Tản văn

Mùa đào lộn hột

 

Nó có tên “khai sinh” là điều nhưng còn có tên gọi khác cũng rất phổ biến là đào lộn hột. Tên gọi này theo tôi hiểu bắt nguồn từ việc nhầm lẫn. Thực ra, vì cái cuống phình to như hình trái lê, trái đào nên người ta thường có cảm tưởng phần cuống là quả, còn phần quả đính vào cuống là hạt nên gọi đào lộn hột. Đó là kiến thức khoa học, tôi biết, tôi hiểu. Nhưng… tôi vẫn thích gọi đào lộn hột hơn. Vì nó có liên quan đến tuổi thơ tôi.

Tuổi thơ tôi có buổi đi học, buổi bắt đuôi bò qua sông. Bên đó có một vườn đào ven mép rừng là thiên đường của lũ chăn bò. Sướng quá mà. Tiếng là chăn chứ có chăn dắt gì đâu. Liền kề với vườn đào là những bãi cỏ thênh thang. Bò được tự do ăn rong còn những “khổ chủ” thì yên tâm phóng vắt vẻo trên những cành đào.

So-541--Anh-minh-hoa---Mua-dao-lon-hot---Anh-1

Ôi chao, cái vườn đào rộng mênh mông, bạt ngàn. Mùa đào chín mặc sức phình bụng mà ăn. Trái đào la liệt, lắc lỉu trên cây, chúng tôi cứ ăn, kiểu nào cũng được, miễn là chỉ cần dồn hạt lại đem nộp cho ông chủ. Của nhiều nên không tiếc, mỗi trái cắn một miếng rồi vứt chạch xuống đất. Rồi còn “trò” cắn bập trái đào chín tươm nước rồi ném qua ném lại. Kết quả áo đứa nào cũng cứng đơ, đen thui đen thủi. Má la, mấy trái đào báo đời, hư hết áo quần.

Tuổi thơ tôi là vậy. Ngày nào cũng ẩn nấp bên vườn đào, riêng mùa hè sáng xách gô cơm lùa bò đi, sẩm tối lùa về cùng một túm đào chín cho em gái ở nhà. Kể cũng vui, được thỏa sức vui chơi với những trái đào mọng nước. À, quên kể chuyện đi lượm (trộm) hạt đào dưới gốc cây đem vùi trong đống lửa. Chao ơi, thơm ngây ngất. Vừa lùi vừa mắt dơi mắt chuột canh ông chủ. Khổ nỗi, mùi thơm của hạt đào lùi trong lửa than là thứ hương thơm khó lẫn. Sau này má nói không phải ông Sáu, chủ vườn đào không biết chuyện ăn cắp hạt đào nhưng ổng bảo tuổi thơ chăn bò chỉ có vậy mới vui nên không nỡ…

Nhớ có lần, tôi ngồi bên vườn đào, khóc. Tủi cho cảnh chủ nhật bạn bè đi picnic còn mình phải đội nón, mặc áo bà ba xấu xí vì dính mủ đào giặt không ra đi chăn bò. Hôm đó, chú Sáu đã kể cho tôi nghe sự tích đào lộn hột. Rằng một ngày kia khu rừng có hội, từ sư tử đến rắn rết, côn trùng đều có mặt. Lúc đó, bên ngoài rìa rừng, có một trái đào, hạt của nó từ bên trong thầm ao ước: Ước gì ta có thể thoát khỏi thế giới đen tối này để ngắm nhìn mọi thứ. Vừa hay có cô Tiên đi qua, nghe được điều ước nên đã biến thành sự thật. Suốt buổi lễ hôm đó, hạt đào ngạo nghễ treo lủng lẳng trên trái đào như một cái ngai. Từ trên cao, hạt đào có thể nhìn xuống và nhìn ra phía xa xa. Hạt đào sung sướng, van nài cô Tiên đừng đưa mình vào bên trong u tối nữa. Và điều ước đã thành sự thật. Nhưng ngay sau đó, khu rừng lại yên tĩnh. Rồi nắng gió, rồi bão bùng, sấm chớp. Hạt đào lại ước được nằm phía trong, nơi đó u tối, nhưng bình yên, không phải sợ sệt. Nhưng không thể trở về lại nơi ban đầu được rồi. Vì cô Tiên đã đi mất.

Bài học từ trái đào lộn hột là bài học nhân sinh đầu tiên của tôi. Khó khăn lớn nhất của cuộc đời có lẽ là biết chấp nhận chính mình. Chấp nhận tất cả những gì mình có. Và từ sau lần ngồi khóc đó, tôi đã vui vẻ buổi đi học buổi chăn bò, mãi cho tới khi trở thành cô giáo. Bây giờ, tôi vẫn tự hào khoe mình đã có “thành tích” 15 năm đi chăn bò bên vườn… đào lộn hột.

Nguyễn Thị Bích Nhàn
(Đông Hòa – Phú Yên)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 541

Ý Kiến bạn đọc