diệt tên đội Tước vì y bắn lại nghĩa quân. Nghĩa quân dùng cao su đốt cầu Bông rồi rút đi.

Nghĩa quân phát tán về các nơi thì cũng là lúc giặc Pháp thực hiện những biện pháp đàn áp phong trào.

Nam_ky_khoi_nghia-1

Liên tiếp các ngày 25, 26 và 27-11-1940, địch bắt đầu khủng bố đàn áp nhân dân rất dã man. Tại các làng Tân Mỹ, Bình Lý, Mỹ Bình, Nhị Bình, Hòa Phú thôn… là những nơi mà trước đây quân khởi nghĩa đã nổi dậy diệt tề, trừ gian, cướp đồn bót và các công sở, giặc Pháp cho lính đến bao vây bắt dân, đốt nhà, cướp tài sản, bắn giết đồng bào và bắt đi hàng loạt dân thường đem tra tấn, giam cầm trong các nhà tù.

Đầu năm 1941, chúng đưa lính Lê dương, tay sai có xe tăng vào các làng Vĩnh Lộc, Tân Đông Thượng, Tân Thới Nhứt, Bình Hưng Hòa, Xuân Thới Đông… bắn giết, bắt bất cứ ai chúng nghi có liên quan đến cộng sản. Chúng cho máy bay ném bom tại ấp Bế Đò, làng Tân Phú Trung vì chúng cho đây là nơi xuất phát của cộng sản nổi dậy. Chúng thực hiện khẩu hiệu: “cướp sạch, đốt sạch, giết sạch”, xóm làng tang thương, lòng căm thù giặc ngút trời trong lòng người dân Hóc Môn.

Chúng lập tại Hóc Môn ba trường bắn để xử tử các đồng chí lãnh đạo của Đảng. Nhiều lần bắn người chúng bắt dân và cả học sinh đến xem để uy hiếp tinh thần cách mạng của họ.

Chúng đã giết hại đồng chí Phạm Văn Sáng, Bí thư Quận ủy; Đặng Công Bỉnh tại trường bắn cạnh rạp hát cũ trung tâm quận. Trường bắn Giếng nước (Bệnh viện Hóc Môn bây giờ), chúng giết hại các đồng chí Hà Huy Tập, Tổng Bí thư; Võ Văn Tần, Bí thư Xứ ủy Nam kỳ; Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn; Nguyễn Hữu Tiến, Thành ủy viên. Tại trường bắn ngã Ba Giồng, địch bắn nhiều đợt có hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước hy sinh trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư; Phan Đăng Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng.

Giặc Pháp cố dìm cuộc khởi nghĩa Nam kỳ trong biển máu để tiêu diệt cộng sản, diệt cách mạng. Tấm gương bất khuất, xả thân vì nước vì dân, không sợ hy sinh của chiến sĩ khởi nghĩa Nam kỳ – trong đó có Hóc Môn – đã hun đúc thêm chí căm thù giặc cho người yêu nước còn sống tiếp tục sự nghiệp cao cả còn dang dở.

Địch còn thực hiện âm mưu đưa tin khởi nghĩa thất bại vào các nhà tù để lung lạc tinh thần cách mạng của người cộng sản. Tại Căng Tà Lài, đồng chí Trần Văn Giàu đại diện anh em tù, đứng trước súng ống lưỡi lê hàng chục lính giữ tù chực chờ bóp cò nhả đạn, trả lời đanh thép vừa tranh thủ lý tình… Cuối cùng, chủ tỉnh Biên Hòa (người Pháp) lặng lẽ cùng đám lính rút đi. Sau đó, đồng chí Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông vượt ngục trở về với đồng chí ngoài đời lo củng cố, gầy dựng lại lực lượng cách mạng.

Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn và Đô Lương, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ là “những tiếng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”. Đây là cuộc khởi nghĩa “có khẩu hiệu lập Chính phủ dân chủ cộng hòa, có những ca dao nói về tôn chỉ của quân đội nhân dân, có đội nữ du kích, đặc biệt chỉ duy nhất cuộc khởi nghĩa Nam kỳ có cờ đỏ sao vàng” (*). Khi Cách mạng tháng Tám thành công, lá cờ đỏ sao vàng trở thành cờ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 163-SL ngày 14-4-1948, thưởng Huân chương quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam kỳ. Sắc lệnh ghi: “Đội quân khởi nghĩa Nam bộ năm 1940 đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”.

Đảng Cộng sản Pháp gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương: Đảng Cộng sản Pháp luôn luôn mạnh mẽ đứng về phía các bạn! Đông đảo quần chúng lao động Pháp đứng về phía các bạn! Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những người chiến sĩ tự do hy sinh hồi tháng Mười Một trước họng súng liên thanh của Đờ-cu, Bô-đu-en, Pê-tanh… Chúng tôi kính cẩn cúi đầu chào những anh hùng đó, và trước hết, chào những anh chị em ruột thịt anh hùng đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương…

Di tích Ngã Ba Giồng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Sau thời gian xây dựng, nhân kỷ niệm 70 năm khởi nghĩa Nam kỳ (23-11-2010), Thành ủy, UBND TP.HCM, Huyện ủy, UBND huyện Hóc Môn đã khánh thành Khu tưởng niệm Liệt sĩ Ngã Ba Giồng tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Nơi đây thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ như đồng chí Lê Hồng Phong (hy sinh ở Côn Đảo), Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai… Khu tưởng niệm chào đón các đoàn cán bộ, học sinh, sinh viên đến tham quan, tổ chức kết nạp Đoàn, kết nạp Đảng và thành kính tưởng niệm các bậc cách mạng tiền bối đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân, nhất là vào các ngày lễ lớn trong năm.

Nguyễn Hải Phú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380

Ý Kiến bạn đọc