Văn học nước ngoài

Mưa trong lòng mẹ

Trong ba chị em gái Út Mận là đứa xinh nhất nhà. Không phải chị hát em khen! Nếu như ngày đó có thi người đẹp nông thôn, tôi chắc Út xứng vào hàng á hậu.
vậy mà, mấy năm vừa qua, nhiều trai làng như cậu Hà, cậu Tạo rồi đến cậu Đông, trước khi lên đường nhập ngũ, họ nhờ mai mối đến nói với mẹ xin đặt lễ trầu cau, chẳng hiểu sao mẹ tôi đều không nhận lời ai cả. với lý do con Út Mận còn non dại, chưa muốn lập gia đình… Thấy vậy không ai bén mảng đến nhà ngỏ lời nữa.
Bẵng đi mấy năm, đùng một cái mẹ tôi nhận lời gả Út Mận cho anh Hải là người chân thấp chân cao, mỗi bước đi phải nhờ vào cây nạng gỗ. Được cái Hải có nghề may vào loại giỏi trong làng. chị em tôi sững sờ. Họ hàng, xóm ngõ ai cũng ngạc nhiên!

Ngọn đèn của mẹ (1958) HS Xuân Tiên

Ngọn đèn của mẹ (1958) HS Xuân Tiên

Mẹ tôi sinh con một bề. Ba chị em tôi cách nhau 3 tuổi. Út Mận lên 3 thì cha tôi có giấy gọi nhập ngũ. Sáng hôm cha lên đường, mẹ kêu chúng tôi dậy sớm. Mẹ thắt nửa con gà luộc vàng ươm gói chung với gói xôi nếp cái hoa vàng thơm phức bỏ vào giỏ xách của cha. Gần sáng cả nhà ngồi ăn cơm. Tôi thấy mẹ nhìn cha đăm đăm. Một cái nhìn đầm đẫm nước mắt. Mẹ lặng lẽ gắp thịt gà cho chúng tôi và cha. Mẹ cầm bát cơm nâng lên đặt xuống mấy lần. Thấy vậy cha tôi bảo, mẹ conMận ăn đi chứ! chỉ đợi có vậy, nước mắt mẹ tôi giàn giụa. Buông bát, mẹ chạy vào buồng. Ba chị em tôi lật đật chạy theo. Không biết nói gì, cha tôi ngồi như phỗng đá.
Trời sáng, nhưng sớm nay sương dày, bầu trời bàng bạc màu chia ly. Mẹ bảo, hai chị em trông nhà, mẹ ẵm Út Mận đi tiễn cha một quãng. Tôi òa khóc, bám riết lấy cha, đòi đi theo. cha cầm tay tôi, bảo, con ở nhà cố gắng giúp mẹ và trông em, hết giặc cha về cha mua quần áo mới cho các con… Tôi lầm lũi theo cha. Trên đường đi, cha mẹ tôi lặng im. Sự lặng im trong thổn thức! Bỗng Út Mận líu lo: “cha đi đâu vậy cha? Bao giờ thì cha về? Khi về cha mua cho con con búp bê giống như búp bê của bé Na con cô Đào nhé”. cha tôi bảo, ừ cha sẽ mua cho con. Đến cổng làng, cha tôi nói, tiễn đến đây được rồi, ba mẹ con về đi… Mẹ tôi tháo chiếc kẹp tóc hình trái tim ở sau lưng dúi vào tay cha, bảo:
Anh nhớ mang nó bên mình, thấy chiếc kẹp tóc là anh thấy em, thấy trái tim em luôn ở bên anh. Nó sẽ giúp anh vượt qua gian khổ hiểm nguy, tránh bom cha tôi cầm chiếc kẹp tóc, quay gót. Bước chân cha như có cánh. Khi cha khuất khỏi rặng tre. Mẹ tôi khuỵu xuống, mái tóc xổ tung xõa sượi. Bao nước mắt kìm nén giờ tuôn ra như mưa. Ba mẹ con tôi ôm nhau nức nở.

Năm tôi học lớp 7, mẹ nhận được giấy báo tử của cha. chiếc ba lô dúm dó là di vật của cha tôi từ chiến trường gửi ra. Mẹ mở ba lô: một bộ áo quần bộ đội đã bạc màu, một tấm đắp, một thệp thư cha viết cho mẹ mà chưa kịp gửi, một chiếc lược được làm từ kim loại trắng, có khắc dòng chữ “Tặng mẹ con Mận”. Ngoài ra còn có cái hộp vuông nhỏ, mở ra là chiếc kẹp tóc hình trái tim, mẹ tặng cha lúc lên đường. Mẹ tôi gào khóc:
Trời ơi là trời! chiếc kẹp còn đấy mà người thì mất. Mất anh rồi, mẹ con em biết sống sao đây!
Mẹ ôm ba lô, vật vã khóc mấy ngày đêm. chiếc ba lô đầm đẫm nước mắt. Mẹ đau lòng đến mức nào? Tôi không hình dung ra. chỉ biết mẹ khóc đến nỗi nước mắt đỏ như màu máu pha. Bà con xóm ngõ phải đưa mẹ đi bệnh viện.
Sau đận ấy mẹ tôi lầm lì ít nói. Ít nói đến nỗi làm chị em tôi phát hoảng.
Tôi bảo buồn đau gì mẹ cũng phải nói để chúng con biết với, chứ cả ngày mẹ chẳng nói năng gì làm chúng con sợ lắm. Mẹ lặng lẽ xoa đầu chúng tôi, nhưng thẳm sâu trong mắt mẹ ẩn những lớp sóng ngầm, những cơn mưa… mà tuổi học trò như tôi chưa thể nào hiểu nổi.
Bao đau thương trong lòng mẹ rồi cũng lắng dần theo năm tháng. Mẹ âm thầm ngày đêm gánh nắng đội sương nuôi ba chị em tôi khôn lớn, nay đã đến tuổi dựng vợ gả chồng.
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang giai đoạn khẩn trương quyết liệt, cả nước lên đường. Thanh niên mười tám đôi mươi làng tôi lần lượt nhập ngũ. Số còn lại là lớp mới lớn 15, 16 kế cận và những người chẳng may bị tật nguyền, khiếm khuyết. vì vậy chuyện chồng con đối với chị em phụ nữ ngày ấy thật khó khăn. Nhưng theo lẽ tự nhiên, xuân về thì hoa nở. Rồi ai cũng lấy chồng. Điều thiệt thòi và trăn trở của chị em là ít có sự lựa chọn, đôi khi không có sự lựa chọn cho thật ưng, thật xứng một tấm chồng. Ba chị em tôi cũng nằm trong vòng xoay nghiệt ngã ấy.
chị Xuân đi làm dâu. về nhà chồng được hơn tuần trăng thì chồng chị đi bộ đội. Hôm tiễn chồng, chị khóc như mưa. Mẹ tôi không khóc, nhưng đôi mắt mẹ đỏ như màu máu pha. có đêm ở lại chơi, chị Xuân ôm tôi, thủ thỉ: “Em đừng có dại mà lấy chồng như chị nghe! Lấy chồng được mấy đêm đã phải ôm gối, vò võ một mình, buồn không chịu được. Thà không biết đàn ông thì thôi, biết vào nó làm cho mình như người mắc nợ. Đêm đêm khát khao, thương nhớ không sao ngủ được…”. Nằm giường bên hình như mẹ nghe thấy. Bà trở mình rồi buông tiếng thở dài hun hút trong đêm. còn Út Mận thì khúc khích cười. Một điệu cười vô tư, thật đáng ghét! Tôi định mắng nó mấy câu.
Thấy cảnh chị Xuân, chuyện chồng con đối với tôi không còn mấy hấp dẫn, lòng đầy lưỡng lự băn khoăn. Thấy vậy mẹ tôi bảo:
con gái như cây quýt cây cam, đến mùa thì phải ra hoa kết trái. Đừng có kén cá chọn canh, kẻo ế con ạ!
Tôi càu nhàu, lấy chồng như chị Xuân thà ở vậy còn hơn! Mẹ vuốt tóc tôi, nhỏ nhẹ:
Lấy chồng phải lựa đứa mạnh khoẻ, đẹp trai, chớ có lấy thằng hèn nhát, trốn nghĩa vụ quân sự hay tật nguyền…
Nghe mẹ nói, Út Mận cười khúc khích. Tôi đánh ánh mắt sang nó để tìm kiếm sự ủng hộ đồng tình, nhưng đôi mắt nó lại nhìn xuống như lẩn tránh, tuyệt nhiên không có biểu cảm gì! Tôi vô cùng thất vọng với nó.
Sự đời, dường như cái gì càng tránh nó càng vận vào mình. Rồi tôi cũng lấy chồng. Được mấy tháng trời thì chồng tôi nhập ngũ. Tôi khóc, khóc nhiều lắm! Thương con, mẹ ôm tôi vỗ về khuyên giải mấy đêm liền. Giờ tôi mới thấu hiểu những giọt nước mắt nhớ thương và nỗi lo lắng vô bờ của mẹ, của chị Xuân khi phải chia xa người mà mình yêu thương nhất. Tôi chợt nhận ra: trong ngôi nhà nhỏ bé của mình: mẹ, chị Xuân và tôi cùng chung một nỗi niềm, một cảnh ngộ mà chỉ những người trong cuộc mới thấm thía sự mòn mỏi chờ mong, nỗi âu lo thắc thỏm khôn nguôi. Tất thẩy tại chiến tranh! Bởi vậy, ngày đêm tôi thầm nhủ: mình có thể làm bất cứ việc gì, kể cả ra mặt trận đánh giặc để chiến tranh mau chấm dứt, để vợ chồng được sum họp bên nhau…
Thật trớ trêu! Lấy chồng ai cũng muốn có con để vỗ về ôm ấp, để nguôi bớt bao thương nhớ dằng dặc… vậy mà, tôi và chị Xuân đều không có lấy một mụn con, mặc dù ai cũng ở bên chồng cả tháng trời hạnh phúc. Mỗi lần về thăm, mẹ bảo:
chị em mày giống như đu đủ đực. Mẹ mong có đứa cháu để bế bồng nựng nịu, để có tiếng cười con trẻ cho vui cửa ấm nhà.
Tôi cười: “Mẹ yên tâm, mai mốt chồng con về, con sẽ sinh cho mẹ ba bốn đứa, mẹ tha hồ mà nâng niu ôm ẵm”. Bỗng ánh mắt mẹ chiếu sang tôi nỗi buồn sâu thẳm:
chiến tranh không thể nói trước được điều gì con ạ!
Tôi ôm mẹ, bật khóc: “Mẹ ơi, con khổ lắm!”. Mẹ vuốt tóc tôi, mắng yêu:
cha đẻ cô! Xa chồng mới có vài năm mà đã khổ lắm, khổ lắm! Mẹ mất cha con hơn chục năm nay, chẳng biết cha con và trời phật có thấu hiểu nỗi khổ đau của mẹ con mình?
Ngày tháng nặng nề trôi, tôi càng thấm thía: chiến tranh không chỉ nóng bỏng ngoài mặt trận mà nó còn nóng bỏng ngay trong lòng người ở hậu phương. Nóng bỏng ngay trong ngôi nhà của mẹ con tôi. Ngoài nhớ thương còn chồng chất bao lo âu. Nỗi âu lo ấy, ba mẹ con tôi không ai muốn nói thành lời mà dường như ai cũng nhận thấy, cũng thắc thỏm khôn nguôi.
Thế rồi điều không ai mong đã đến. chị Xuân nhận giấy báo tử của chồng đầu năm thì giữa năm tôi nhận giấy báo tử của chồng tôi. vậy là hai đứa con rể yêu quý của mẹ đã hy sinh ngoài mặt trận! Những tháng ngày này nhà tôi chứa chan nước mắt. Đôi mắt mẹ lại đỏ tựa máu pha. Mẹ an ủi chị em tôi:
Con người ta ai cũng có số cả. số sướng thì được sướng! số khổ phải chịu khổ! Không biết đâu mà tránh con ạ. với lại, đất nước đang có chiến tranh, không chỉ mẹ con mình mà mọi nhà đều phải gánh chịu bao mất mát, đau thương. Có than khóc buồn phiền mấy cũng chẳng giải quyết được gì. Chỉ làm cho mình, cho người thân và xóm ngõ thêm đau lòng, rối ruột. Mẹ đã mất cha các con, nay lại mất hai thằng con rể! Trời đất ơi! “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”, ứng vào mẹ con mình nghiệt ngã làm sao!
Mẹ lặng im như hóa đá. Tôi giật mình như gặp nàng Tô Thị trong cổ tích lạc đến nhà mình. Một hồi lâu mẹ trầm tư, thủ thỉ:
Các con ạ! Nghĩ cho cùng, trong chiến tranh, ai cũng không muốn mất mát thì mất mát dành cho ai? Không mất mát hy sinh thì đâu phải chiến tranh? Không mất mát hy sinh làm sao có ngày đoàn tụ…
Nghe mẹ nói, lòng chị em tôi cũng dịu bớt đôi phần.

Út Mận có vẻ đẹp mặn mà thầm kín. Hai mươi tuổi Út như bông hồng nở không gặp mùa xuân. Có lẽ vì thế mà trong ánh mắt Út đượm vẻ buồn ngơ ngác. Anh mắt ấy luôn nhìn xuống. “Người ta bảo con gái nhìn xuống thì tính nết nhu mì, cam chịu!”. Nghiệm vào Út quả không sai. Tôi có cảm giác Út hiền như không thể hiền hơn. Từ nhỏ đến lớn chưa khi nào Út cãi lại mẹ. Ngay cả việc mẹ gả Út cho anh Hải, Út chỉ ậm ừ, chẳng gật mà cũng chẳng lắc. Tôi bảo mày là đứa xinh nhất nhà mà cam chịu lấy Hải thọt, anh ấy hơn mày cả chục tuổi, uổng phí cả đời con gái. Nó cười nhỏn nhẻn: “Mẹ bảo sao em nghe vậy. Em chấp nhận để mẹ vui. Lấy chồng như hai chị làm sao có cháu cho mẹ ẵm mẹ bồng? với lại, mẹ và hai chị đã chịu mất mát, đau khổ quá lớn rồi, để em chịu một chút thiệt thòi cũng không sao, so với mẹ và hai chị có thấm tháp vào đâu! Đó cũng là lẽ công bằng của số phận dành cho em…”. “Nó nói mà ánh mắt cứ nhìn xuống. Dường như mặt đất mới là nơi ươm trồng ước mơ và hạnh phúc của nó! Tôi nhìn cái mặt nó thấy ghét”. Ghét cái bản mặt thiếu khát vọng vươn lên. Nhưng trong sâu thẳm đáy lòng, giận nó bao nhiêu tôi lại càng thương nó bấy nhiêu. Chiến tranh! Trai làng lần lượt ra mặt trận. Đặng chẳng đừng nó mới cam chịu lấy một người như vậy. Bằng trực giác của phụ nữ, tôi biết nó cũng dằn vặt khổ tâm, chứ có sung sướng gì đâu! Là con gái ai chẳng muốn lấy chồng cho xứng đôi phải lứa.
Bảo Út Mận không xong, tôi và chị Xuân khuyên mẹ: “Chẳng hiểu sao ngày trước, mẹ thường dạy chúng con, lấy chồng phải lấy đứa nào khoẻ mạnh đẹp trai, để còn vào Nam đánh giặc, để mở mày mở mặt với dòng họ, với xóm làng. Chứ lấy thằng trốn tránh nghĩa vụ hay tật nguyền, vợ chồng ru rú ở nhà, chỉ có nước lấy mo mà che mặt”. Mẹ tôi thở dài! Tiếng thở dài làm tôi chột dạ. Mẹ trầm ngâm một lúc rồi bảo:
Ngày trước khác, giờ mẹ nghĩ khác. Chị em con có hiểu không? Lòng mẹ đã hóa đá ba lần, chị em mày muốn mẹ hóa đá thêm lần nữa sao? Mẹ không muốn cả bốn mẹ con mình góa bụa! Mẹ mong có đứa cháu bồng bế cho khuây khỏa nỗi lòng. với lại mẹ nhận lời người ta rồi. Út nó cũng đã chịu rồi. Thôi, chị em mày đừng có khêu đèn gợi bấc, so cây đọ trái. Út nghe nó buồn nó tủi.
Do cố chấp, tôi nghĩ còn nước còn tát, phải kiên trì. Tôi nhận thấy, lời khuyên của chị em tôi như “bụt chùa nhà”. Tôi đến nhờ bà Hoa là bạn thân của mẹ đến khuyên nhủ, may ra mẹ tôi mới chuyển lay, đổi ý. Sau khi nghe bà Hoa phân giải, mẹ tôi rầu rầu:
Có thương bà mới nói. Nhưng bà nghĩ coi, chiến tranh không biết đến bao giờ mới dứt? Thanh niên khỏe mạnh lần lượt lên đường. số còn lại bị dị tật, con gái đứa nào cũng né tránh, chê bai! Chẳng lẽ để mấy thằng khiếm khuyết ế vợ suốt đời sao? với lại người ta khuyết tật chân tay chứ có khuyết tật cái đầu đâu mà ngại. Con tôi, xem ra mỗi đứa đều có phúc phận của mình, không đứa nào giống đứa nào bà ạ.
Bà Hoa bảo, đành rằng thế, phúc phần đâu chưa thấy, tôi dám chắc bà gả con Út cho thằng Hải, nó sẽ khổ. Đời chị em mình đã khổ, không lẽ để con cái khổ theo? Mắt mẹ tôi ngân ngấn:
Ở đời có người mẹ nào lại không thương con! Nhưng tôi thương con Út theo cách của tôi. Dẫu có khổ mấy nó cũng còn may mắn hơn hai chị nó.
Bà Hoa bỗng gắt lên: Tôi nói bà đừng giận. Trong chuyện này hình như bà hơi cực đoan, bảo thủ. Mẹ tôi giãi bày:
Như bà đã biết, tôi gả con Xuân, con Mai (tên tôi) cho hai thằng khỏe mạnh đấy chứ!
Đẹp trai đấy chứ! vậy mà giờ đây chúng nó thành vợ liệt sỹ, thành góa bụa cả. Lòng tôi vụn vỡ như mảnh thủy tinh. với phụ nữ không nỗi đau nào bằng nỗi đau mất chồng, không nỗi buồn bằng nỗi buồn mất con! Trái tim tôi trước kia chỉ có một mũi kim, nay có tới ba mũi kim ghim vào. Sức người sao chịu thấu! Tôi sẽ không thể đứng vững nếu như có thêm mũi thứ tư. Con Út lấy thằng Hải, nó sẽ sinh con. Có đứa cháu để tôi ẵm tôi ôm, đó là điều mong ước, nguồn an ủi, động viên tôi mà vàng bạc cũng không thể nào mua được. Bà và các con có hiểu cho tôi không? với lại, chúng sinh con đẻ cái mới có người tiếp bước ra chiến trường đánh giặc. Chứ góa bụa như tôi như hai chị nó thì lấy người đâu ra trận? Lấy người đâu mà đánh giặc?
Mẹ tôi nói muốn hụt hơi. Giọng nghèn nghẹn trong cổ. Bất chợt mẹ tôi tới ban thờ lấy cái hộp vuông nhỏ. Mẹ mở hộp lấy ra chiếc kẹp tóc hình trái tim đưa cho mọi người coi.
Mẹ lặng lẽ thắp ba nén nhang đến trước bàn thờ cha tôi, thì thầm:
Cái kẹp tóc hình trái tim tôi trao ông vẫn còn đây mà người thì mất! sống khôn chết thiêng, ông về mừng cho Út Mận nhà mình đi lấy chồng. Tôi gả nó cho người khuyết tật. Nếu có trái ý ông, ông đừng buồn, đừng giận. Ông bỏ qua cho tôi nhé! Lòng tôi như dòng sông quê, dẫu có bên lở bên bồi, dẫu có lúc trong lúc đục, nhưng dòng không bao giờ đổi hướng, ông ơi!
Khói hương ngan ngát ngậm ngùi, khiến cả căn nhà rưng rưng. Tôi ôm chầm lấy mẹ, nức nở: “Con xin lỗi, giờ con mới hiểu lòng mẹ. Mẹ ơi!”.

Ý Kiến bạn đọc