Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Mù mờ và hội nhập cùng GS. Phong Lê

(Tiếp theo số báo 550, ngày 13-6-2019)

 

Những luận điểm dưới đây của GS. Phong Lê, theo chúng tôi, là ảo tưởng và hình thức.

Ông cho rằng trong xã hội hiện đại mỗi dân tộc cần giữ cho được cái riêng của mình, vẫn cần được là mình… đó là những nét riêng, những đặc sắc riêng không lẫn lộn với ai…

Mỗi dân tộc cần được là mình trước hết là vấn đề chính trị, không đơn thuần là bản sắc văn hóa. Vì muốn được là mình trước tiên phải có độc lập tự do. Có độc lập tự do rồi mới có những cái khác được. Dân tộc bị nô lệ thì văn hóa cũng mất tự do (Hồ Chí Minh).

Những nét riêng, những đặc sắc riêng không lẫn lộn với ai… trong thế giới hiện đại tuy cũng có nhưng rất hiếm hoi, như cây đàn bầu hay đàn tơ-rưng (Tây Nguyên). Và thiên về hình thức, như y phục. Những cái riêng tiên thiên như sắc tộc, thì không cần giữ nó vẫn còn, mà cố giữ cũng không được. Ngày nay người Việt Nam dùng âu phục là phổ biến. Nhưng dù complet cà vạt hay quần bò áo phong… thì nó vẫn là người Việt. Trong xu hướng hôn nhân đa sắc tộc hiện nay thì muốn giữ cho mình được là mình cũng khó. Đã và đang có nhiều người có sắc tộc khác nhau nhưng có gốc là người Việt. Quan niệm của GS. Phong Lê là ở những thập kỷ 6 thế kỷ trước trở về trước. Khi giao lưu quốc tế mở rộng cả kinh tế, văn hóa, chủng tộc (hôn nhân đa sắc tộc) thì giá trị sẽ nổi lên hàng đầu. Khi một người Việt Nam tạo nên được một giá trị có tầm thế giới thì đó chính là bản sắc Việt Nam rồi. Nhạc Sô-panh do Đặng Thái Sơn thể hiện. Nhạc lý nhạc khí phương Tây qua tài năng của Văn Cao hay Trịnh Công Sơn thì giá trị đó cũng đồng thời là đặc sắc Việt Nam, bản sắc dân tộc Việt Nam. Thơ Mới của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu chính là những đặc sắc dân tộc. Cũng thế, trong văn xuôi, như Văn Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… Súng Ba-dô-ka hay D.K.Z không giật của Trần Đại Nghĩa, xuồng phá ngư lôi được điều khiển của Vũ Đình Cự… là những nét riêng độc đáo, là bản sắc rất Việt Nam. Vì thế, chúng tôi cho rằng những giá trị khoa học và nhân văn do người Việt Nam sáng tạo cũng chính là bản sắc dân tộc. Cách hiểu này hy vọng tránh được cách hiểu hình thức, máy móc (cái riêng, nét riêng, đặc sắc riêng không lẫn lộn với ai…).

GS. Phong Lê cho rằng văn học Việt Nam thế kỷ XX “quả có những đóng góp thật lớn và quý cho cộng đồng dân tộc và văn hóa dân tộc. Nhưng cũng đã đến lúc cần tính đến những đóng góp cho nhân loại. Cần nâng tiếng nói dân tộc được kết tinh trong tiếng nói văn học ra thế giới, và đó là công việc của các nhà văn. Tự hào dân tộc là chính đáng, nhưng thật sự xứng đáng để tự hào là khi nó có đóng góp cho nhân loại” (Văn học trên hành trình của thế kỷ XX. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1997. Trg.368).

Đây là quan điểm không khoa học, rất dễ tự huyễn hoặc và huyễn hoặc người khác. Nhất là những người hám danh, huyễn tưởng.

Con người trước hết phải giải quyết những nhiệm vụ của mình, của gia đình và cộng đồng, của dân tộc mình… Tầm mức giá trị mà nó sáng tạo được là do lịch sử quy định. Nếu cứ sắp đặt trước như GS. Phong Lê thì chẳng khác gì kiểu thầy bói nói mò. Nếu cái mà GS chắc mẩm sẽ đóng góp cho nhân loại nhưng nhân loại người ta không tiếp nhận đón nhận thì sao? Như thế có phải là chuyện Ba Voi… không?

Chu Văn An hay Nguyễn Trãi trước hết giải quyết nhiệm vụ của dân tộc mình. Đâu nghĩ đến sẽ đóng góp cho nhân loại. Nguyễn Du viết trước hết từ tâm sự của ông, từ trái tim của ông, từ sự phẫn nộ của ông trước thế thái nhân tình lúc ấy. Ông không hề có dự định hay hy vọng nó sẽ đóng góp cho nhân loại như thế nào. Nhân đây cũng xin thưa với GS. Phong Lê và nhiều quý vị vẫn nghĩ rằng câu “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như… (Sau hơn ba trăm năm nữa thiên hạ ai là người khóc Tố Như) rằng Tố Như đã nghĩ lâu dài về sau, tận hơn ba trăm năm. Chúng tôi cho cách hiểu của Đặng Minh Phương trong bài Nguyễn Du đến Hàng Châu (Nẻo gần nẻo xa. NXB Văn hóa – Thông tin. 2010. Trg.126) là có lý có tình, thuyết phục hơn cả. Nguyễn Du đến Hàng Châu (khoảng 1813) đọc Tiểu Thanh ký, cảm thân phận nàng mà viết bài Độc Tiểu Thanh ký (Đọc truyện Tiểu Thanh). Từ khi Tiểu Thanh chết đến Nguyễn Du là 300 năm, ngẫm đến 300 năm sau kể từ lúc viết Độc Tiểu Thanh ký, thiên hạ có ai khóc Tố Như không. Ba trăm năm sau… là từ liên tưởng đến nàng Tiểu Thanh, không phải Nguyễn Du chủ động nghĩ đến thân phận mình sau 300 trăm.

Trong lịch sử hiện đại, có những vấn đề mà chủ thể lịch sử thấy trước sự nghiệp của họ có tầm ảnh hưởng đến nhân loại, nhưng trước hết phải giải quyết cho dân tộc, trước hết vì dân tộc:

Ta vì ta ba chục triệu người
Còn vì ba nghìn triệu trên đời.
(Tố Hữu)

Vì thế mà Tố Hữu tâm niệm:

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương.

Chúng tôi nói nhiều về điều này, vì gần đây có không ít nhà văn lớn tiếng rằng phải đo văn học Việt Nam bằng thước đo của thế giới, phải lấy mẫu mực của văn học thế giới mà soi vào văn học Việt Nam. Cần phải biết thế giới họ đang làm chuyện thơ văn như thế nào để rút tỉa những tinh hoa của họ, nếu có thể phù hợp với mình. Song việc đó hoàn toàn khác với chủ định “dàn xếp tỷ số” về giá trị dân tộc và nhân loại. Suy nghĩ của GS. Phong Lê làm chúng tôi liên tưởng đến câu tục ngữ “Ốc chưa xong việc nhà ốc”… Chúng tôi nghĩ, nếu nhà văn khi cầm bút là suy nghĩ đến “đóng góp cho nhân loại” thì chỉ có thể viết ra những thứ na ná như nhân loại, không còn là sáng tạo theo đúng nghĩa.

Như đã nói trên, đang có tình trạng mù mờ và “mù mờ”. Trường hợp như GS. Phong Lê viết, là mù mờ chân thành, trung thực, do sự nhận thức. Còn “mù mờ” là cố tình mù mờ, mù mờ lấy được. Cuối cùng là giải quyết bằng “nghiêm khắc tự kiểm điểm”, “nghiêm khắc rút kinh nghiệm”, tất cả đều do “hạn chế trình độ năng lực”…

GS. Phong Lê đưa ra một thực tiễn do còn mù mờ, mắc mớ trong nhận thức và thực tiễn về bản sắc dân tộc là tình trạng lễ hội và sự quản lý của chính quyền. Chỗ này GS. Phong Lê đã nhầm về cơ bản. Đây không phải do nhận thức mà do cơ chế thị trường, kinh doanh, lợi nhuận đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống. Lễ hội xưa còn nhiều hơn ngày nay vì làng nào cũng có, vùng nào cũng có. Mỗi lễ hội là dịp bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ công đức của các bậc linh thiêng, có công cứu đời giúp dân. Dân làng tiến hành lễ hội với sự trong sáng. Còn ngày nay nó đã biến hình biến chất đi rồi. Chủ yếu là kinh doanh kiếm lợi. Cùng đó là sự mê muội. Dâng lễ để cắt sao giải hạn, cúng vong, cầu xin tai qua nạn khỏi… Bàn công đức, hòm công đức tầng tầng lớp lớp từ ngoài vào trong từ trên xuống dưới… Ấy là cơ chế thị trường, quan hệ thị trường nó đã nhập vào văn hóa tâm linh rồi. Đi tìm bản sắc văn hóa bản sắc dân tộc ở đó thì quả là thật như đếm! Ví như nói Du lịch tâm linh thì thực chất là kinh doanh tâm linh. Mục tiêu của du lịch là nghỉ ngơi vui chơi. Vừa phải cũng được. Nhưng ngày nay đời sống khấm khá. Nhà hàng khách sạn phục vụ khách du lịch tận tình chu đáo lắm, từ A đến Z! Khách say sưa cuộc rượu đêm vui hôm sau lại vào thắp hương lễ bái thì nó sái lắm. Tâm linh đúng nghĩa đâu có thế. Xưa hành hương đến chùa là phải trang nghiêm lắm. Phải trai giới thanh tịnh… Đâu có như bây giờ.

Đến những chốn linh thiêng nhất mà kinh doanh, thị trường còn len lỏi vào được thì còn nơi chốn nào có thể nằm ngoài vùng phủ sóng của cơ chế thị trường?

Nhận diện các dạng mù mờ là cần thiết để đi đến vấn đề quan trọng hơn: Làm sao thoát ra khỏi trạng thái mù mờ?

Nếu do nhận thức thì phải trở lại những tri thức cần thiết. Bàn về tính dân tộc, về bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ từ 1943 với Đề cương văn hóa Việt Nam cho đến nay chắc chắn là rất nhiều. Rất nhiều công trình của tác giả, nhóm tác giả, tập thể tác giả hay của các Viện, Trường, Trung tâm văn hóa và KHXH&NV… Nhưng tựu trung lại thì Văn hóa Hồ Chí Minh chính là cẩm nang cho mọi lĩnh vực ở nước Việt Nam hôm nay. Sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh thì giải quyết được mọi trở ngại trong đời sống xã hội, từ vĩ mô đến vi mô, từ tập thể cộng đồng cho đến từng cá nhân. Trong Tuyên ngôn Độc lập (1945), Người đã vạch rõ thực dân Pháp dùng rượu và thuốc phiện để làm cho nòi giống ta suy nhược. Vậy thì “bảo vệ sự phát triển tích cực của các doanhh nghiệp sản xuất rượu bia” (Dương Trung Quốc) có phải là một sự “mù mờ” không? Ví dụ như thế.

Với GS. Phong Lê, chúng tôi thấy ông nên trở lại cách hiểu về Bản sắc dân tộc trong văn hóa mà ông đã đưa ra năm 1996 và nhắc lại năm 2009, như đã dẫn ở bài trước. Và công trình Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hành trình thơ văn hành trình dân tộc (2006) của GS đã được đánh giá cao. Từ đó tự hiểu vì sao mình bị mù mờ thì sẽ thoát ra khỏi sự mù mờ.

Ngoài các tài liệu về bản sắc văn hóa dân tộc, về Văn hóa Hồ Chí Minh như đã nói, xin giới thiệu với GS cuốn Hạnh phúc đích thực của tác giả Hoàng Anh Sướng (NXB Phương Đông – 2015) được nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, đánh giá như sau: “Đây là cuốn sách của mọi người, mọi nhà. Một cuốn sách rất thú vị và có giá trị lớn trong đời sống đương đại” (Lời giới thiệu. Sđd. Trg.20).

Tôi rất tán thành với đánh giá của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Mong GS và bạn đọc quan tâm đến văn hóa nói chung và văn hóa dân tộc cùng tiếp cận các văn bản trên.

Hà Nội, 4-6-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 551

Ý Kiến bạn đọc